Tuesday, June 23, 2009

Nhớ về Trường Sơn


Từ trước đến nay đã có nhiều sách, bài được viết dưới thể loại Hồi Ký về các trận đánh lẫy lừng của các Quân , Binh Chủng thuộc QLVNCH; các trận đánh và các địa danh đã dược ghi vào chiến sử của VNCH và các nước khác trên thế giới; những chiến trận này được thực hiện bời những đại đơn vị , ít nhất cũng là cấp Đại đội. Nhưng rất ít bài mô tả những cuộc hành quân cấp toán ( 4,6 người) của các Toán Trinh Sát Tiểu Khu, Trung Đoàn, Sư Đoàn BB, Sư Đoàn Nhẩy Dù, TQLC, các toán Delta của LLĐB.... và lại càng hiếm hoi hơn là các Toán Lôi Hổ, thuộc Sở Liên Lạc và Sở Công Tác trực thuộc Nha Kỹ Thuât/TTM. Các Toán này âm thầm hành quân len lỏi trong các Căn Cứ Địa của Cộng Sản bên kia biên giới của Việt Nam, thuộc vùng dất Lào và Cam Bốt, giũa rừng già heo hút của dãy Trường Sơn chập chùng. LẺ LOI và ÂM THẦM, đó là tính chất hành quân cũa các người lính Biệt Kích có tên gọi nghe hiền lành : NHA KỸ THUẬT. Ngoài ra còn các chàng Người Nhái Biệt Hải thuộc Sỏ Phòng Vệ Duyên Hải và các bậc đàn anh thuộc “Sở Bắc” (SB) đã từng nhảy xâm nhập ra đất Bắc vào những năm dầu của thập niên 60, điển hình như “ Người tù kiệt xuất : Đ/Úy Nguyễn hữu Luyện “

Hầu như ít người biết đến cái tên NHA KỸ THUẬT. Tên gọi này nghe rất hiền lành như một đơn vị lo về cơ khí, máy móc hoặc về ngành nghề có tính cách chuyên môn. Hoặc nếu có người biết đôi chút thì họ đều nghĩ rằng đơn vị Nha Kỹ Thuật thuộc Phòng 7 TTM. Tất cả những hiểu biết ít ỏi này cộng thêm với những giai thoại được thổi phồng tạo thành một huyền thoại cho các chàng BIệt Kích này.

Bài này được viết theo lời đề nghị của Ban Biên Tập báo LÝ TƯỞNG của Không Quân VNCH, tiếp theo một bài dược tôi kể lại về một lần tôi bị SA.7 bắn rớt ở mặt trận Quảng Đức vào cuối năm 1973, cũng đăng trên tập san này , số 3/2004. Phi vụ này tôi bay cùng với Pilot Bắc Đâu 65 trên phi cơ L.19 của PĐ118/SD6KQ

Những chi tiết liên quan đến các đơn vị thuộc Nha Kỹ Thuật trong bài này được tôi trình bày theo những hiểu biết sẵn có của cá nhân tôi cũng như những mô tả các lần nhảy toán là do chính bản thân tôi tham dự. Những thiếu sót ngoài tầm hiểu biết của tôi, xin các Niên Trưởng cũng như các chiến hữu cùng chung đơn vị bổ sung thêm để xóa tan những hiểu biết lệch lạc về đơn vị Nha Kỹ Thuật.


@ @ @
Sau 13 chuyến nhảy toán, tôi được Trung Tá CHT/CD2XK gọi lên và chuyển tôi qua đi bay với chức vụ là SQ Tiền Không Sát. Sở dĩ có vụ này là vì trong thời gian đi toán, tôi thường hàng đêm la cà ở Câu Lạc Bộ dể nhậu nhẹt với bạn bè và đùa với mấy em chiêu đãi cho vui. Trong số bạn bè này có vài người Mỹ, họ cũng là quân nhân của Liên Đoàn 5 LLĐB Hoa Kỳ mà ngành hoạt động của chúng tôi là một phần trong kế hoạch của Mỹ dưới tên là MACV-SOG (Military Assistant Command Vietnam of Studies & Observation Group ). Trong lúc giao tiếp hay vui chơi nhậu nhẹt, tôi cũng talk líp lơ với họ nên có một vài SQ biết được, cho nên khi đơn vị cần 1 SQ TKS, anh này đã đề nghị tôi. Thế là từ đó tôi chấm dứt “nghề” nhảy toán, chuyển qua “nghề” bay bổng.
Ngày bắt đầu nghề mới, tôi đi bay với 1 SQ /TKS đương nhiệm bằng chiếc U.17 của PĐ.110. Anh này hướng dẫn cho tôi cách nhìn trên địa hình và bản đồ, cách liên lạc vô tuyến với hệ thống vô tuyến trên phi cơ ( FM, UHF, VHF ), rôi nào là đồng hồ cao độ, la bàn điện, la bàn từ, nào là đồng hồ tốc độ, đồng hồ RPM, chân trời giả với viên bi ....ôi thôi tùm lum tà la. Và sau 1 chuyến thử gió, khi đáp xuống tôi cầm một bọc đầy ắp Làm sao mà chịu nổi khi ngồi trên phi cơ cứ hết xoay bên này rồi lại ngó bên kia đến chóng mặt rồi các bố pilot cứ chống cánh quay vòng vòng để tôi quan sát; tôi thấy nghề này coi bộ không khá với tôi rồi đó. Tối hôm đó tôi mệt nhoài vì nôn ọe tới mật xanh, mật vàng.

@ @ @

Thời gian “huấn luyện”, tôi phải theo các “thầy” đi bay với U.17 để tập liên lạc với toán dưới đất, tập chấm tọa độ khi toán cần xác định điểm dứng, rồi trong những chuyến thả và rước toán, tôi monitor trên vô tuyến để biết cách thức điều khiển và hướng dẫn phi cơ ( Trực thăng, gunship, Cobra, khu trục ) khi thả hoặc rước toán. Từ trên cao nhìn xuồng thấy cảnh thả hay rước toán với những hoạt động nhịp nhàng của phi cơ O.2, Cobra, trưc thăng H.34 khiến tôi liên tưởng tớithời gian trước đây, khi tôi đươc thả chắc cũng giống như thế này vì bài bản thì cũng như nhau mà thôi. Từ trên cao, tôi nhìn thấy Cobra bay lượn vòng quanh bãi ( LZ ) với cánh quạt một bên dược sơn trắng cho dễ quan sát, rồi sau đó chiếc H.34 chở toán tiến theo trục để vô bãi rồi đáp xuống. Tôi dặt ống nhòm nhìn thấy toán nhảy ra chạy vô bìa rừng v.v ... Lúc đó tôi có cảm giác thật an toàn khi ngồi trong phi cơ trong khi các bạn bè bắt đầu cho 7 ngày lặn lội trong rừng. Qua liên lạc giưa toán và phi cơ, tôi nghe giọng nói của toán trưởng báo cáo toán xuống đất an toàn bằng một giọng nói chỉ phát bằng hơi gió.

Sau vài ngày huấn luyện như thế, tôi dược chuyển qua bay với L.19 (O.1) cũng của PD110, có nghĩa là chỉ có tôi và Pilot và cũng có nghĩa là tôi phải làm việc một mình với nhiệm vụ là liên lạc với các toán hành quân ở những mục tiêu gần căn cứ xuất phát vì L.19 đâu có khả năng bay xa. Dạo này tôi đã quen quen nên không bị say sóng nữa, nhờ đó cảm thấy đỡ mệt vì “ rải truyền đơn “. Tuy thế, lúc nào đi bay tôi cũng phải thủ một túi giấy.cho chắc ăn.

Cũng nói sơ qua về binh chủng của tôi một tí !

Thiệt ra tôi cũng không hiểu danh tứ “Lôi Hổ” từ đâu mà có và có từ bao giờ, chỉ biết rằng khi tôi về đơn vị thì biết là mình đang ở Lôi Hổ và tôi cũng hãnh diện khi mọi người biết tôi là Lôi Hổ. Nghe tên thì có vẻ dữ dằn, ghê góm thật cộng thêm những huyền thoại : nào là trước khi đi nhảy được lãnh tiền tử trước, nào là lính này có nhiệm vụ nguy hiểm và gan góc là : “ chó chạy đường mòn”, có nghĩa là khi vô căn cứ địch, tụi tôi có nhiệm vụ chạy trên đường mòn để dụ địch xuất hiện rồi kêu máy bay tới dội bom, nào là lính loại này “ Sáng ăn phở ở Hà Nội, chiều uống cà phê ơ Saigon “ v..v.... Ôi thôi đủ thứ huyền thoại được tạo nên bởi những người xung quanh công với các bố lính Biệt kích “ nổ “ thêm cho ra vẻ ta đây, rồi các đơn vị bạn không biết nhiều về tụi tôi lại cho chúng tôi thuộc “ Phòng 7 “ của Bộ TTM, có vẻ như là “ phản gián “. hoặc là điệp viên 007 không bằng. Mà quả thật tụi tôi là “ gián diệp “ thật vì với VC, chúng gọi tụi tôi là “ điệp “, có nghĩa là gian diệp mỗi khi toán tụi tôi dược thả xuống. Tôi cũng có góp phần trong vụ “nổ” này: Hồi mới ra trường, trong một lần về phép Saigon sau 1 chuyến hành quân, tôi đi chơi bị 1 toán tuần cảnh hỗn hợp chận xét giấy tờ dọc đường, trong đớ có vài ba chàng SVSQ Thủ Đức. Tôi bèn không đưa Chứng chỉ tại ngũ hay Căn cước quân nhân gì cả, mà đưa cho các chàng này coi thẻ toàn tiếng Mỹ, trong dó có tên, cấp bậc bằng tiếng Anh và một dọc số Serial Number, cuối hàng số này là 3 chữ CIA, thế là các chàng nhìn tôi vơi vẻ khâm phục.Thật ra tấm thẻ này chỉ là thẻ cấp phát cho các Biệt kích quân để ra vào cổng doanh trại mà thôi, tôi lên văn phòng Đại Đợi Thám Sát của Mỹ lấy một tấm, bỏ vô máy chữ gõ như đã nói ở trên. và cũng chỉ có thế mà thôi chứ đâu có dán hình ảnh gì.
Gọi là binh chủng chứ thật ra đơn vị chúng tôi được coi như tương đương cấp Trung Doàn so với BB , có tên gọi nghe rất là hiền từ, trái ngược hẳn với nhiệm vụ mà chúng tôi phải đảm trách : “ Sỏ LIÊN LẠC/NHA KỸ THUẬT”, nghe có vẻ như là lính văn phòng, chỉ chạy lông nhông để liên lạc các đơn vị với nhau hay mang công văn, văn thư cho các nơi.
Xuất xứ của Sở tư hồi nào thì tôi không rõ vì tôi đáo nhậm dơn vị mới sau này, năm 1969. Trong khi theo tôi nghe nói thì Sỏ Liên Lạc được thành lập từ lâu lắm rồi và mãi gần đây, theo bài viết trong bản tin “ Gia Đình Nha Kỹ Thuật “ của Th/Tá` Emile, nguyên là Chánh văn phòng của Đại Tá Đoàn văn Nu, Giám Đốc NKT, tôi mới biết rõ thêm về xuất xứ của Sở Liên Lạc và Nha Kỹ Thuật.

@ @ @

Tiền thân của Sở Liên Lạc là Sở Khai Thác Địa Hình, trực thuộc Phủ Tổng Thống, do cố Đại Tá Lê Quang Tung chỉ huy, chuyên phụ trách về tình báo quốc nội cũng như quốc ngoại dưới sự chỉ đạo trưc tiếp của Cố Vấn Ngô đình Nhu hay Tổng Thống Ngô đình Diệm. Trông cơ cấu tổ chức của Sở, phòng E hay phòng 45 chuyên đặc trách các hoạt động thu thập tin tình báo tại miền Bắc Vĩ tuyến 17 với các hệ thống tình báo nằm vùng hay xâm nhập từ miền Nam hay từ Đệ tam quốc gia. Phòng E hay 45 sau còn dươc gọi là SB ( Sở Bắc )

Vào đầu năm 1963, Sở Khai Thác Địa Hình được biến cải thành Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt với hai đơn vị nòng cốt là Liên Doàn 77 và Liên Đoàn 31 cũng do Đại Tá Lê Quang Tung làm Tư Lệnh.. Sở Bắc vẫn còn tiếp tục hoạt động, nằm trong cơ cấu tổ chức của BTL/LLĐB và vẫn duy trì phối hợp với cơ quan Combined Studies của Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ. Sau cuộc chính biến 1.11.1963, Đại Tá Lê Quang Tung bị sát hại, LLĐB đã được chỉ huy bởi một số Tướng lãnh và được dời về Nha Trang.. Kể từ lúc này, SB được tách rời khỏi Binh chủng LLĐB, lấy tên là Sở Khai Thác thuôc Bộ TTM. và vẫn duy trì các công tác đặc biệt. Vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của đon vị này là Đại Tá Trần văn Hổ. Cơ quan MAAG, Cơ quan Cố Vấn Quân Sự Hoa Ky,ụ được cải danh xưng là MACV và một bộ phận yểm trơ và cố vấn cho Sơ Khai Thác đươc gọi là MACV-SOG ( Studies and Observation Group ) hay Special Operations Group với nhiệm vụ thi hành kế hoạch OP34A ( Operation Plan) trên vùng đất Bắc Việt.

Sở Liên Lạc cũng được thành lập vào thời gian này và cũng trưc thuộc Bộ Tổng Tham Mưu (SLL/TTM). Sở này đảm trách các công tác xâm nhập ngoại biên trên đất Lào và Cam Bốt. Các toán thám sát được gọi là Lôi Hổ (Thundering Tiger) có nhiệm vụ thám sát ghi nhận dấu vết hoạt động của địch, phá hoại các mục tiêu trọng yếu của địch, chỉ điểm các mục tiêu cho Không quân oanh kích v.v,,,Ngoài ra trong các chuyến hành quân nhảy toán, nhiệm vụ bắt sống tù binh CS là công tác hàng đầu cần phải thực hiện bất cứ lúc nào có thể được vì tù binh là nguồn tin tức quý giá với tính chất xác thực va sớm nhất trong lãnh vưc khai thác tin tức tình báo.ụ Vị Chỉ Huy Trưởng đấu tiên của SLL là Đại Tá Hồ Tiêu gốc Sư Đoàn Dù. Liên tiếp những vị Chỉ Huy sau đó cũng đều từ SDND chuyển qua.
Bộ Chỉ Huy SLL đặt tại Saigon, ngay cạnh sân banh Quân Đội ở Tan Sơn Nhứt và ba Chiến Đoàn đồn trú tại các khu vực khác nhau thích hợp với khu vực mục tiêu mà mỗi Chiến Đoàn dảm trách;

1. Chiến Đoàn 1/SLL (CCN) đồn trú tại Đà Nẵng.
2. Chiến Đoàn 2/SLL (CCC) “ Kontum ( Còn được gọi là B.15)
3. Chiến Đoàn 3/SLL (CCS) “ Ban Mê Thuột ( Duoc goi là B50)

Song song với các Chiến Đoàn này, MACV-SOG cũng có cơ sở hành quân cấp toán riêng rẽ, cùng đồn trú chung một doanh trại với Chiến Đoàn. mà chúng tôi gọi dơn vị Mỹ lá “Phía Đối Nhiệm”. Tên gọi của Mỹ là CCN ( Command and Control North), CCC (Command and Control Central), CCS ( Command and Control South). Có nghĩa là hai đơn vị Mỹ-Việt cùng chia nhau khu vực trách nhiệm dể thả toán vô những mục tiêu được cả hai BCH phối hợp chọn lựa.
Sơ đồ tổ chức là như thế, còn thành phần tham dự thì hầu hết chỉ là SQ, HSQ Cán Bộ, tức là lính của QLVNCH đàng hoàng, có số quân, có Chứng Chỉ tại ngũ. Riêng hàng ngũ binh lính thì được tuyển chọn tại địa phương nơi trú đóng và được gọi là Biệt Kích Quân (SCU), tức là lính do Mỹ trả lương, không thuộc quân số của QLVNCH và được gọi theo danh từ thông dụng là Biệt Kích Mỹ. Ngoài một số lớn là người dân địa phương đầu quân vào Biệt Kích, còn có một số khác là lính đào ngũ từ các dơn vị của QLVNCH tình nguyện đầu quân vào đơn vị chúng tôi. Thì cũng “ lọt sàng xuống nia “ thôi chứ đâu co mất mát đi đâu mà sợ.
Mỗi Chiến Đoàn gồm 1 Đại Đội Thám Sát với từ 10 đến 12 toán, 1 Đại Đội An Ninh, 3 Đại Đội Trừ Bị. Mỗi toán Thám Sát có từ 10 đến 12 người được chỉ huy bởi 1 SQ Toán Trưởng, 1 HSQ toán phó và 10 Biệt Kích Quân. Một Ch/Úy ra trường với khả năng là Trung đội Trưởng nhưng về binh chủng này chỉ huy chỉ có một Tiểu đội mà thôi nhưng là 1 tiểu đội thiện chiến với khả năng trihh sát, kinh nghiệm hành quân trong rừng rất dày dạn. Từy quân số là như thế nhưng mỗi lần hành quân chỉ tham dự có từ 6 đến 8 người mà thôi. Lý do : thay phiên nhau nghỉ. Vã lại với hình thưc hành quân cấp toán trong rừng Trường Sơn thì đi càng ít càng tốt và càng thuận tiện cho phương tiện trưc thăng khi thả và rước. Đã có lần tôi dẫn toán đi nhảy chỉ có 4 người, nghĩa là tôi, toán phó và 2 người lính BKQ nữa mà thôi. Lần đó chúng tôi không mang theo máy truyền tin PRC.25 như mọi lần mà mang một loại máy liên lạc cũng băng tần FM nhưng chỉ có kích thước quãng 8cm x 12cm, bỏ rất gọn trong túi áo trận. Nghe thì có vẻ “hiu hắt” thật nhưng chúng tôi di chuyển rất thuận lơi, êm thắm, nhanh chóng, chui rúc cũng dễ dàng, Nhiệm vụ của toán Lôi Hổ là thám sát theo dõi, tìm kiếm dấu vết hoạt động của VC chứ đâu phải để nghênh chiến nên đi càng ít càng khỏe và lỡ có tao ngộ chiến hay bị địch theo dõi ngay từ đầu thì nổ súng xong là dzọt ngay rồi sau đó giao lại cho Không Quân làm việc với VC ở dưới đất. Nhiệm vụ của chúng tôi cũng tương tự như các toán Delta của Binh chủng LLĐB, chỉ khác phạm vi hoạt động là các toán Delta chỉ nhảy trong nội địa, còn chúng tôi nhảy bên kia biên giói Việt-Miên-Lào.

Chiến Đoan 1 XK , hay CCN, đảm trách khu vực hoạt động vùng Thượng và Trung Lào, Khu vực này rất hiểm trở vì toàn núi rừng dày đặc, lội cũng mệt mà vấn đề tìm bãi đáp (LZ) cũng khó

Chiến Đoàn 2 XK hay CCC đảm trách khu vực Hạ Lào bao gồm vùng Tam Biên, và Đông Bắc Cam Bốt với Căn Cứ địa 701 và 702. Doanh trại đóng tại thành phố Kontum, Can cứ Xuất phát thì tùy từng mục tiêu, thường là Dakto, , Đức Cơ, Plei Djreng hay Lệ Minh. Đây là các trại biên phòng của LLĐB mà chúng tôi sử dụng làm Căn Cứ Xuất Phát để xâm nhâp qua bên kia biên giới vì các trại LLĐB đều có sân bay để các loại phi cơ vận tải có thể đáp tiếp tế, do đó trưc thăng và phi cơ quan sát của chúng tôi dư khả năng sử dụng. Tại đây cũng có nhiên liệu và đạn dược để refill sau mỗi chuyến vượt biên giới để thả hay rước toán.
Tôi không biết tên gọi B.15 dược xuất phát từ đâu và từ bao giờ, nhưng ở Kontum khi được nói đến tên gọi này là mọi người, quân cũng như dân, đều biết đó là tên dơn vị Lôi Hổ đồn trú tại Kontum, bên kia sông Dakbla, từ hướng Pleiku đi lên trước khi vào thành phố Kontum. Tôi thuộc CĐ2XK/SLL kể từ ngày ra trường cho đến khi bị thương vì SA.7 mới thuyên chuyển về CĐ1XK/SLL, lúc này đang đồn trú tại Biên Hòa, quãng 4/74 cho dên ngày sập tiệm. Tính ra tôi đã phục vụ ở CĐ2XK/SLL được hơn 5 năm. dọ đó tôi am tường hoạt động của đơn vị này nhiều hơn

Chiến Đoàn 3 XK : hay CCS, đảm trách vùng Bắc Cam Bốt trở xuống. Căn cứ Xuất Phát là trại Tiêu A Ta và Quản Lợi.

Vào quãng năm 1964-65, Sở Khai Thác được cải danh là Sở Kỹ Thuật/TTM và sau đó không bao lâu Sở này được nâng lên là Nha Kỹ Thuật/TTM, được chỉ huy bởi một Giám Đốc, có cấp số tương đương là Tư Lệnh Sư Đoàn. Danh xưng này chỉ là vỏ bọc của tên gọi được Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu dặt là “ Bộ Tư Lệnh Chiến tranh Ngoại Lệ “. ( Unconventional Warfare Headquarter ). Nha Kỹ Thuật lúc đó gồm các Sở như :


- Sở Liên Lạc
- Đoàn 11 và Đoàn 68
- Sở Không Yểm ( liên quan đến Không Quân )
- Sở Phòng Vệ Duyên Hải ( liên quan đến HQ và Người Nhái)
- Sở Tâm Lý Chiến ( Đảm trách các đài Phát thanh Mẹ Viet Nam va
Gươm Thiêng Ái Quốc.và các nghiệp vụ về Tâm Lý Chiên )
- Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng tại Long Thành.
- Sở Công Tác ( Gồm Doàn 11 và Doàn 68 dã có từ trước cộng thêm Doàn 71, 72, 75 mới thành lập vào quãng năm 1971 sau khi binh chủng LLĐB giải tán

@ @ @

Sau vài tuần huấn luyện, tôi được thả “solo” trong một chuyến thả toán. Tôi phải đảm trách toàn bộ công việc từ A đến Z. Trong “phi vụ” đầu tiên đương nhiên tôi cũng hơi bối rối nhưng mọi chuyện trôi qua suông sẻ. Từ đớ coi như tôi là một SQ Tiền không Sát chính thức của đơn vị.
Trong giai đoạn này, vào thời điểm 1970 – 1972, đơn vị chúng tôi còn hoạt động chung với Mỹ nên toàn bộ đều được MACV-SOG yểm trợ; từ vũ khí, quân trang, quân dụng đến tiền công tác phí, kể cả toàn bộ phương tiện yểm trơ cho các chuyến hành quân. Ngoài số lương chúng tôi lãnh theo tiêu chuẩn của QLVNCH thuộc binh chủng Dù( có thêm tiền phụ cấp Bằng Nhảy Dù), mỗi tháng chúng tôi còn lãnh thêm một số tiền gọi là “ công tác phí’ mà tôi không nhớ chính xác là bao nhiêu nhưng vào thời đó, số tiền lương lãnh hàng tháng cao hơn các bạn cùng cấp bậc ở BB rất nhiều, gần gấp đôi. Cồn các BKQ thì lãnh lương trực tiếp của Mỹ.
Vì chúng tôi phải nhảy vào nhũng vùng hoạt động cùa địch ở bên kia biên giới nên phương tiện vận chuyển và yểm trợ phải là Không Quân.: Phi Đoàn 219 Trực thăng, Phi Đoàn Quan sát 110 ( hái PĐ này đồn trú ở Đà Nẵng), Phi Doàn Quan Sát 114 ở Nha Trang.Cứ sau hai tuần biệt phái thì thay đổi biệt đội một lần. Các pilot của Biệt đội cũng được hưởng tiền công tác phí, cứ mỗi lần vượt biên giới là mỗi người trong phi hành doàn lãnh 3000 đồng; riểng trực thăng nếu trong một lần vượt biên giới mà làm hai nhiệm vụ, nghĩa là hai lần đáp là lãnh gấp đôi. Do đo các nhân viên phi hành thuộc PĐ219 sống rất đế vương Trong các canh sập xám hàng đêm, ăn thua được chung theo cách đó cọc tiền cho nhanh chứ hơi đâu mà ngồi đếm từng tờ cho mất thì giờ. Phương châm “ Thì giờ là cờ bạc” được triệt để áp dụng.
Các phi vụ Khu Trục thì tùy theo từng nhu cầu và tùy theo khu vực hành quân, các Trung tâm Khôâng Trợ sẽ điều động đưa dến cho chúng tô. Ứng trưc thường trực nhất thì có PD530 thuộc SĐ6KQ. Trong trường hợp cấp bách, đôi khi chúng tôi sử dụng các phi vụ của Mỹ xuất phát từ Đệ Thất Hạm Đội đang ứng trực trên không phận hoặc điều động khu trục phản lực từ Thái Lan. Các phi vụ này đều thông qua yêu cầu của FAC Mỹ mà chúng tôi bay cùng,

Ngoài phi cơ quan sát của PD110., đơn vỉ tôi còn đươc tăng phái mỗi ngày hai phi cõ quan sát của Mỹ là Phi cơ quan sát O2 và OV10. Hai Phi đoàn này đồn trú trong phi trường Pleiku và chỉ cất cánh lên Kontum để bốc Tiền không Sát` khi được gọi. Phi cọ OV.10 là loại phi cơ quan sát tối tân và lợi hại hơn O.2 vì hoạt động bởi 2 động cơ bán phản lực , được trang bị Mini gun và phóng lựu cùng với 2 dàn phóng rocket. Vì vùng Hạ Lào nhiều rừng núi nên loại phi cơ này hoạt động rất huũ hiệu, nhất là trong trường hợp toán bị đụng, phi cọ OV10 có thể bắn yểm trợ trong những giây phút đấu tiên để uy hiếp tinh thần địch trong khi chờ Khu trục đến yểm trợ. Năm 1971, trong chiến dịch Lam Sơn 719 ở vung Hạ Lào, các Quan Sát Viên của PD110 được tăng phái cho Mỹ để bay với pilot Mỹ trên phi cơ OV10, các anh dã kể lại rằng nó nhào lộn khiến chịu không nổi, phải “rải truyền đơn”

Khu vực Hạ Lào này được giao phó cho các toán Mỹ phụ trách, thỉnh thoảng mới có toán VN hành quân. Quân nhân Mỹ vốn to con nên mỗi lần đi nhảy, họ trang bị hỏa lực vũ khí rất mạnh. Cây Đại liên M.60 mà họ cầm giống như cầm cây tăm. Ngoài ra có toán còn chơi súng cối 60ly không có bàn tiếp hậu nên mỗi lần đụng dộ thì VC chỉ có từ chết tới bị thương. Thường thường các toán Mỹ được thả hay rước bằng phi cơ UH của Mỹ, do pilot Mỹ lái, các pilot này không chơi bạo như pilot 219, hơn nữa loai UH là loại tối tân hơn nên bay cũng phải theo bài bản hơn, do đó các toán Mỹ vẫn khoái được rước hay thả bởi PĐ219. Có một lần khi tôi còn đi nhảy toán, chiếc H34 xuống thả toán thì bị chém cây nên nằm ỳ luôn, tụi tôi nhảy ra ngoài nàm xung quanh bãi để giữ an ninh trong khi một chiếc H34 khác nhào xuông , gác một bánh xe lên rotor của chiếc nằm dưới đất để phi hành đoàn leo lên.

Phi cơ H.34 , có tên gọi là Sikorky, là loại trực thăng bay bẳng động cơ nổ nên nhiều khả năng “chịu đạn” hơn là UH., do đó rất thích hợp trong nhiệm vụ thả , rước các toán. Loại phi cơ này chắc hẳn đươc sử dụng từ Đệ Nhị Thế chiến nên trông có vẻ già cỗi, nặng nề, chậm chạp nhưng lại rất hữu dung cho chúng tôi. Nhìn vào cockpit và nơi chở quân thấy sao bầy hầy, toàn dầu nhớt lem luốc. lọc xà lọc xọc; khi bay thì rung chuyển ầm ĩ. Có khi đang bay, chúng tôi bị dầu nhớt không biết từ dâu nhễu xuống đầu hay quần áo. Vì là loại phi cơ cổ lổ nên tôi thấy pilot vật lộn với nó hơi mệt hơn loại UH sau này. Có lần tại Căn Cứ Xuất Phát, một anh bạn pilot kêu tôi lên ngồi ghế Co-Pil rồi quay máy cất cánh; khi đủ cao độ, anh bạn kêu tôi cầm stick bay thử nhưng chỉ được vài phút là tôi trả lại cho hắn vì cần lái quá nhạy nên mới lần đầu tôi giữ chưa quen nên nhích cần lái có một chút mà phi cơ lắc lư như đưa võng

@ @ @


Đơn vị B.15 của chúng tôi có hai sân bay cho Trực thăng. Một nằm ngoài doanh trại ở hướng Nam và một nằm trong doanh trại. Các H.34 của Biệt Đội 219 thường đậu trong sân này cho an toàn cả ngày lẫn đêm;; còn phi cơ quan sát của Biệt Đội 110 thì đậu ngoài phi trường Kontum. Nhân viên phi hành và nhân viên kỹ thuật của 2 Biệt Đội thì sống trong doanh trại chung với chúng tôi nên các sinh hoạt như ăn nhậu, bài bạc... đều sinh hoạt chung với nhau nên tình cảm gắn bó như cùng một đơn vị mặc dù khác quân chủng. Mỗi khi trở lại Kontum sau hai tuần biệt phái ở các Chiến Doàn khác mà nghe tin có thằng mất tích hay tử trận các bạn KQ cũng buồn như chính nỗi buồn của chúng tôi; hoặc có những lần nghe tin một pilot quen biết của PĐ219 hay PD110 bị bắn rớt trong một chuyến hành quân nào đó hay bị tai nạn đụng nhau bỏ mạng, chúng tôi cũng đau lòng, tiếc rẻ. Có khi ngồi câm lặng bên ly rượu, để mặc cho nước mắt tuôn rơi với những hồi tưởng thời gian sống bên nhau trước đây. Rồi cứ thế, ly này tiếp theo ly trước cho đến khi say mèm.

Hàng ngày, nếu có toán chuẩn bị xâm nhập, các pilot trực thăng VN cũng như CHT Căn Cứ Xuất Phát, SQ/TKS cùng với Ban 2, 3 và toán trưởng, toán phó cùng tham dự tái thuyếtù trinh để có cùng một khái niệm về cuộc đổ quân sắp` thực hiện ngõ hầu phối hợp cho được nhịp nhàng. Sau đó 3 trực thăng H.34 sẽ chở toán Hành quân cùng với các thành viên của CCXP và toán trừ bị bay lên Căn Cứ Xuất Phát và năm chờ.
Trong khi đớ tôi liên lạc với Phi Đoàn Quan Sát Mỹ ở Pleiku qua tần số vô tuyến dể request phi vụ và hẹn giờ để bốc tôi tại Kontum.. Khi phi cơ O.2 gần đáp, quãng 10, 15 phút trươc, pilot O.2 báo cho tôi biết, thế là tôi xách “đồ nghề” lên xe ra phi trường. Tuy là Bộ Binh, nhưng với nhiệm vụ “ bay bổng”, tôi cũng được trang bị như một quan sát viên Không quân chính hiệu. Cũng áo lưới mưu sinh, nón bay, cũng mang dù để nhảy ra khi phi cơ gặp nạn. Về mục này thì Không Quân Mỹ rất cẩn thận hơn hẳn pilot VN. Trước khi lên phi cơ phải mặc dù đàng hoàng.; dù này đuoc cất giữ trong phòng điều hòa không khí hẳn hoi và được kiểm soát định kỳ đều dặn. Còn mấy bố pilot VN thì cũng xách dù ra phi cơ nhưng là để kê lưng chớ không bao giờ mặc vào theo đúng qui dinh. Có những lần bay về trễ nên phải đáp ở phi trường Pleiku vì trời tối, phi trường Kontum không có đèn đáp trên phi đạo; tôi vào barrack của pilot 02 ngủ tạm qua đêm; sáng hôm sau lên phi cơ về lại Kontum. Khi bắt đầu ra di bay, . công việc của pilot Mỹ trước hết là vô phòng chứa dù để lấy dù cho mình, tôi cũng phải đi theo để lấy cho tôi. Ra đến bãi đậu phi cơ, họ lấy check list ra và làm thủ tục tiền phi rất là cẩn thận, họ bắt đầu check từ mục đầu tiên đến mục cuối cùng. Sau khi ngồi vào ghế lái cũng thế, họ cũng làm theo check list để kiểm soát các phi cụ trước khi quay máy. Bao nhiêu là nút, đèn đều được vặn thử, bấm tới bấm lui rồi mới ra hiệu cho kỹ thuật chuẩn bị cắm bình vào quay máy. Sau đó lại cũng theo check list để thử đồng hồ RPM, xăng, nhiệt độ nhớt máy, hạ flap lên xuống, thử tín hiệu đóng mở gear, ôi thôi đủ thứ trước khi taxi ra phi đạo. Mà đã ngồi lên phi cơ là phải có helmet đàng hoàng chứ không được sử dụng headset và phải mặc dù đầy đủ., pilot có quyền từ chối không bay với bạn nếu bạn không tuân hành luật lệ an phi qui định.

Trong khi đó, nếu đi bay với pilot quan sát VN thì khi ra ụ, khỏi cần check list gì cả, ông quan pilot VN kéo 2 cục gỗ chận bánh, đi một vòng vưa rờ rờ vừa ngó các bộ phận, gỡ các bao chụp che ống gió tốc độ v,v là xong. Hay là tại vì chiếc O.1 hay U.17 quá đơn giản nên không có gì nhiều để phải coi theo check list cho khỏi quên hay sơ sót ?

Trưc thăng H.34 cũng thế. Các ông quan tàu bay leo lên ghế ngồi xong là đưa tay vặn mở tùm lum nút một cách máy móc rồi quay máy. Nhìn giàn phi cụ ở các board trên đầu, trước mặt , ôi thôi sao mà đủ thứ nút, đủ thứ màu. Tôi nhìn mà thầm nghĩ làm sao mà nhớ cho hết công dụng hay chức năng của chúng Ấy thế mà bay cứ phom phom mà lại còn bay đẹp nữa chứ !!

Khi đã sống ở Mỹ, tôi mới thấy người Mỹ rất tôn trọng quy tắc, nhất là những nguyên tắc vế an toàn trong mọi lãnh vực., lý do là để con ngườụi làm theo những qui định đó để khỏi bị tai nạn lao động hay nghề nghiệp có thể gây thương tật hay chêt người. Từ đó phải công nhận là phe ta có máu ẩu và chơi bạo. Mà cũng nhờ chơi bạo nên mới làm nên những kỳ tích cũng như những giai thoại nổi tiếng khiến Mỹ cũng phải kiêng nể

@ @ @

Phi cơ O2 đáp xuống phi trường Kontum, thường dậu tại Parking của Air Viet Nam, tắt máy chờ tôi ra để thuyết trình sơ khởi về khu vực hoạt động, nhiệm vụ, những yêu cầu về yểm trợ v.vv. Xong la leo lên phi cơ quay máy cất cánh, trực chỉ mục tiêu.
Từ phi cơ L.19, U.17, bây giờ ngồi trễn phi cơ O.2 tôi thấy có nhiều sự khác biệt ; toiá tân hơn, bay nhanh họn, nhiều phi cụ hiễn đại hơn, an toàn hơn và phi cơ cũng nặng nề hơn. Vị trí ghế ngồi của Quan sát viên ngang với ghế pilot nên quan sát mục tiêu và những hoạt động xung quanh và phía trước dễ dàng hơn là L.19 cũng như quan sát được những thao tác khi cất cánh và đáp của pilot để mà học hỏi. Có lần tôi bay L19 với Bắc Đẩu 65 ( Pilot PD118, một nhân vật trong bài XÁ GÌ SA.7 ), khi cất cánh tại phi trường Kontum,. tôi ngồi ghế sau của Quan sát viên, vậy mà BĐ65 bảo tôi tống ga tập cất cánh một mìnhn hắn sẽ kềm cho tôi. Nhìn tới phía trước tôi chỉ thấy cái lưng cuả pilot mà thôi thì làm sao mà giử phi cơ chạy thẳng theo phi đạo được nên tôi la lên :”Thôi đi cha ! Làm như tôi là IP không bằng mà ông kêu tôi cất cánh khi ngồi ghế sau như vầy !”. Với phi cơ O2, cũng có vài lần pilot Mỹ để tôi cất cánh và đáp tại phi trường Pleiku. Nhờ thường xuyên quan sát thao tác khi cất và hạ cánh của pilot và phi cơ O2 là loại phi cơ có bánh mũi nẽn cất cánh dễ dàng hơn và khi đáp cũng không đến độ ““Cóc nhảy”

Với 2 động cơ cánh quạt, một phía trước mũi và một phía sau đuôi, phi cơ quan sát O.2 có tốc độ bình phi nhanh hơn, hính như 120 hay 140 miles/giờ ( tôi không nhớ rõ), nhưng tôi cảm thấy có vẻ nặng nề mỗi khi cất cánh. Pilot loại phi cơ này thường bay chung với tôi hàng ngày, qua nói chuyện tôi được biết họ đã được chuyển từ các loại phi cơ fix-wing khác sang bay phi cơ O.2 như : B.52, C.130, F.102 ... có cấp bâc từ Thiếu Tá đến Trung Úy. Ngoài khả năng điều khiển phi cơ, họ còn kiêm luôn nhiệm vụ của một quan sát viên để chấm tọa độ định điểm đúng khi toán yêu cầu, hướng dẫn khu trục oanh kích v.v...Do đó trong suốt thời gian làm việc với loại phi cơ này, tôi học hỏi được rất nhiều. Các pilot Mỹ mà tôi bay cùng đã tận tình chỉ dẫn và giải thích cho tôi thế nào là lực G, thế nào là vertigo, các hoạt động của các phi cụ trên phi cơ như đồng hồ TACAN, hệ thống định vị trí hiện tại của phi cơ dựa theo tín hiệu tứ một dài phát, kỹ thuật đáp theo hướng dẫn của đài kiểm soát qua những phi cụ của phi cơ...Kỹ thuật này được sử dụng khi trời mù , tầm nhìn bị hạn chế hoặc đáp đêm không đèn. Thỉnh thoảng trong những lần về đáp ở phi trường Pleiku họ vẫn thục tập ôn luyện mặc dù đang là ban ngày. Do đó họ nhờ tôi quan sát phi cơ xung quanh trong khi họ cứ chăm chú vô phi cụ để điều khiển phi cơ hạ cánh, từ lúc còn cách xa phi trường quãng 10 mile cho đến khi approach rồi từ từ giảm cao độ, giữ đưng hướng heading với phi đạo cho đến cuối cùng là touch down,

Trong khi chúng tôi đến trên vùng mục tiêu, tôi hướng dẫn cho pilot thấy được bãi đáp dự đinh sẽ thả toán và đồng thời quan sát toàn vùng để tìm xem có gì khả nghi hay không cũng như check thời tiết trên vùng.; nếu thời tiêt tốt, tôi sẽ gọi về CCXP để cho toán chuẩn bị lên đường trong khi pilot gọi về Phi đoàn Cobra để request phi vụ, cho điểm và giờ hẹn đểả họ đến gặp chúng tôi. Trong thời gian chờ đợi các phương tiện trên đường đến với chúng tôi, chiếc O.2 bay ra khỏi vùng để không tạo sự nghi ngờ cho địch ở dưới đất.

Tôi xin nói qua về giai đoạn chuẩn bị hành quân của toán :
Sau khi toán được Ban 2, ban 3 thuyết trình về mục tiêu với nhiệm vụ, tình hình địch trong vùng, phương tiện yểm trợ v.vv. Toán trưởng phác họa sơ qua về ý định hành quân, lộ trình di chuyển của toán và đi không thám. Toán trưởng sẽ đi với TKS bằng phi cơ U.17 lên vùng mục tiêu để quan sát khu vực sẽ hoạt động, tìm LZ chính, LZ phụ, đồng thời nếu có thể được thì chụp hình bãi đáp. Sau đó là chuẩn bị lãnh thực phẩm khô, vũ khí thích hợp với nhiệm vụ, quân trang, quân dụng cần thiết ; nói chung là tất cả những gì toán cần cho cuộc hành quân ( thí dụ nếu toán trưởng có ý định trang bị vũ khí VC thì toán sẽ lãnh súng AK, dây đạn hoặc súng nhỏ có gắn hãm thanh dùng để bắt sống v.v....) Trong thời gian tôi còn nhảy toán, tôi vẫn thích sử dụng AK, tuy hơi nặng hơn CAR.15 nhưng được cái là nếu có mưa gió hay súng bị ướt thì khi bắn vẫn không bị trở ngại tác xạ, kế đó là tiếng AK nổ nghe ròn rã và chát chúa hơn. Tôi vẫn thường dùng AK báng xếp, hình như là AK.49 thì phải, Cái tiện kế đó là khi mở khóa an toàn để tác xạ thì với AK chỉ cần kéo xuống một nấc là nổ liên thanh, còn CAR.15 thì phải kéo 2 nấc.

Sau vài ba ngày chuẩn bị , đến ngày N, Toán Trưởng và Toán phó sẽ tái thuyết trình với sự tham dự của CHT, Ban 2, ban 3, TKS và các Trưởng phi cơ H.34. Toán trưởng sẽ thuyết trình về ý định di chuyển , hành động trong thời gian hành quân và có những yêu cầu về yểm trợ, cách thưc thả như thế nào .. Trong buổi tái thuyết trình này, Toán trưởng cũng trình bày hình ảnh bãi đáp mà mình đã đi không thám chụp đươc để chiếc trưc thăng thả toán có khái niệm về hình ảnh LZ sẽ đáp xuống.


@ @ @

Tất cả mọi phương tiện trên đường đến điểm hẹn và qua truyền tin, họ báo cho chúng tôi biết còn quãng bao lâu nữa thì đền. Sau khi đã nhận diện đươc nhau và liên lạc vô tuyến với nhau tốt, phi cơ O.2 dẫn vào khu vưc mục tiêu và bắt đầu làm việc, Tất cả các loại phi cơ tham dự đều monitor trên cùng một tần số UHF để theo dõi
Trước hết, chúng tôi liên lạc với Cobra, báo cho họ biết là sẽ bingo chỉ cho họ thấy LZ sẽ thả toán xuống Sau khi họ nhìn thấy phi cơ O.2, chúng tôi nhào xuống thấp, bay ngang LZ va lắc cánh để xác định đúng vị trí; nếu họ đã nhận ra được bãi đáp là nhào xuống bay vòng vòng quanh LZ để quan sát. Trong lúc này , 3 chiếc H.34 vẫn còn ở trên cao.
Lấy LZ làm tâm điểm, hai chiếc Cobra bay vòng vòng tư ngoài vào trong để quan sát xem tình hình hoạt động của địch ở dưới đất. Sau khi ghi nhận là an toàn, họ báo cho H.34 hạ cao dộ đê đáp. Chiếc H.34 số 1 có chở toán cắt ga, lượn vài vong xoắn ốc trong thế rơi tự do, chỉ vài giây sau là đã xuống thấp , lấy lại vòng quay để vào trục vô bãi đáp để thả toán. Sau khi chạm đất, toán nhảy ra và chạy vào bìa rừng, thế là chiếc H.34 cất cánh bay lên cao cùng với hợp đoán, làm orbit để chờ toán di chuyển. Sau khi toán báo cáo là an toàn, tất cả mới rời vùng chỉ còn lại chiếc O.2 là còn trên vùng đề ứng trưc cho toán tiếp tục di chuyển. Sau quãng nửa giờ, toán báo cáo an toàn trên đường di chuyển, chúng tôi mới rời vùng. Coi như đã xong nhiệm vụ thả toán. xâm nhập.

Phần nhiều các mục tiêu là ơ phía Bắc Cam Bốt, cách xa biên giới hàng trăm dặm và chúng tôi không có đặt đài tiếp vận cho vùng này nên ngày 2 lần phải có phi cơ lên vùng để nhận báo cáo của toán. Thường thường phi cơ U.17 dảm trách công việc này.;nếu ngày nào có toán đi không thám chuẩn bị nhảy thì vưa không thám vừa liên lạc luôn.. Cách xa mục tiêu hàng chục dặm đã có thệ liên lạc dược vói nhau nên sau khi nhận được báo cáo của toán , phi cơ U.17 bay thẳng luôn chứ không bay vòng vong trên mục tiêu để có thể khiến cho địch nghi ngờ. Với giọng thì thào qua vô tuyến, người nhận phải chú ý lắng nghe lắm mới cò thể ghi được nội dung công diên để chuyển về nhà. Neứ mội chuyện vô sự thì coi như xong nhiệm vụ liên lạc, còn nếu toán có biến cố gì xảy ra thì tùy theo yêu cầù của toán để giúp đỡ ngay tức khắc như : định tọa độ đang đứng, tìm bãi đáp rồi cho hướng di chuyển đến, quan sát phía trước trên đường tiến quân của toán... Riêng trường hợp toán bị đụng thì tùy theo tình trạng hiện tại của toán để yểm trơ nhưng điều đầu tiên là báo về căn cứ để BCH định liệu. Trường hợp nguy cấp hơn như bị thương, thất lạc... là TKS phải request phi cơ O.2 lên tiếp ứng ngay. Ngay khi cất cánh, chúng tôi request phương tiện yểm trợ để có thể cùng có mặt trên mục tiêu đe kịp thờiă yểm trợ cho toán . Thồng thường là phải mất khoảng một giờ, trong thời gian này phi cơ U.17 vẫn hiện diện trên mục tiêu để giữ liên lạc với toán cho đến khi TKS bắt liên lạc được với toán thì mới rời vùng.


@ @ @

Căn cứ Xuất Phát của đơn vị tôi dặt tại trại LLDB Plei Djereng ( sau được đổi tên là Lệ Minh ), nằm phía Tây Pleiku gần biên giới Việt-Miên. Đây là một trong những trại biên phòng thuộc Toán A trong hệ thống tổ chức của Binh chủng LLĐB nằm dọc theo biên giới Việt-Miên-Lào. Lực lượng đồn trú quãng một Tiểu Đoàn Dân Sự Chiến Đấu( CIDG) được chỉ huy bởi SQ, HSQ Cán Bộ LLDB Việt Nam, phối hợp với SQ,HSQ Cán Bộ LLĐB Hoa Kỳ. Đơn vị chúng tôi được sắp xếp cho một góc trại với phòng ốc để làm BCH nhẹ và nghỉ ngơi
Mỗi trại đều có một phi trường dùng cho các loại phi cơ vận tải đáp phi đạo ngắn như C.123, C.130 hay Caribou có thể đáp để tiếp tế hay chuyển quân. như quý vị đều biết, trước đây những gì có dính dáng dến Mỹ là rất đầy đủ, dồi dào về quân trang, quân đung, thưc phẩm, xăng dầu, đạn dược v.v... Vì thế tuy là một trại nằm sát biên giới nhưng không thiếu thứ gì cả, cho nên đơn vị chúng tôi đặt Căn Cứ Xuất Phát tại đây để tiện việc thả toán sâu trong đất Cam Bốt và để các loại phi cơ của đơn vỉ ứng trực hàng ngày hễ có đụng chuyện là có thể cất cánh ngay. Nhiên liệu và đạn dược cho phi cơ cũng đều có sẵn để sữ dụng khi cần đến, khỏi phải bay về Pleiku.
Mỗi ngày nếu không có toán nào chuẫn bị xâm nhập thì các loại phi cọ đều bay lên CCXP để ứng trực. Trưc thăng H.34 chở thêm toán ứng trưc, BCH của CCXP gồm Si Quan CHT, nhân viên truyền tin, vài người lo việc ẩm thưc cho tất cả. Thông thường, nhiệm vụ của CCXP là theo dõi và ghi nhận những báo cáo của toán được chuyển về qua chiếc U.17 đi liên lạc với toán, rồi chuyển về Chiến Đoan. Nếu hoạt động của toán đang hành quân vẫn bình thường an toàn thì sinh hoạt của CCXP rất là nhàn hạ, Ngoài chiếc phi cơ quan sát dang bay để liên lạc với toán, tất cả nhân viên phi hành của các loại phi cơ khác chỉ có` ăn, ngủ, binh xập xám...V.v... Với cảnh “tiền đồn heo hút” nơi biên giới thì đâu có gì hấp dẫn. Leo lên nóc hầm nhìn chung quanh chỉ thấy rừng núi . Nhìn về phía Đông, hướng về Pleiku, thì chỉ thấy đồng bằng ngút ngàn lô nhô vài ngọn đối trọc thấp lè tè. Quay về hướng Tây, bên kia là vùng đất Cam Bốt với cây rừng rậm rạp, núi chập chùng về phía cực Bắc Cam Bốt. Ở đó địch cò hai Căn cứ 701 và 702 dùng làm nơi trú quân, huấn luyện, kho tàng vũ khí và lương thưc; và đớ cũng là mục tiêu dể thả toán chúng tôi vào thám sát, ghi nhận dấu vết hoạt động của địch. Ngoài ra chúng tôi còn có những mục tiêu dọc theo sông Tonlé San chạy ngoằn ngoèo về hướng Tây để theo dõi hoạt động chuyển quân của Cộng Sản Bắc Việt và Khờme đỏ. Mục tiêu xa nhất về hướng Tây Cam Bốt là sông Tonlé Kong, chảy theo hướng Bắc-Nam, nơi mà thỉnh thoảng cũng có thả toán để theo dõi hoạt động trên sông. Sơ dĩ nói là xa nhất vì đến đây là tầm hoạt động cuối cùng của phi cơ H.34. Toán được thả hay rước tại những mục tiêu này phải được thưc hiện nhanh chóng vì lượng nhiên liệu không đủ để bay về nếu thời gian kéo dài thêm . Trong thới gian còn nhảy toán, tôi đã một lần xâm nhập vùng này. Chuyến hành quân thật là nhàn hạ như là đi picnic vậy ! Sau hai ngày xâm nhập, toán tôi di chuyển ra tới bờ sông. Chúng tôi tìm một lùm bụi sát bờ sông để nằm quan sát. Suốt thời gian còn lại, chúng tôi quan sát hoạt động trễn sông và bên kia bờ. Cảnh vật cũng giống vùng thôn quê Việt Nam; cũng tiếng người gọi nhau, thuyền chèo lên xuống bên kia bờ, cũng tiếng trâu bò rống, cũng những đụn rơm ... những hình ảnh yên ả thanh bình. Còn phía bờ sông có chúng tôi hiện diện thì cũng yên lặng, chỉ thinh thoảng có tiếng súng nổ hình như chúng đi bắn chim chơi chứ không có họat động nào đáng kể. Bình lặng đến độ chúng tôi nấu nướng ngày ba bữa như la ụđang đi picnic, cũng lai rai cà phê thuốc lá. Tiếc là không có lưỡi câu để câu cá chơi giải khuây. Hàng ngày chúng tôi lần lượt luân phiên cởi quần áo mò xuông nươc ngâm mình lặn hụp tại chỗ cho mát. Lúc chuẩn bị hành quân, chúng tôi nai nịt rất là cẩn thận để đề phòng mọi thứ trong rừng : nào là áo nỉ trong cùng để ban đêm chống lạnh mà không cần đắp mền, như vậy là ba lô nhẹ được thêm một tí vì không phải mang theo mền poncho liner; nào là băng keo quấn hai tay áo và hai ống quần để sâu bo. đỉa, vắt không chui vô người. Với những thứ lỉnh kỉnh như vậy, chúng tôi vẫn giữ y nguyên từ lúc lên phi cơ di nhảy cho đến lúc trở về; có nghĩa là suốt bảy ngày hành quân, chúng tôi khong hề tắm rửa, đánh răng, rửa mặt v.v...cộng thêm với bùn đất lầy lội của rừng núi với những cơn mưa rừng tầm tã; có thể nói chúng tôi là loại lính ở dơ nhất của QLVNCH. Thế mà trong chuyến hành quân ven sông này chúng tôi được tắm rửa háng ngày thì lý thú quá đi chứ phải không các bạn. Đi picnic chứ đâu phải đi hành quân !!

Trước đây khi còn đi toán, tôi cũng đã từng dẫn toán lên đây nằm ứng trực. Một ngày sinh hoạt ở CCXP , nếu mọi chuyện bình an vô sự, thì thật là dài và chán. Cứ nằm ngủ, thức dậy ăn, chơi domino, binh xập xám hay leo lên nóc lô cốt khi trời mát để nhìn trời hiu quạnh với rừng núi thăm thẳm về hướng biên giới. Đầu tháng rủng rỉnh tí tiền thì mua bia, rượu lên đây lai rai. Mồi nhậu có khi là thịt nai săn được, được chế biến đủ thứ : Xào lăỉn, bí tết, lúc lắc, ướp cà ri nướng, tái chanh v.v... ôi thôi món nào cũng hấp dẫn để mà lai rai suốt ngày. Có những chiều mưa, ngồi trong hầm nhìn trời xám xịt, mưa cứ rả rích trong cảnh quạnh hiu của núi rừng ! Sao mà buồn thế. Tôi không cảm nhận được cái hay của bản nhạc “ Chiều mưa biên giới” chút nào cả. Không hiểu khi sáng tác bản nhạc này, nhạc sĩ Nguyễn văn Đông có ngồì ở “tiền dồn heo hút” như tôi hiện nay hay không ? Sau cơn mưa, đường sá đất đỏ lầy lội, trơn trợt; một bước chân nhấc lên kèm theo một đống sình đất dỏ nặng chình chịch dính theo giày, như vậy đó thì mê sao nổi !

Thỉnh thoảng vào cuối ngày, trước khi bay trở về Kontum; trực thăng H34 làm 1 chuyến đi săn nai. Phi cơ bay dọc theo suối, khi thấy bụi rậm nghi ngờ có nai thì hover , cây cỏ rạp xuống. nai sẽ phóng chạy. Thế là trực thăng cứ tà tà bay theo, cây đại liên cứ tà tà nã đạn cho đến khi con nai quỵ xuống.; rồi dùng hoist câu về CCXP. Mọi người phụ khiêng vứt lên phi cơ cho dược kín đáo để chở về Kontum. Với Quân Chủng kQ, việc dùng phi cơ săn nai là điều cấm kỵ theo lệnh của Bộ TTM. vi phạm là lãnh tù như chơi. Nhưng nơi chúng tôi ở là vung đèo heo hút gió gần biên giới, có ma nào ngoài chúng tôi ra đây đâu mà phải sợ. Hơn nữa pilot 219 thì còn sợ ai ! Nhưng dù sao thì kín đáo cũng vẫn hơn; rồi khi về đến Kontum, phi cơ đáp ngay trong trại thi còn an toàn nào hơn. Vào đầu mùa mưa, nai thường mọc nhung non hoặc có “hà nàm” nên những món này rất có giá trị. Nhung nai được biếu làm quà cho CHT, còn “hà nàm” thì nấu cháo cho anh em, thịt xẻ ra thì chia nhau cho quân nhân đơn vị và gia đình để nhậu. Trong các canh xập xám, đôi khi các chàng pilot hứng chí nghêu ngao khi bài mình lớn hơn bạn bè :” Ngồi trên trực thăng nhìn nai chạy trốn, nhớ nhung nai nhớ cả hà nàm “, một đoạn của bản nhạc ” Bông cỏ may “

Phần sinh hoạt của CCXP trên được kể lại vớí tình trạng toán vô sự. Còn khi toán báo cáo bị chạm địch thì sinh hoạt nào nhiệt hơn. Trước hết mọi người đều hay tin này nên tất cả chăm chú theo dõi liên lạc giữa phi cơ Ư.17.đáng trên vùng giữ nhiệm vụ trung gian liên lạc giữa toán và BCH. để biết tình trạng hiện tại của toán. Nếu Toán bị chạm địch và có thiệt hại như có người bị thương hay thất lạc thì tất cả đều chuẩn bị cất cánh để triệt xuất toán ngay. Nói là chuẩn bị nhưng cũng phải chờ phi cơ O.2 của TKS lên vùng mục tiêu để nắm vững tình hình rồi mới ra lệnh cất cánh.
Ngay khi nhận được báo cáo Toán bị đụng, TKS yêu cầu phi cơ O.2 cất cánh khẩn cấp. Sau 30 phút là TKS được bốc tại Kontum để bay lên vùng Toán đang hành quân. Trên đường đi, O.2 liên lạc trực tiếp với U.17 để biết rõ tình hình hiện tại của toán, tình hình địch chung quanh Toán.... để kip request khu trục yểm trợ cho Toán nếu cần và điều động trực thăng Cobra lên vùng để vùa yểm trợ tiếp cận cấp thời cho Toán đồng thời cover cho trực thăng H.34 xuống bốc toán. Do đó khi phi cơ O.2 đến trên mục tiêu thì mọi phương tiện yểm trợ đã được chuẩn bị sẵn sàng, cũng có thể là đang trên dường đến “Rendez- vous point”. Gần đến mục tiêu, máy truyền tin của O.2 có thể nghe được Toán nên liên lạc trưc tiếp với toán để nắm tình hình cụ thể và chi tiết : chạm địch như thế nào, bị thương hay thất lạc ra sao, tình trạng địch xung quanh v.vv . Do đó khi đến trên mục tiêu, TKS đã năm đủ các yếu tố để quyết định phương cách yểm trơ. Tuy đến trên mục tiêu nhưng đâu biết vị trí hiện tại của toán ở đâu nên ngay khi toán nghe được tiếng động cơ của O.2, toán sẽ biết dược phi cơ đến từ hướng nào của Toàn và hướng dẫn phi cơ hướng mũi về đúng vị trí của toán bằng phương thức giờ của dồng hồ: thí dụ : Tôi đang ở hướng 2 giờ của anh, thế là phi cơ đổi theo hướng 2 giò cùa mình để hướng về toán và cứ thế cho đến khi phi cơ bay ngang đầu của toán thì toán báo cho biết là “Bingo, bingo “. TKS dã biết vị trí tương đối của toán nhưng để yểm trợ, TKS bắt buộc phải thấy rõ điểm đứng của toán nên bảo toán “đốt đèn” hay “soi gương”. Khi nghe lệnh này, Toán trưởng sẽ lấy kiếng ra hướng về phi cơ lắc lắc. Từ trên phi cơ, với ánh sáng phản chiếu tư chiếc gương to như chiếc nia, TKS biết rõ vị trí hiện tại của toán và chấm tọa độ để báo về BCH, đồng thời bảo toán “ trải chiếu” râ để đánh dấu cho Cobra thấy được từng người dang quây quần xung quanh để đừng tác xạ nhầm vào quân bạn khi phải yểm trơ quá gần.
Mỗi thành viên trong toán Lôi Hổ dược trang bị ngoài vũ khí còn có các đồ dùng để mưu sinh, cấp cứu khi bị thất lạc như : Panô hai mặt vàng và màu dỏ cam, kiếng chiếu, súng pen flare, địa bàn cá nhân. Toán trưởng và toán phó được trang bị thêm máy PRC.9 cấp cuú. Máy này được sử dụng khi hữu sư như toán thất lạc, máy truyền tin PRC.25 bị mất hay hư hỏng. Máy cấp cứu này có khả năng liên lạc trên băng tần VHF và trên tần số S.O.S quốc tế với tất cả phi cơ nào bay ngang vùng dù phi cơ quân hay dân sự. Phi cơ nhận dược tín hiệu SOS sẽ nhận báo cáo của người lâm nạn và báo về hệ thống của mình để tùy nghi . Các bạn sẽ hỏi rằng làm sao để biết được người lâm nạn là ai để mà tiếp cứu ? Tôi không rõ về phía dân sự thì làm việc như thế nào, chứ mỗi mục tiêu mà Toán chúng tôi hành quân đều có một tên gọi, đươc gọi là Target Code. Chỉ cần nói Code này và người nhận chuyển về là BCH biết ngay. Trong thủ tục request phi cơ khu trục cũng có mục báo tên mục tiêu để yểm trợ bằng code này.
Riêng về kiếng “chiếu yêu”, nó chì là mảnh guong thủy tinh chữ nhật khoảng 12cm x 10cm x 3/4cm, được chế tạo sao cho khó vỡ khi có va chạm mạnh. Gương này thường được trang bị cho tụi tôi và nhân viên phi hành của Không Quân. Từ dưới đất, hướng về phía phi cơ dang bay trển trời, hơi ngược chiều ánh mặt trời, bạn lắc lắc chiếc gương; từ trên phi cơ sẽ thấy một vùng ánh sáng phản chiếu khá to giữa rừng cây xanh rậm để biết vị trí bạn đang ở đâu một cách dễ dàng. Còn panô, được gọi là “chiếu”, là mảnh vải nhựa plastic dày, kích thước quãng 8 tấc x 5 tấc; một mặt màu vàng , mặt kia màu đỏ cam. Màu này nổi bật chói chang giũa rừng cây nên dễ nhận biết. Tụi tôi thường may lót mặt trong của mũ đi rùng, khi cần dùng đến là lộn ngược ra đội lên và ngồi quây quần tạo thành một vòng tròn cho phi cơ Cobra dễ phân biệt “phe ta” và “phe địch” khi yểm trợ tiếp cận.

Trong trường hợp Toan bị thất lạc, khi tôi lên vùng thì chỉ liên lạc được với nhóm có máy để nghe báo cáo tình trạng toán, còn người thất lạc thì đâu có gì đễ liên lạc nên tối chỉ thấy ánh kiếng chiếu lên để báo cho phi cơ biết vị trí hiện tai. Trong trường họp này tôi làm việc với nhóm có máy để lo bốc nhóm này ra trước rồi sau đó mới điều động phi cơ đến bốc người bị thất lạc. Vì không có máy để liên lạc với nhau nẻn tôi không thể nào phân biệt được là có bị địch uy hiếp hay không, do đó tôi cho Cobra bay thấp và quan sát ghi nhận dấu hiệu địch, sau đó báo cho chiếc H.34 vừa bốc toán lên đáp xuống lần nữa với sự yểm trợ chặt chẽ của Cobra để Toán trưởng nhận diện người bị thất lạc hoặc nếu có bị uy hiếp ép buộc gọi phi cơ thì sẽ kịp thời phản ứng ngay.

Một lúc sau. đúng giờ hẹn ở “ Rendez-vous point “, phi cơ khu trục sẽ liên lạc với FAC để hai bên thấy rõ nhau và bắt đầu công tác yểm trợ, tùy theo tình hình hiện tại của toán để yểm trợ khi toán yêu cầu. Phi công O.2 hướng dẫn điều chỉnh oanh kích với khu trục qua trung gian của TKS theo yêu cầu của toán và cũng tùy tình trạng mục tiêu để sử dụng loại bom thích hợp. Thường thường Khu trục A1É trang bị bom 250 pounds và Napalm cùng đại liên 20 ly. Nếu chúng tôi thấy nhu cầu yểm trợ cần trang bị loại nào khác thì yêu cầu ngay khi gởi order cho Trung Tâm Không Trợ 2 (Peacock)

Loại phi cơ Skyraider A1E rất thích hợp với công tác của tụi tôi vì thời gian ở trên vùng lâu và trang bị dồi dào hợn phản lưc cơ A37. Phi đoàn khu trục thường xuyên làm việc với chúng tôi trên địa bàn này là Phi Đoàn 530 thuộc SĐ6KQ.danh hiệu là Jupiter hay Thái Dương Nhũng pilot Phi đoàn này như : Đ/Uy Hà, Đ/Uy Thặng, Chỉnh, Độ .. là những giọng nói quen thuộc trên vô tuyến khi làm việc với nhau và cũng chỉ quen nhau qua giọng nói mà thôi. Riêng Đ/Uy Hà thì ngày tôi còn đi toán, trong một phi vụ yểm trợ cho toán ở vùng Tam Biên, Phi cơ Đ/Úy Hà bị bắn nên phải nhảy dù , toán chúng tôi đã nhảy xuống để recue gần trại Ben Het.
Trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, trong một phi vụ yểm trợ thanh phố Kontum, Phi cơ Đ/Úy Thặng bị bắn phải đáp khẩn cấp ở trên cồn cát sông Dakbla và bị cháy, mang đi vĩnh viễn ngưới hùng của PD530. Lúc đó hình như tôi đang bay trên L.19 trong một công tác khác, hay tin này trên vô tuyến nên tôi bay ngang chỗ crash, lắc cánh chào tiễn biệt.

Phải công nhận là A1E đánh rất đẹp và chính xác. Cứ cho đánh single để thấy hai chiếc luân phiên nhào lộn lao vào đánh. Nghe hai chiếc trao dổi vô tuyến với nhau :” Number 1 rolling !, Number 2 rolling !” hoặc “ Số 2 đánh dài hơn 50 mét ! OK ! Number 2 rolling ! “ rồi nhào xuống; ngồi trên O2 nhìn thật là dã mắt. Có những khi Toán không cần yểm trợ của khu trục, tôi cho khu trục làm orbit đợi cho đến khi bốc toán ra xong xuôi, phi cơ O2 dẫn đến một điễm ghi nhận là kho tàng nào đó của CS để đánh cho hết bom hoặc đến free zone để làm B52 thả ào một phát cho xong. Trên đường về, FAC Mỹ bay formation với 2 chiêc Khu trục để quay phim. Thật là đẹp ! Sau A1E là loại F4 Phantom của một phi doàn Mỹ nào đó mà tôi không nhớ danh hiệu, pilot Phi Đoan này đánh cũng rất đẹp. Nhìn khu trục phản lực nhào lôn thiệt là khoái con mắt.
Sau phi tuần khu trục, các phương tiện đã tụ tập động đủ, tôi báo cho Toán chuẩn bỉ an ninh bãi đáp để cho H34 xuống triệt xuất, Hai Cobra nãy giờ ở trên cao chờ đợi, bây giò được lệnh xuống clear bãi . Chiếc sau theo chiếc trước bay vong vòng quanh bãi để quan sát và sẵn sàng yểm trợ theo yêu cầu trực tiếp của Toán trưởng qua tần số PRC25 của toán. Khi thấy bãi đáp an toàn, họ báo cho H34 xuống bốc toán ra. Ngồi trên O2 theo dõi diễn tiến và monitor qua các hệ thống truyền tin UHF, giữa các phi cơ với nhau, FM giữa toán và Cobra; tôi yên lặng để quan sát các phương tịện phối hợp nhau một cách nhịp nhàng trong công việc triệt xuât. Nhịp nhàng là vì chúng tôi đã làm việc với nhau thường xuyên nên hiểu rõ những gì cần làm trong những công tác này. Trường hơp LZ tốt, trực thăng đáp ngon lành thì toán leo lên phi cơ cũng ngon lành, đàng hoàng ngồi trên sàn phi cơ . Còn trường hợp bãi đáp xấu như : hẹp, có cây cao xung quanh nên trưc thăng không thể chạm đất dược. Trong trường hợp này Toán phải leo thang được thả xuống từ phi cơ trực thăng hay phải câu về.

Chuyến nhảy đầu tiên “ thử gió “ của tôi khi mới về đọn vị là tại vùng Hạ Lào. Vùng này nhiều núi nên kiếm bãi đáp rất khó. Sau 7 ngày hành quân an lành, tôi đi tìm bãi triệt xuất. Vì là chuyến đầu tiên nên chưa có kinh nghiệm . Khi tìm ra được một chỗ trống, tôi hỏi các toán viên, đứa nào cũng nói tốt rồi ông thầy, yên chí đi . Đến khi triệt xuất, phi cơ H34 len lỏi hoài cũng không đáp dược nên phải thả thang dây xuống. Theo nguyên tắc, khi triệt xuất Toán trưởng là người mang máy PRC25 để trực tiếp liên lạc với phi cơ và là người lên sau cùng. Tôi cố bám từng nấc thang để leo lên, nhưng máy truyền tin ghì tôi ra phía sau nên tôi không thể nào leo lên thêm được. Tôi bèn móc khoen sắt chữ D vào thanh thang bằng nhôm để giữ người tôi lại, hai tay móc vào thanh thang và ghì lấy ót, cứ thế mà đong đưa cho đến khi về đến trại Ben Het mới đáp xuống để tôi leo lên phi cơ với toán; các toán viên xúm lại bóp tay chân tôi vì bị tê sau gần nửa tiếng đồng hồ ngồi trong tư thế đó.â.
Còn trường hơp câu thì tôi chưa được nếm mùitrong hành quân nhưng qua huấn luyện thì tôi đã được thực hành như sau : Trên mỗi dây ba chạc mang băng dạn và bi đông nước có hai cái khoen chữ D móc trên vai; trực thăng thả xuống một sợi dây dù cò khoen sắt ở đầu dây được cột thêm bao cát cho nặng, toán viên chỉ cần móc khoen của mình vào khoen của sợi dây. Khi tất cả đã móc xong thì ra hiệu cho phi cơ bốc lên, thế là tòn teng câu về. Lối câu này có phần nguy hiểm vì trực thăng phải chú ý bốc cao khỏi ngọn cây rồi mới bay tới, nếu không người được câu sẽ va vào thân cây. Khi lên trên không, các người được câu phải ôm lấy nhau để đề phòng trường hợp dây bị xoắn vì gió.
Những chuyên nhảy sau đó là vùng cực Bắc Cam Bốt, phần lớn là đồng bằng nên tỉm bãi đáp dễ và tốt hơn nhiều .Khi ngồi được trên sàn phi cơ, tôi cảm thấy lòng nhẹ nhõm vì cả toán đã chấm dứt nhiệm vụ sau 7 ngày hành quân, chấm dưt những ngày lặn lội trong rừng già Trường Sơn, những đêm chui rúc giữa lùm bụi để tìm chỗ ngủ. Xin giã từ núi rừng Trường Sơn ! Chắc chắn chẳng bao giờ chúng tôi trở lại chốn này và chắc cũng chẳng bao giớ có ai khác đặt chân đến đây ! Trả lại sự yên lẵng âm u của núi rừng cho ngàn đời sau.
@ @ @
Trường hợp trên là Toán bị chạm địch chỉ thất lạc nhưng không có ai bị thương. Nếu có người bị thương với vết thương nặng thì có thể coi như bỏ xác trong rừng là chuyện thường. Các bạn thử tưởng tượng một toán di chuyển trong vùng rừng núi chập chùng với quân số 4 hay 6 người. mà một người bị thương.thì tình trạng di chuyển sẽ tệ hại như thế nào ? Rồi nếu bị địch theo dõi nữa thì sẽ ra sao ? Thật là thiên nan vạn nan...
Trong cuộc dòi nhảy toán tôi gặp hai trường hợp nguy khốn sau :

Vừa nhảy xuông qua được một đêm, ngày hôm sau di chuyễn đến mục tiêu vẫn chưa ghi nhận được gì; đến chiều chúng tôi dừng quân chuẩn bị chỗ ngủ . Trong lúc chờ trời tối để ngủ, tôi đang ngồi ngắm cảnh rừng núi âm u trong buổi hoàng hôn mà nhớ nhung lung tung : nhớ phố phường, nhớ các cô em gái hậu phương, ngồi tính nhẩm xem còn bao nhiêu ngày nữa thì được triệt xuất v.v... Người biệt kích quân dần đầu ném cục đất về phía tôi và chỉ chỉ ngón tay về hường nghi ngờ có địch; tôi mang lại dây đạn và cầm súng lên hướng về phía đó; tôi chưa nhìn đươc bóng dáng chú VC nào thì nghe có tiếng súng nổ ở phía người đi đầu. Tất cả toán cùng vùng dậy nổ súng đồng loạt hướng về phía đó rồi dán hàng ngang tiến về phía đỉnh. cách chỗ dừng quân khoạng 50 thước. Trời lúc này đã nhá nhem tối, đang cố bước lên dốc về phía đỉnh núi thì nghe một loạt súng nổ và nghe tiếng la của một toán viên : Chết toi rồi ông ơi ! “. Tôi cũng vừa chạy tới thì thấy người toán viên đang nằm lăn lộn; tôi bèn luồn tay vô dưới áo coi người này bị thương như thế nào thì ngón tay tôi lọt vô một lỗ sâu hoắm ở bên cạnh sườn ngang ngực., tôi biết ngay là vết thương rất nặng nên không thể nào mang theo được. Tôi không kịp lột một món gì đó để mang về làm bằng chứng và chạy tiếp theo anh em trong toán. Đêm đó chúng tôi di chuyển suốt đêm, hết trèo dốc lại tuột dốc để di chuyển ra xa khu vực chạm súng. Trời tối thăm thẳm, chúng tôi lần dò từng bước theo nhau, người sau theo người trước; lúc nào mệt thì ngồi dạng hai chân bám vào một thân cây để nghỉ và gục đầu vào thân cây để ngủ. Ngồi trên sườn núi, tôi nghe tiếng lội bì bõm của VC đang di tìm dọc theo suối , chúng vừa đi vừa nói chuyện nhưng nghe không rõ.
Nguyên ngày hôm sau di chuyển tương đối yên tĩnh, có lẽ đã ra khỏi “ổ kiến lửa”. Chúng tôi coi như mất điểm dứng vì di chuyển suốt đêm qua đâu có theo phương giác nào đâu; cứ chạy mệt thì ngối nghỉ, rồi lại di chuyển tiếip tục, cứ thế mà chạy trong đêm đen, đâu có ước lượng gì được quãng cách. Quãng gần trưa thì báo cáo được tình trạng hiện tại của toán và xin phi cơ chấm điểm đứng cho toán. Trong lúc đang liên lạc truyền tin thì nghe có tiếng động, chúng tôi vội bố trí hướng về phía đó. Tôi nằm quay đầu ngược hướng với người toán trưởng,là Ch/úy Minh tục gọi là Minh Lai; tôi quay đầu ra sau để nhìn xem tình hình như thề nào thì thấy Minh Lai ngồi bật dậy và nổ súng về hướng trước mặt hắn rồi quay người phóng vọt qua người tôi và chạy về hướng tay phải. Tôi cũng bật dậy và chạy về hướng trước mặt, Ch/Uy Tiếng và vài toán viên nữa chạy theo tôi, trong đó có người Hiệu thính viên. Chạy được quãng 10 thước tất cả chúng tôi dừng lại; tôi thì thào hỏi Ch/Uy Tiếng :” Mày tính sao ? “, “ Mày là toán phó thì tùy mày quyết điinh” Tiếng trả lời. Tôi cầm máy cấp cứu PRC.9 , lúc đó đang hoạt dộng, gọi cho Minh Lai nhưng không thấy trả lòi, thế là tôi quyết định cho tất cả những người còn lại tiếp tục di chuyển.

Tôi xin mở ngoặc để giải thích tại sao tôi là Toán Phó cho Ch/Uy Minh :
Ngày tôi là Toán Trưởng toán Sơn Lôi, trong chuyến hành quân đầu tiên, toán tôi được thả xuống mục tiêu quãng 5 giờ chiều. Người HSQ toán phó góp ý :” Ông báo cáo là mình xuống bãi bị đụng để được bốc về ngay đi. Xâm nhập trễ như vầy rất là nguy hiểm “. Thế là tôi làm theo. Sau đó toán được yểm trợ để dược triệt xuất.
Theo kinh nghiệm của những người đi nhảy toán lâu năm, thì xâm nhập vào giờ trễ như thế rất nguy hiểm cho Toán vì trời sắp tối Trong thời gian đầu vừa nhảy xuống, chúng tôi chưa nắm được tình hình khu vực như thế nào, nếu trong lúc di chuyển mà bị địch theo dõi hoặc chạm địch thì khó có được sứ yểm trợ tiếp cận và các phương tiện KQ không thể triệt xuất cấp tốc. Thông thường nếu vì bất cứ lý do gì mà cuộc đổ quân thực hiện ở thời điểm muộn như thế thì cuộc xâm nhập dược hoãn qua ngày hôm sau. Hôm đó không hiểu sao nguyên tắc này không được tôn trọng trong khi tôi là lính mới nên không biết điều này. Sau vụ này, Thiếu Tá CHT cho là tôi bị thuộc cấp mener nên đưa tôi qua làm Toán Phó cho Minh Lai và nhảy chuyên đầu tiên là bị như trên. Riêng Ch/Úy Tiếng thì là Si Quan mới được thuyên chuyển về Kontum từ CĐ3XK ở Ban Mê Thuột. lý do là “ chống Mỹ cứu nước “ sao đó ở đơn vị cũ và cũng sẵn chuyến hành quân này nên CHT cho đi theo với tính cách Quan Sát viên, do đó lần hành quân này, Toán có tới 3 Si Quan.
Trong lúc di chuyển, tôi báo cáo dược tình trạng hiện tại của Toán : một Toán viên được ghi nhận là chết và Toán Trưởng mất tích và xin triệt xuất khẩn cấp. Toán được bốc về trong ngày. Khi tái thuyết trình về chuyến hành quân vừa qua, tôi và Tiếng tường thuật các chi tiết diễn tiến; đơn vị cho phi cơ bay lên vùng để tìm kiếm xem có dấu vết gì của người bị mất tích không vì cũng có thể phải lẩn trốn đâu đó nên chưa có dịp ra liên lạc với phi cơ đang bay tìm. Nhưng sau ba ngày, tôi và Tiếng dẫn một toán khác nhảy trở lại mục tiêu cũ để tìm kiếm và lấy xác nếu có thể.. Nhưng sau một ngày lặn lội, chứng tôi không thấy gì cả, chỉ thấy những dấu vết trên thân cây bị đạn do cuộc giao tranh vừa rồi mà thôi. Trong lúc toán nằm tại bãi đáp để chờ trực thăng đến triêt xuất , Tộan lại bị theo dõi và chạm súng ; nhưng nhờ các phương tiện đều đang chuẩn bị nên khu trục có thể yểm trơ ngay và lần này Toán Trưởng của Toán chúng tôi đi cùng bị một mảnh bom chém ngay bắp vế, Kết quả cuối cùng là một chết mà không mang xác về được và một Sĩ Quan Toán Trưởng mất tích.

Lôi Hổ chết không người xây mộ,
Lá vàng rơi phủ lấy xác thân

Hai câu thơ trên đã nói lên trọn vẹn thân phận của người lính Biệt Kích khi tử trận. Đó là điều không thể tránh được vì với công tác của chúng tôi, thân ai nấy lo có nghĩa là tự mình phải mang tất cả những gì mình cần dùng khi đi hành quân, đâu có ai mang hộ cho mình; do đó làm sao mà khiêng thêm một người bị thương nặng đến độ không di chuyển được, nhất là với địa thế núi rừng Trường Sơn và trong lòng căn cứ địch.

Chuyến hành quân thứ hai với quân số 6 người. Vào ngày thứ nhì, trong lúc đang dừng quân nghỉ mệt, người Toán Phó bào cho tôi biết có địch theo dõi; tất cả trong tư thế sẵn sàng. Bỗng một loạt súng nổ rền, tôi chồm lên nổ về phía nghi ngờ. rồi dzọt. Người Trung Sĩ Toán phó, tên là Bảo, báo tôi biết là bị thương. Tôi quay lại coi thì thấy anh ta bị thương nơi mông, tôi hỏi có chạy được không thì anh ta trả lời là dược; thế là chúng tôi rút lui. Khi gom góp toán lại thì thấy một người vắng mặt, coi như tổng kết là một bị thương, một mất tích Chúng tôi tiếp tục rút lui trong cơn mưa tầm tả. Mưa rừng Trường Sơn dai dẳng, cứ rả rích mưa hoài, xung quanh được bao phủ một màn sương trắng đục, không khí lạnh phủ kín thung lũng một màn tráng xóa không còn nhìn thấy được gì cả.; Chúng tôi cứ thế` lần dò từng bước trơn trợt xuống triền dốc, lá vàng rơi rụng đã từ bao nhiêu đời phủ dày mặt dất. bị bước chân trơn làm lộ từng mãng lớn. Tôi bảo toán viên gài mìn M.14 dưới những mãng trơn trợt đó và tiếp tục di chuyển. Trung Sĩ Bảo cứ cà nhắc di chuyển theo toán; phần bị thương, phần ướt đẫm nước múa nên trông cứ tái xám. Ở nhà đã biết tình trạng chúng tôi nhưng vì thời tiết quá xấu, mây mù và mưa, nên không thể đưa phương tiện vào triệt xuất chúng tôi được. Đêm đến, tôi cuộn chung poncho với Trung Sĩ Bảo ngõ hầu ấm áp dược cho cả hai phần nào; bao nhiêu thuốc trụ sinh mang theo tôi đều xài cho Bảo. Nằm trên poncho mà cũng như không vì nước cứ lấp xấp vì mặt đất đều bị sũng nước mưa. Tôi trùm lại để dốt điếu thuốc hầu sưởi ấm cho Bảo.phần nào.
Trọn sáng ngày hôm sau vẫn tiếp tục di chuyển; trơìụ tương đối sáng sủa nhưng vẫn chưa tìm được bãi đáp. Chúng tôi hy vọng sẽ được triệt xuất trong ngày hôm nay vì thời tiết có vẻ sáng sủa, trời quang mây tạnh. Đang ngồi nghỉ mêt ở một triền núi , tôi bỗng nghe 2 tiếng nổ âm vang giữa núi rừng, cách nhau quãng vài ba giây, sau đó là một loạt súng AK. Thoạt đầu tôi nghĩ là địch pháo kích, nhưng người toán viên nói” Mìn Ch/Úy, mìn Ch/Úy”, tôi mới nhớ ra là mìn M.14 mình cho chôn hôm qua.. Thế là cả toán chạy tiếp vì biết là địch đang theo dấu vết của chúng tôi. Chắc là có vài tên VC đang mò mẫm theo dấu vết do chúng tôi để lại rồi đạp phải trái mìn chống người M.14, kế đó ngã đè lên trái thứ hai nổ tiếp, rồi mấy tên đi cùng hốt hoảng nổ súng.
Mãi đến chiều hôm đớ phương tiện mới vào bốc chúng tôi ra, trong lúc đang làm việc với chúng tôi, phi cơ O.2 cũng thấy kiếng chiếu lên của người đang bị thất lạc và sau đó bốc luôn.Trung sĩ Bảo được chữa tri và sau đó chân đi hơi khập khiễng vì vết thương ở mông. Tôi hỏi người toán viên bị thất lạc về những gì đã xảy ra thì anh ta kể :” Sau khi nghe nổ súng thì anh ta dzọt thẳng, sau đó nhìn lsị thì không thấy ai chạy theo nên anh ta kiếm chỗ trốn, chờ máy bay lên thì ra chiếu kiếng.
Trong hoạt đông cấp Toán của chúng tôi, đi hành quân càng ít người càng nhiều thuận lợi: trực thăng chỉ đáp xuống LZ một lần và vì chở nhẹ nên đáp nhanh và dễ, Toán di chuyển ít gây tiếng động, tập trung gọn gàng, chui rúc dễ dàng và cùng nhau chạy cũng gọn; buổi tối kiếm chỗ ngủ cũng dễ vì có ít người nên lùm bụi nhỏ nào cũng chui vào đươc cả....Cũng vì ít người, từ 4 đến 6 người, nên nếu chẳng may cò người bị thương nặng là coi như gởi xác lại trong rừng. Tính theo tỉ lệ thì binh chủng chúng tôi có tỉ lệ tử trân thấp nhất vì nhiệm vụ của chúng tôi là thám sát , theo dõi chứ đâu phải là nghênh chiến; lúc nào cũng chỉ lẫn tránh, rinh mò...bất đắc dĩ mới tao ngộ chiến. Mà khi tao ngộ, chúng tôi thường là người nổ súng trước rồi chạy vì trong rừng rậm, dù cho địch theo dõi cũng chỉ lần theo dấu vết hay theo hướng có tiếng động chứ khó mà trông thấy nhau. Trường hợp chúng tôi dừng chân ngồi nghỉ, địch đang đi theo, lò dò dẫn xác vào thì chỉ có ăn đạn thôi. Những chỗ địch thường đóng quân là ở những nơi gần suối hay vùng đất phẳng, đồng bằng để tiện sinh hoạt và trồng trọt, còn chúng tôi di chuyển thì thường là trên triền núi nên co thể chỉ nghe tiếng động do sinh hoạt gây nên chứ khó mà gặp mặt.
Thông thường là như thế, nhưng nếu Toán được thả ngay “ổ kiến lửa” thì thôi, không còn gì để noíù nữa vì có còn sống đậu để mà nói.


@ @ @



- Hello ! Xin lỗi có phải anh Nguyễn hữu Tho không ạ ?
- Dạ vâng, tôi đây ! Xin lỗi tôi đươc tiếp chuyện vơiù ai ?
- À ! Anh có quen ai tên là Trương thành Đao không ?
- Dạ biết chứ ! Trương thành Đạo trước ở B.15 mà !
- Thưa đúng vậy ! Tôi là vợ anh Đạo.
- Ồ ! Cô H. đó phải không ?

Thật là bất ngờ ngoàI cả dự định. Từ năm 1982, sau khi tôi ra khỏi trại cải tạo đến nay tôi mới lại liên lạc dược với cô H. Hai mươi hai năm rồi chứ ít gì !!
Tôi còn nhớ năm đó, khi vừa ra tù, tình cờ tôi gặp một người bạn cùng đơn vị , đang chạy xe ba bánh. Nó hỏi tôi còn nhớ cô H vợ thằng Đạo không và cho tôi biết tin tức và địa chỉ. Tôi liền đến thăm thì được cho biết tin là bạn tôi đã chết trên đuong vượt biên cùng với vợ con. Trên chuyến ghe chạy ra cửa biển để lên tàu lớn, ghe bị du kích chận bắt và nổ súng. trên ghe không ai bị đạn, chỉ có thằng bạn tôi lãnh một viên và chết tốt. Theo lời kể, nó cũng ra tù cùng một thời điểm với tôi, nghĩa là cũng đã gỡ 6.1/2 cúốn lịch.nhưng ở khác trại. Vài tháng sau có chuyến đi mà gia dình đã chuẩn bị từ trước nên đem nó theo. Bẵng đi từ đó, tôi không còn biết tin tức gì nữa về cô H và hai cháu.

Trương thành Đạo là một trong những Sĩ Quan vễ Sở Liên Lạc sau khi ra trường Bộ Binh TĐ; nhưng nó thì về Ban Mê Thuột, còn tôi thì về Kontum. Vài tháng sau nó cũng chuyển về Kontum chung đơn vị với tôi là B.15.
Chiến Doàn 2 Xung Kích lúc đó thành lập 10 toán Việt Nam , tên các toán có chữ thứ hai là LÔI, chỉ khác nhau chữ đầu : Phong Lôi, Hỏa Lôi, Kim Lôi...... Toán của Đạo là Thiên Lôi. Toán này có cái đặc biệt là sử dụng toán viên là cán binh Việt Cộng chiêu hồi, được tuyển dụng từ Trung Tâm Chiêu Hồi Thị Nghè. Theo tôi nhớ, toán này gồm 3,4 cán binh MTGPMN và 1 Bộ đội CSBV. Với những người miền Nam, họ nói chuyện cởi mở trong khi chuyện trò, còn người Cán binh miền Bắc thì có vẻ ngổ ngào hơn. Thỉnh thoảng hắn nói to lên những lời thông báo trên loa báo động cho dân chúng biết máy bay Mỹ đang đến oanh tạc. Lúc đó tôi nghe những lời này và có cảm tưởng hơi quái đản vì không hề nghe thấy bao giờ trước đó. Sau 4/75, chắc hẳn các bạn cũng đã nghe trên loa phóng thanh những lời thông báo chua như dấm chứ gì !
Vì toàn là Chiêu hồi nên Đạo chỉ có nhiệm vụ huấn luyện và tổ chức hành quân chứ không nhảy cùng với toán của mình như các toán khác. Các toán viên của toán Thiên Lôi cũng sinh hoạt bình thường như chung tôi trong doanh trại. Tuy nhiên dưới mắt tôi lúc đó thì cũng hơi tò mò vì các thành phần chiêu hồi này. Một vài lần nói chuyện với họ, tôi cũng hỏi thăm về những sinh hoạt của họ trong đơn vị CS trước đây; ngoài ra tôi cũng không chú ý đến công tác của toán này. Tôi chỉ nhớ khi tôi đi bay liên lạc hàng ngày, thì ngày hôm trước tôi thấy toán ở một vị trí, đến hôm sau thì họ đã ở cách chỗ ngày hôm qua hàng vài ba cây số. Và mỗi lần báo cáo, họ báo cáo rất to chứ không thì thào như chúng tôi.Thì ra với kinh nghiệm vượt Trường Sơn để xâm nhập vô miền Nam, họ dã quá biết tình hình hoạt động trong rừng của các đơn vị CS nên khi quan sát những dấu vết còn để lại, họ biết là có hay không có người đang ở quanh đây nên họ không cần dè dặt như chúng tôi. Hơn nữa với tình hình ghi nhận như thế, họ cứ phom phom đi theo đường mòn trên đỉnh núi chứ đâu cần dò dẫm và băng rừng vượt núi theo phương giác như chúng tôi. Thả họ vô rừng như thả hổ về rừng, họ mặc sức tung hoành mà không cần huấn luyện kỹ càng như chúng` tôi đã được huấn luyện trước đây. Và cũng chính vì thế mà người toán trưởng không thể đi hành quân chung với họ. Tin thế nào dược !!!
Thường thường, một mục tiêu có giới hạn trên bản đồ là 6 ô vuông, tức là một khu vực 36 cây số vuông. Khi nhận lệnh hành quân và nghiên cứu tình hình, nhiệm vụ, cũng chỉ trong giới hạn đó mà thôi. Thiết kế lộ trình di chuyển trong thời gian hành quân 7 ngày , chúng tôi di chuyển quanh quẩn khoảng vài cây số từ bãi đáp nhảy xuống cho đến bãi đáp triệt xuất. Bao nhiêu đó cũng đã quá mệt cho chúng tôi vì phải di chuyển vượt từ sườn núi này qua sườn núi khác, rồi băng rừng vượt suối. Có những khu vực rừng già thì di chuyển tương đối dễ, chỉ bị trơn trợt vào mùa mưa vì lá rụng dày dặt, chồng chất có lẽ từ thuở khai thiên lập địa cho đến ngày chúng tôi đặt chân đến. Còn gặp phải rừng tre thì chỉ có nước khóc ròng vì tre giăng chằng chịt, rồi gai góc, muỗi, vắt; dây leo, chúng tôi phải lần dò từng bước...làm sao mà di chuyển cho nhanh được ! Có nhừng loại gai rất là quái ác: nhìn nó to, cong như sừng trâu, mũi rất nhọn, quái ác là nó mọc ngược nên luôn luôn chực móc vào mọi vật khi tiến tới. Bị nó móc là phải dừng lại ngay vì nó giữ chặt không sao bước tới được, rồi mới từ từ gỡ ra đi tiếp; nếu lỡ trớn bước tới là áo quần bị rách ngay. Với các toán thì mục tiêu giới hạn là như thế; nhưng với toán Thiên Lôi thì không giới hạn vì như đã trình bày ở trên, giới hạn thế nào được khi thả họ xuống một nơi mà không có người đang sinh hoạt do đó họ đâu cần lần dò từng bước như chúng tôi. Quân phục và vũ khí của họ cũng dược trang bị như của cán binh xâm nhập nên họ không ngại ngần khi tao ngộ chiến. Chắc hẳn cũng sẽ hỏi thăm nhau : “đồng chí thế này, thế kia ...” rồi dường ai nấy đi chứ không cần nổ ngay như trường hợp chúng tôi gặp tao ngộ chiến. Đó cũng là một lợi thế trong loại công tác của chúng tôi mà không phải dễ dàng gì được huấn luyện hoặc giả dạng được vì cỏn tùy thuộc vào giong nói, vóc dáng, những am tường về tình hình hoạt động của CS trong đường dây xâm nhập v.v...Măt mũi như tôi, đen đũi, để bộ râu mép rậm rạp và không có nét “răng hô mã tấu” thì làm sao mà tin được tôi là cán bộ CS đang trên đường xâm nhập !
Về sau này, tôi cũng không còn nhớ vì lý do gì và kễ từ lúc nào toán Thiên Lôi không còn hoạt động nữa và Trương thành Đạo đã đảm trách một công việc khác của đơn vị, hình như là về Không Ảnh.

Cô H. đã nói với tôi là tình cờ đọc được bài viết trên báo Lý Tưởng viết về B.15 với tên ký là Lôi Hổ Nguyễn hữu Tho thì không còn nghi ngờ gì nữa nên đã gọi phone cho tôi theo như số phone tôi ghi trong bài. Và cũng từ đó tôi bắt liên lạc được với một người quen đã bặt tin từ 22 năm nay.ỉ Sau chuyến vượt biên thất bại, hậu quả là góa bụa, vài tháng sau có chuyến đi nữa, cô H. và hai con đi tiếp và thoát đến bến bờ tự do.Tự do mà cô đã phải trả bằng một giá quá đắt
Cũng qua bài viết “ Xá gì SA.7 !!!” đăng trên Lý Tưởng số phát hành tháng 3/04, tôi cũng liên lạc được với BS Bùi trọng Căn, Trưởng Ty Y Tế Pleiku qua sự giới thiệu cùa BS Nguyễn gia Tiến, Bác Sĩ Không Quân, hiện đang ở Thụy Sĩ Rồi từ Bác Sĩ Căn, tôi liên lạc được với những người bạn bặt tin từ 40 năm nay. Và vui nhất là cũng nhờ BS Căn, tôi liên lạc được với Trung Úy Lê nghĩa Dũng, Quân Vận Khu Pleiku là em của Bác Sĩ Lê thiện Ý LLĐB/QK2., hiện đang ở Canada. Ngoài ra còn có anh Bun, PĐ229 cũng gọi phone cho tôi để chuyện trò về những lần thả toán trước đây
Năm 1999, trong lần về Cali để thăm Thủ Đô Tị nạn, tôi được dịp gặp gỡ những bản bè cùng Binh chủng hoặc cùng đơn vị xưa kia. Ngoài hàn huyên và nhắc lại chuyện xưa tích cũ, có một chị vợ người bạn là dân Kontum, cho biết là vừa về VN và ra Kontum thăm gia đình, theo lời chị ấy thì doanh trại của B.15 trước đây, giờ không còn một dấu tích gì . Và cũng theo lời cô H. thì trong một chuyến về VN, theo ông anh lên Pleiku công tác, có ghé lên Kontum, cô không còn tìm được một dấu vết gì ngày trước. Mọi hình ảnh của B15 và phố phường của Kontum không còn lưu lại một tí dấu tích gì của gần 30 năm về trước. Tất cả đã đổi thay ! Nếu có hỏi lớp người ở lứa tuổi 30, 35 hiện tại về B15, ai cũng lắc đầu không biết nó là cái quái gì.

Tất cả giờ đây chỉ còn là ký ức và rồi cũng sẽ phôi pha cùng thời gian. Lớp lính tráng Lôi Hổ năm xưa , đã một thời ngang dọc, tung hoành trong núi rừng Trường Sơn, đã một thời quậy phá thị xã Kontum cũng dần dần già nua tàn lụi theo năm tháng. Người ra đi mang kiếp lưu vong, không quê hương,; kẻ ở lại ngậm dắng nuốt cay trong muôn vàn khổ cưc; vất vưởng trong xã hội mà kẻ thắng trận đang tàn phá đất nước và rồi sẽ xuôi tay nhắm mắt , ôm theo nỗi tiếc nuối của một thơi dọc ngang.

Tháng 4 Đen, 2004
Lôi Hổ Nguyễn hữu Thọ
CĐ2XK/SLL/NKT/TTM
B15 - Kontum

219 Bui Ta Khanh noi Ve Biet Kich


Kể chuyện về Lính Biệt Kích.

Hồi mặt trận An Lộc, báo chí có nói tới hai câu thơ của cô giáo Pha viết trên bức tường của một ngôi trường bị bom đạn đã làm đổ xụp:

-An Lộc địa sử ghi chiến tích
Biệt Cách Dù vị quốc vong thân

Tôi tuy cũng là quân nhân đối diện với cái chết thường xuyên, nhưng với những Binh chủng oai hùng như BĐQ, Nhảy Dù hoặc TQLC thì lòng rất ngưỡng mộ; còn về Biệt Cách Dù thì cũng từng nghe thấy báo chí đề cập tới Liên Đoàn 81, nhưng cũng không biết đơn vị này thuộc lực lượng nào và do ai chỉ huy, đóng quân ở đâu v v...
Hồi qua núi Sơn Chà, Đà Nẵng đi đổ toán thì chỉ biết tại đây có trại Lôi Hổ, họ ăn mặc quần áo kaki Nam Định của lính chính quy BV, trang bị AK báng xếp, những toán viên mặt lạnh như tiền, ngồi im lìm không hề gợi chuyện với ai, kể cả với phi hành đoàn.

Rồi cách đây gần 10 năm, khi tôi đang đổ lại miếng cement đằng trước nhà, thì thấy có ba người trạc bằng tuổi tôi, mà lại đi với mấy bà vợ, nhòm nhòm ngó ngó như muốn tìm nhà để mướn, nên tôi chào hỏi. Họ cũng đứng lại nói dăm ba câu chuyện và tỏ thực là dân HO mới qua, giờ sống chung trong căn Apartment chật chội quá, muốn đi thuê căn nhà cho thoải mái hơn.
Tôi hỏi các anh bị tù bao lâu. Họ đáp có người 20 năm, có người 30 năm. Tôi ngạc nhiên hỏi vặn, vậy chớ các anh cấp cao lắm hay sao mà ở lâu vậy? Họ nói là bị ở lâu là vì bị bắt ngoài Bắc hồi năm sáu mấy mà đến gần cuối thập niên 90 mới ra.
Sau cùng tôi mới vỡ lẽ là họ thuộc toán nhảy ra Bắc.
Vì công việc cũng đang cần người, nên tôi có nhận một anh đi làm chung. Nghe nói về quá khứ của anh, người bạn tôi cũng kể là hồi xưa anh ta là HSQ đi học lớp Truyền Tin, trong đó có một Nữ Quân Nhân, sau này cô ấy nhảy toán ra Bắc và bị bắt ở ngoài đó.
Anh Bạn Biệt Kích trầm ngâm rồi nói rằng:
-Không có đâu anh. Nhiều người thuộc lực lượng khác, có khi họ chỉ nhảy trong nội địa hoặc qua bên kia biên giới Miên, Lào. Những toán nhảy Bắc tôi biết tên hết vì bị nhốt chung với nhau khá lâu, mà khi huấn luyện ở căn cứ Long Thành thì cũng biết nhau nữa. Nữ toán viên không có người nào đâu, và nếu có cũng không có ai bị bắt.

Sau này tôi đọc bài viết của ông Phan Lạc Phúc, có đề cập tới Người tù Kiệt Xuất Đ/uy Nguyễn Hữu Luyện cũng nhảy toán ra Bắc rồi bị bắt.
Tôi tìm hiểu qua anh bạn tôi, nhưng anh chỉ là một toán viên thường nên kiến thức tổng thể về đơn vị không có nhiều, vì thế tôi vẫn còn mù mờ về lính Biệt Kích.
Cho đến hôm nay, nghe anh Lôi Hổ Nguyễn Hữu Thọ kể lại, tôi mới biết nhiều về lực lượng này.
Lực Lượng Đặc Biệt được thành lập thời cố TT Ngô Đình Diệm, mang một cái tên rất hiền lành là Sở Khai Thác Địa Hình do Đại Tá Lê Quang Tung chỉ huy, nhưng đặt trực tiếp dưới sự chỉ đạo của TT hoặc ông Ngô Đình Nhu. Trong cơ cấu tổ chức của sở thì có phòng E hay phòng 45 đặc trách nhiệm vụ tình báo bên kia vĩ tuyến 17 thường được gọi là Sở Bắc. Toán ra Bắc thường là ba bốn người, nhưng cũng có những toán một người về qua ngả chính thức từ Lào, Miên hay Pháp ... dưới vỏ bọc là Việt Kiều.

Đầu năm 63, Sở Khai Thác đổi thành Bộ Tư Lệnh LLĐB với hai Liên Đoàn 77 và 31. Sở Bắc vẫn duy trì và phối hợp với Toà Đại Sứ Hoa Kỳ.
Chính biến 1-11-63 xẩy ra và Đại Tá Tung bị giết chết vì không chịu phản bội TT Diệm. Sau đó Bộ Tư Lệnh LLĐB bị chuyển ra đóng ở Nha Trang.
Sở Bắc được tách ra khỏi LLĐB lấy tên là Sở Khai Thác đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tổng Tham Mưu. Chỉ Huy Trưởng là Đại Tá Trần Văn Hổ và các Cố Vấn Mỹ của MACV.
Cùng thời gian này Sở Liên Lạc được thành lập với nhiệm vụ hoạt động xâm nhập ngoại biên trên đất Lào và Campuchia. Các toán Thám Sát được gọi là Lôi Hổ (Thundering Tiger). Chỉ Huy Trưởng của SLL là Đại Tá Hồ Tiêu và đơn vị đóng gần sân banh Quân Đội cạnh bộ Tổng Tham Mưu.
Tóm lại, Sở Bắc (Sở Khai Thác) là toán Biệt Kích nhảy ra ngoài Bắc, Sở Liên Lạc là toán Lôi Hổ nhảy qua Lào và Miên. Cả hai Sở này thuộc Nha Kỹ Thuật, phòng 7 Bộ TTM.
Còn Biệt Kích Delta cũng là toán LLĐB, nhưng nhảy trong nội địa.


Đến năm 1971 thì sự yểm trợ của Mỹ giảm bớt rất nhiều nên LLĐB giải tán
TT Thiệu ra lệnh cho Nha Kỹ Thuật gom lại thành những sở sau đây:
-Sở Liên Lạc
-Sở Không Yểm (liên quan đến KQ)
-Sở Phòng Vệ Duyên Hải (HQ và Người Nhái)
-Sở Tâm Lý Chiến (Đài Phát Thanh Mẹ VN và Đài Gươm Thiêng Ái Quốc)
-Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng (Long Thành)
-Sở Công Tác gồm Đoàn 11 và 68 đã có từ trước và khi LLĐB giải tán thì lập thêm Đoàn 71, 72 và 75.

Bây giờ tôi xin nói về Biệt Cách Dù:

-Trước Mậu Thân 1968 LLĐB có 1 Tiểu Đoàn mang tên là 81 Biệt Cách để yểm trợ hành quân cho các toán Delta. TĐ này hoàn toàn là lính QĐVNCH chứ không có CIDG (Dân sự chiến đấu do Mỹ trả lương). Khi các toán Delta đi nhảy toán khám phá ra sự chuyển quân, nơi đóng quân hay kho tàng của VC thì thường gọi KQ đến thanh toán, nhưng cũng đôi khi cần đến lực lượng bộ chiến thì đã có đơn vị Biệt Cách Dù này. Họ chiến đấu dũng mãnh còn hơn Tổng Trừ Bị nữa.
Hồi Mậu Thân, vị TĐ Trưởng BC 81 là Th/t Quế đã tử trận.
Sau 1970, LLĐB giải tán, các căn cứ LLĐB dọc biên giới đổi thành Tiểu đoàn BĐQ Biên Phòng, còn các căn cứ sâu trong nội địa chuyển qua Địa Phương Quân trực thuộc Tiểu Khu của Tỉnh sở tại.
Các SQ và HSQ kỳ cựu danh tiếng hầu hết được rút về Phòng 7 TTM, hoặc BĐQ còn thì về BCD hết.
Lúc này TĐ 81 BCD đã tăng quân số và trở thành Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù, đổi huy hiệu của LLĐB từ con cọp nhảy qua dù thành con chim ưng lồng trong hình tam giác. Họ vẫn giữ bê rê nồi màu xanh, có dù màu đỏ. Những chiến sĩ này vì nhớ tới nguồn gốc đơn vị cũ nên vẫn còn mang trên vai áo huy hiệu LLĐB còn bên kia là BCD.
Như vậy LLĐB chính là tiền thân của BCD.

Bây giờ trở lại với các Chiến Đoàn Xung Kích của Lôi Hổ:
-CĐ1 thường nhảy qua vùng thượng Lào, từ Đông Hà theo đường số 9, bay ngang Khe Sanh mà vượt biên giới. Nơi đây đồi núi chập chùng nên khi đã nhảy xuống đất rồi thì di chuyển rất khó khăn. Các máy bay H34 cổ lỗ sĩ của Phi Đoàn 219 lại tỏ ra rất hữu hiệu, nhất là khi bốc hay đổ toán. Nó có động cơ nổ 10 máy nên chịu đạn "chì" hơn loại UH bán phản lực sau này. Thường thì sau khi đã có SQ Tiền Không Sát đi chụp hình bãi đáp ngày hôm trước bằng phi cơ quan sát, cả toán Lôi Hổ, CHT và Trưởng Phi cơ đã vào phòng thuyết trình Hành Quân, và khi đầy đủ TT Võ Trang hay khu trục hộ tống, thì 3 chiếc H34 sẽ vào vùng, họ bay rất cao và chiếc chở toán sẽ cúp ga, làm một cú lá vàng rơi xoắn ốc cho đến gần mặt đất mới tăng ga để đáp.
Làm Auto Rotation như thế thì mới tránh khỏi bị bắn rơi, nhưng tay Pilot phải rất giỏi và kinh nghiệm đầy mình.
Đổ quân vùng này thì ngoài sự đối đầu với cán binh BV, còn đôi khi phải chơi luôn cả phe Pathet Lào nữa.
Chuyến bay tử thần vào đồi 31 Hạ Lào

Kingbee Bùi Tá Khánh.

Chuyện về cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh sang Hạ Lào nhằm cắt đứt đường mòn HCM đã được nhiều người viết ra. Ðầu tiên là nhà văn Phạm Huấn với quyển "Trận Hạ Lào năm 1971", rồi nhà văn nhảy Dù Lê Ðình Châu, đại uý đại đội trưởng đại đội công vụ nằm vòng đai bảo vệ cho Lữ đoàn 3 nhảy Dù trên đồi 31 cũng ra mắt quyển "Ðôi mắt người Tù Binh", và anh Nguyễn Văn Long, thiếu uý sĩ quan phụ tá ban 2 Lữ Ðoàn 3 nhảy Dù vẫn thường xuyên viết về Hạ Lào cho Ðặc San Nhảy Dù ở Úc Châu. Ở đây, tôi chỉ ghi lại câu chuyện như là một mẩu hồi ức dưới mắt nhìn của một người lính Không Quân.

Tôi là một hoa tiêu phục vụ trong phi đoàn 219, thuộc Không Ðoàn 51, Sư Ðoàn I KQ trú đóng tại Ðà Nẵng. Phi đoàn 219 là hậu thân của biệt đoàn 83 với nhiệm vụ tiến hành cuộc chiến tranh thầm lặng trong bóng tối nhằm gây rối, phá hoại hậu phương của địch. Vì thế tất cả phi cơ của phi đoàn 219 chỉ sơn toàn bệt màu đen và xanh lá cây xẫm bên trên phần bụng trắng và không mang phù hiệu hay cờ gì cả ngoài số serial number mà thôi.
Là một phi đoàn chỉ thi hành những phi vụ đặc biệt ngoài lãnh thổ và ngoài những cuộc hành quân bình thường, nhưng trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, nằm trong kế hoạch được mệnh danh là Việt hoá chiến tranh, một cuộc hành quân quan trọng lần đầu tiên hoàn toàn do QLVNCH đảm nhiệm với sự yểm trợ tối thiểu của không lực Hoa Kỳ trong những ngày đầu với những loại trực thăng khổng lồ chuyên chở những xe cơ giới hạng nặng như xe ủi đất, lô cốt tiền chế, đại pháo 105 và 155 ly để QLVNCH dọn bãi thiết lập những căn cứ hoả lực đầu cầu trên đất Lào. Vì thế nên Quân Ðoàn I đã phải trưng dụng tất cả những đơn vị KQ trực thuộc Sư Ðoàn I KQ trong đó có phi đoàn 219.
Như vậy phi đoàn chúng tôi, ngoài những phi vụ đặc biệt thường lệ, lại phải đảm nhiệm thêm việc yểm trợ cho Sư Ðoàn Dù, một trong 3 lực lượng nòng cốt trong cuộc hành quân Lam Sơn 719. Mỗi ngày phi đoàn 219 tăng phái một phi đội gồm 2 hoặc 3 chiếc H34 nằm trực chiến tại Khe Sanh, nơi đặt bản doanh Bộ chỉ huy tiền phương Sư Ðoàn Dù. Từ đây chúng tôi xuất phát những phi vụ tiếp tế lương thực, đạn dược cho các căn cứ hoả lực 29, 30 , 31 và các đơn vị hành quân lục soát bên ngoài căn cứ. Những phi vụ này thường là rất "hot", nhưng "hot" nhất vẫn là những phi vụ tải thương cho binh sĩ nhảy Dù khi có đụng độ với quân cộng sản Bắc Việt. Và chuyện này xảy ra như cơm bữa hàng ngày nên chúng tôi coi như pha. Chúng tôi cứ luân phiên nhau mỗi phi đội trực chiến cho Sư Ðoàn Dù 4 ngày rồi trở về Ðà Nẵng tiếp tục những phi vụ thường nhật.

Hôm nay đến phiên trực của chúng tôi. Phi đội gồm có 2 phi cơ do anh Chung tử Bửu lead, tôi copilot và Nguyễn văn Em là mê vô, chiếc thứ hai tôi chỉ nhớ hoa tiêu chánh là anh Yên. Chúng tôi vào phi đoàn nhận lệnh vào lúc 8 giờ sáng rồi chia tay nhau về nhà sửa soạn hành trang, hẹn gặp nhau lúc 10 giờ ngoài phi đạo 219.

Ðúng giờ hẹn, chúng tôi ra phi cơ làm tiền phi, check nhớt, xăng, load những cơ phận sửa chữa dự trữ, đồ nghề và anh em kỹ thuật 219 rồi cất cánh, trực chỉ Ðông Hà, Quảng Trị. Khoảng quá trưa thì chúng tôi ra đến Khe Sanh. Vừa đến nơi, không màng ăn trưa vì nóng lòng muốn cứu đồng đội nên chúng tôi quyết định phải vào ngay đồi 31 chứ không thể đợi lâu hơn được. Trong khi anh Bửu vào trình diện với Bộ Chỉ Huy Tiền Phương SÐ Dù để đặt kế hoạch cho chuyến bay thì tôi và mêvô Em đi check lại máy bay. Xăng vẫn còn đầy bình trước, dư sức bay không cần phải refuel.

Một lát sau từ phòng briefing ra, anh Bửu vắn tắt cho anh em biết về phi vụ quyết tử này. Chuyến vào chúng ta sẽ chở theo một tiểu đội Tác chiến Điện tử Dù cùng với 18 chiếc máy "sensor" vào tăng phái cho căn cứ 31 dùng để phát giác đặc công địch, chuyến ra sẽ rước phi hành đoàn anh Nguyễn thanh Giang về. 15 phút trước khi lên vùng, pháo binh Dù sẽ bắn dọn đường mở một hành lang dọc theo quốc lộ 9, dập vào những địa điểm được ghi nhận có phòng không địch vì tình hình lúc này rất gây cấn, địch tập trung lên đến cấp tiểu đoàn phòng không gồm đủ loại từ 37 mm, 12ly7 và lần đầu tiên còn nghe có cả SA7 nữa.
Về không trợ thì có 2 chiếc Gunship của phi đoàn 213 do trung uý Thục bay trước mở đường.

Trước đó trong lúc briefing, anh Bửu đã được nói chuyện trực tiếp với anh Giang từ trong đồi 31 và được biết, ngày hôm qua khi bay vào vùng anh Giang đã dùng chiến thuật "lá vàng rơi", từ trên cao cúp máy auto xoáy trôn ốc xuống, nhưng vì phòng không địch quá dày đặc nên khi gần đến đất, phi cơ anh bị trúng đạn rớt xuống gãy đuôi nằm bên cạnh vòng rào phòng thủ ngoài cùng của Lữ Ðoàn 3 Dù. Phi hành đoàn vô sự, chỉ có copilot là Võ văn On bị xây xát nhẹ ở cổ, tất cả chạy thoát được vào trong căn cứ Dù. Nhưng trước khi bỏ phi cơ, mêvô Trần hùng Sơn không quên vác theo cả cây M60 trên cửa máy bay nữa. Rút kinh nghiệm, hôm nay anh Bửu bay Rase Motte sát ngọn cây theo hướng Ðông-Tây đi vào. Trên đường bay dọc theo quốc lộ số 9 tôi còn nhìn thấy những cột khói bốc lên nghi ngút, chứng tỏ pháo binh Dù bắn rất chính xác và hiệu qủa. Gần đến LZ anh Bửu đổi hướng lấy cấp Ðông Nam-Tây Bắc để đáp xuống. Vừa ló ra khỏi rặng cây, tôi đã thấy chiếc Gunship của trung uý Thục bay vòng lại, cùng với tiếng anh la lên trong máy "Bửu coi chừng phòng không ở hướng Tây". Từ trên phi cơ nhìn xuống, giữa màu xanh trùng điệp của rừng cây nhiệt đới, ngọn đồi 31 đỏ quạch nổi bật với những đốm bụi đất tung lên từng cơn vì đạn pháo kích quấy phá của cộng quân Bắc Việt.
Không nao núng, anh Bửu vẫn điềm tĩnh tiếp tục đáp xuống. Khi phi cơ còn cách mặt đất độ 15 thước thì trúng một tràng đạn phòng không, phi cơ phát hoả, bùng lên một đám khói bao trùm cả phi cơ, mêvô Em la lên khẩn cấp trong máy "Đáp xuống, đáp xuống anh Bửu ơi, máy bay cháy".
Cùng lúc anh Bửu cũng cao tiếng báo động cho chiếc wing "Yên ơi, tao bị trúng đạn rồi, đừng xuống nữa" trong khi vẫn bình tĩnh đáp xuống. May mắn là đạn trúng vào bình xăng phụ đã hết xăng, chỉ còn ít hơi đốt, nên phi cơ không bắt cháy như phi cơ đại uý An ở Bù Ðốp hôm nào. Vừa chạm đất, theo phản xạ tôi cùng anh Bửu nhanh tay tắt gió, xăng, điện rồi nhảy ra khỏi phi cơ. Mọi người chạy ngược lên đồi về phía hàng rào phòng thủ thứ nhất của đại đội công vụ Dù cách khoảng 100 thước. Tôi còn tiếc chiếc xách tay quần áo nên phóng vào trong phi cơ để lấy. Một cảnh thương tâm hiện ra trước mắt, một binh sĩ Dù bị trúng đạn ngay giữa trán, nằm ngửa chết ngay trên ghế. Trên sàn tàu, đống máy "sensor" vẫn còn nguyên vẹn. Tôi chỉ kịp vớ lấy cái xách tay rồi phóng chạy lên đồi theo những tiếng kêu gọi của binh sĩ Dù "trên đây nè thiếu uý, tụi tôi bắn yểm trợ cho". Tôi lom khom chạy trong khi tiếng đạn nổ lóc chóc trên đầu. Lên đến nơi tôi thở như bò rống. Không quân mà hành quân dưới đất thì phải biết là mệt đến đâu. Tôi nhớ mãi hôm đó là ngày 22 tháng 2 năm 1971.

Vừa ngồi nghỉ mệt, tôi vừa nhìn xuống bãi tải thương nơi chiếc phi cơ đang đậu hiền lành, thì cũng vừa lúc địch điều chỉnh tác xạ, một quả đạn đạn súng cối rơi trúng ngay tàu nổ tung, bốc cháy khói đen mù mịt cả một góc trời. Tôi nhìn con tàu xụm xuống, lòng quặn lên. Con tàu thân thương đó đã gần gụi với mình lâu nay, giờ thành một đống sắt vụn.

Một lát sau, theo chỉ dẫn của anh em binh sĩ Dù, chúng tôi men theo giao thông hào lần về đến ban chỉ huy Lữ Ðoàn 3 Dù. Gặp lại phi hành đoàn anh Giang, On, Sơn anh em chúng tôi mừng rỡ thăm hỏi rối rít. Chúng tôi được giới thiệu với các sĩ quan trong ban tham mưu Lữ Ðoàn 3. Ðầu tiên là đại tá Thọ lữ đoàn trưởng Lữ Ðoàn 3, thiếu tá Ðức trưởng ban 3, dại uý Trụ phụ tá ban 3, đại uý Nghĩa sĩ quan liên lạc KQ, trung uý Chính sĩ quan Không trợ Dù, thiếu uý Long phụ tá ban 2. Về phía pháo binh thì có trung tá Châu tiểu đoàn trưởng và đại uý Thương trưởng ban 3 thuộc tiểu đoàn 3 pháo binh Dù. Ðại tá Thọ mừng anh em "mới đến" mỗi người một điếu Havatampa và một ly Hennessy để lấy lại tinh thần. Tôi ngạc nhiên vô cùng, đi đánh giặc, nằm ở tuyến đầu ác liệt vậy mà mấy "ông" nhảy Dù vẫn thản nhiên hút sì-gà Cuba và uống rượu Mỹ như máy! Quả các anh ăn chơi cũng dữ mà đánh giặc cũng chì thật.

Buổi chiều vùng rừng núi trời tối thật nhanh, chúng tôi dùng tạm bữa cơm dã chiến với ban tham mưu Lữ Ðoàn rồi chia nhau ngủ ké với anh em Dù. Tôi được ngủ chung một hầm với anh Nguyễn quốc Trụ, một sĩ quan trẻ xuất thân khóa 20 trường Võ Bị Ðà Lạt. Anh cũng là anh ruột của trung uý Nguyễn hải Hoàn, một hoa tiêu chánh trong phi đoàn tôi. Tin tức chiến sự mỗi ngày một căng thẳng hơn vì đối với cộng sản bắc Việt, sự hiện diện của căn cứ 31 trên hệ thống đường mòn HCM như một lưỡi dao đâm thẳng vào yết hầu của chúng. Vì thế cộng quân đưa thêm quân vào tạo áp lực nặng nề lên căn cứ 31 với ý định đánh bật căn cứ này ra khỏi sinh lộ của chúng.

Hai hôm sau, vẫn không có chuyến bay tiếp tế nào vào được vì địch quân luôn di động dàn phòng không của chúng khiến KQVN và HK không phát huy được ưu thế của mình. Mỗi sáng, chỉ có 2 phi tuần F4 đến ném bom vài khu vực khả nghi chung quanh đồi 31 và thỉnh thoảng mới có một đợt B52 rải thảm ì ầm xa xa vọng đến rồi mọi sự lại chìm vào rừng núi trùng điệp. Ngược lại, quân bắc Việt tập trung bao vây, tăng cường pháo kích suốt ngày nhằm quấy rối và làm tiêu hao lực lượng Dù.

Sáng ngày 25 tháng 2 năm 1971, chúng tôi nhận được lệnh và khởi sự di chuyển ra các hầm cứu thương sát bãi đáp chờ đến trưa đích thân phi đoàn với 3 chiếc H34 sẽ vào tải thương binh Dù đồng thời bốc 2 phi hành đoàn ra. Tôi và anh Bửu cùng vài thương binh Dù nấp chung với nhau trong một hầm trú ẩn. Ðến trưa khi chúng tôi bắt đầu nghe tiếng máy nổ quen thuộc xa xa thì cũng là lúc địch khởi đầu trận "tiền pháo" dồn dập lên đồi 31. Qua lỗ châu mai từ trong hầm cứu thương nhìn qua bên kia đồi đối diện, cách nhau một cái yên ngựa, tôi thây rõ hai chiếc xe tăng T-54 của cộng quân tiến lên xếp hàng ngang, cùng với quân tùng thiết dày đặc chung quanh nhắm đỉnh đồi chúng tôi mà nhả đạn. Những tia lửa từ nòng súng phụt ra, tôi và anh Bửu thụp đầu xuống cùng nhìn nhau như nhắc nhớ câu mà anh em trong phi đoàn thường nói với nhau mỗi khi lên đường hành quân "Trời kêu ai nấy dạ!".

Ngoài kia, trong từng giao thông hào binh sĩ Dù chống trả mãnh liệt, nhất là những pháo thủ pháo đội C trên căn cứ 31, với những khẩu pháo đã bị hỏng bộ máy nhắm vì pháo kích của địch, họ phải hạ nòng đại bác để bắn trực xạ thẳng vào xe tăng địch bên kia đồi và trong những loạt đạn đầu tiên đã hạ ngay được 2 chiếc T54. Nhưng để trả giá cho hành động dũng cảm này nhiều binh sĩ Dù đã nằm xuống, có người nằm chết vắt trên những khẩu pháo của họ, trong số này có cả pháo đội trưởng Nguyễn văn Ðương, người đã là niềm hứng khởi cho một nhạc phẩm nổi tiếng sau đó. Chúng tôi vui sướng reo mừng trong hầm bên này. Không ngờ, chỉ mỗt lúc sau 2 xe tăng khác ở phía sau tiến tới ủi những chiếc xe cháy xuống triền đồi rồi lại hướng súng đại bác về đồi chúng tôi mà bắn! Sau vài loạt đạn, một phi tuần 2 chiếc F4 xuất hiện nhào xuống oanh tạc vào đội hình địch, và lại phá hủy thêm 2 xe tăng nữa. Trong tiếng bom đạn tơi bời, tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng máy nổ của những chiếc H34 đang vần vũ trên cao như lo lắng cho số phận những đồng đội của mình. Cho đến khoảng 5 giờ chiều thì địch tràn lên chiếm được đồi. Chúng lùng xục từng hầm trú ẩn kêu gọi binh sĩ Dù ra đầu hàng. Biết không thể làm gì hơn, tôi và anh Bửu tháo bỏ súng đạn cá nhân, chui ra khỏi hầm.

Về phía KQ, tôi, anh Bửu, On và Sơn bị trói bằng dây điện thoại và bị dẫn giải ra bắc Việt chung với tất cả tù binh khác. Không thấy anh Giang và Em đâu. Chúng tôi bắt đầu thăm hỏi các SQ và binh sĩ Dù trên đường đi. Cuối cùng tôi gặp được anh Long là người ở chung trong hầm với anh Giang khi cộng quân kêu các ra đầu hàng. Ðến lần thứ 3 các anh vẫn không chịu ra nên chúng thảy lựu đạn chày và bắn xối xả vào hầm. Anh Long chỉ bị thương nhẹ nên chúng bắt theo còn anh Giang vì bị thương nặng gãy cả 2 chân không đi được nên bị chúng bỏ lại và chết ở trong hầm. Về phần mêvô Em thì bị lạc đạn trúng bụng đổ ruột ra ngoài, khi bị bắt dẫn đi Em cứ 2 tay ôm bụng giữ lấy ruột mà không hề được băng bó vết thương nên đi được một khoảng không chịu được đau đớn Em gục chết ở bên đường.

Thế là 219 ghi thêm vào quân sử của mình một thiệt hại 2 phi hành đoàn trên chiến trường Hạ Lào. Trong đó anh Giang và Em đã vĩnh viễn ở lại trên đồi. Ngọn đồi quyết tử 31. Những người còn lại của 2 phi hành đoàn đó là Bửu, On, Khánh và Sơn thì sa vào tay địch, bị đưa đến những bến bờ vô định, biết còn có ngày về hay không?

Viết để nhớ đến tất cả những chiến sĩ anh hùng đã thành danh hay vô danh, vẫn còn sống hay đã hy sinh cho quê hương đất nước. Sau 33 năm ít ra tên tuổi các anh vẫn còn được nhắc đến một lần.

Bùi Tá Khánh

Nhung Chien Si Biet Kich Hoa Ky Khong Tro Ve


I wanted to list these men’s names to honor their service and sacrifice to our nation. Many of
you would not be aware of their fate otherwise, and for their families, it remains an unanswered
tragedy. -Hist2004

Klaus Yrurgen Bingham, Staff Sergeant, reconnaissance team member, Task Force I Advisory Element. Born 14 December 1943 in Metz, France. Entered service on 17 June 1965 at New Orleans, Louisiana. Missing in action since 10 May 1971, after his long-range reconnaissance team 'Asp" was inserted into western Quang Nam Province 12 miles from Laos on 3 May; past initial radio contact, no further contact was ever made.

John Arthur Boronski, Staff Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control Central, MACV-SOG. Born 24 July 1944 in Northampton, Massachusetts. Entered service on 22 June 1964 at Springfield, Massachusetts. Missing in action since 24 March 1970, when UH- I H helicopter lifted him and other team members from landing zone in the tri-border area 14 miles inside Cambodia; aircraft racked by explosions during ascent, continued forward aflame for 200 yards, and disappeared into the jungle, where it crashed.

Alan Lee Boyer, Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control, MACV-SOG. Born 8 March 1946 in Chicago, Illinois. Entered service on I I January 1966 at Butte, Montana. Missing in action since 28 March 1968, when last seen 15 miles inside Laos northeast of Tchepone during extraction, having started to climb a rope ladder that broke as the Vietnamese H-34 helicopter moved away because of hostile weapons fire.

George R. Brown, Sergeant First Class, reconnaissance patrol leader, Command and Control, MACV-SOG. Born 19 September 1935 in Daytona Beach, Florida. Entered service on 22 October 1952. Missing in action since 28 March 1968, when last seen alive and unwounded with two other Special Forces sergeants and one Vietnamese sergeant awaiting extraction from an area 15 miles inside Laos northeast of Tchepone by helicopter, which was driven off by ground fire; later search of area failed to reveal any trace of the team.

William Theodore Brown, Staff Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control North, MACV-SOG. Born 20 February 1945 in Chicago, Illinois. Entered service at La Habra, California. Date of entry not available. Missing in action since 3 November 1969, when his reconnaissance patrol was attacked by a numerically superior force 30 miles inside Laos near Ban Chakevy Tai; he was shot through the body just below the rib cage in the initial burst of automatic weapons fire and was last seen lying wounded on the ground as their position was about to be overrun, as related by an indigenous team member who evaded capture.

Michael Paul Burns, Specialist Fourth Class, reconnaissance patrol member, Command and Control North, MACV-SOG. Born 25 April 1947 in Oconto Falls, Wisconsin. Entered service on 14 February 1968 at El Paso, Texas. Missing in action since 31 July 1969, when his reconnaissance patrol was attacked 1.5 miles inside Laos west of Hue just prior to extraction; last seen by Pan and Comen, the surviving commandos, lying on his back with severe head wounds, possibly dead, after incurring blast of a B-40 rocket.

Johnny C. Calhoun, Staff Sergeant, reconnaissance patrol leader, Command and Control, MACV-SOG. Born 14 July 1945 in Roanoke, Alabama. Entered service on 18 January 1963 at Atlanta, Georgia. Missing in action since 27 March 1968, when his team was attacked 1.5 miles south of Ta Bat in the A Shau Valley and he provided covering fire for rest of patrol while ordering the other five members to withdraw; hit several times in the chest and stomach and last seen by interpreter Ho-Thong as he slumped to the ground, pulled the pin from a grenade, and clutched it to explode among advancing enemy, but his ultimate fate was unknown because of the rapid retreat of the survivors.

Donald Gene "Butch" Carr, Captain, assistant launch officer, Mobile Launch Team 3, Task Force I Advisory Element. Born 10 December 1938 in East Chicago, Indiana. Entered service on 12 October 1961 at East Chicago, Indiana. Missing in action since 6 July 1971, while flying a visual reconnaissance mission in an Air Force OV-10 aircraft from the 23d Tactical Aerial Surveillance Squadron (tail number 634) piloted by Lt. Daniel Thomas, which disappeared 15 miles inside Laos west of Ben Het.

James Derwin Cohron, Staff Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control North, MACV-SOG. Born 11 November 1938 in Leon, Iowa. Entered service on 9 January 1968, in Centerville, Iowa. Missing in action since 12 January 1968, while a member of Spike Team "Indiana," as the second man from the rear of the team formation, when ambushed 1 mile inside Laos south of Khe Sanh; team broke contact by evading through a gully and set up defensive position on a small hill where called for helicopter extraction while waiting in vain for Cohron and two indigenous soldiers; tall elephant grass obstructed their vision, and efforts to reach him via squad radio failed.

William Michael Copley, Specialist Fourth Class, reconnaissance patrol member, Command and Control North, MACV-SOG. Born 22 May 1949 in Columbus, Ohio. Entered service on 31 July 1967 at Los Angeles, California. Missing in action since 16 November 1968, when patrol was ambushed 16 miles inside Laos west of Ben Het prior to establishing overnight positions; he was seriously wounded by automatic weapons fire and cried out to SSgt. Roger T. Loe, "Help me, I'm hit!"; Loe carried him on his back until he tripped after traveling a short distance, tried to administer first aid until Copley's face showed signs of death, and was forced to leave because of pursuit by hostile forces.

David Arthur Davidson, Staff Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control North, MACV-SOG. Born 8 March 1947 in Washington, D.C. Entered service at East Riverdale, Maryland. Date of entry not available. Reenlisted on 18 May 1968 in the Republic of Vietnam. Missing in action since 5 October 1970, after his patrol had established its overnight position 12 miles inside Laos west of Ta Bat and was attacked by a hostile force; according to the two surviving indigenous patrol members, Davidson was hit once in the head and fell down a ridge, after which he lay motionless with a probable fatal head wound.

Ricardo Gonzalez Davis, Sergeant First Class, reconnaissance patrol leader, Command and Control North, MACV-SOG. Born 17 March 1941 in Fort Stockton, Texas. Entered service at Carlsbad, New Mexico. Date of entry not available. Reenlisted on 30 May 1967 at Fort Campbell, Kentucky. Missing in action since 20 March 1969, when his six-man patrol was attacked 11 miles inside Laos west of Kham Duc; Sgt. James C. La Motte was two feet away when Davis was hit by rifle fire in upper chest and face and said, 'Jim, Jim!' and fell; the assistant patrol leader advanced to Davis's position seven minutes later but detected no signs of life, whereupon the patrol was forced to evacuate the area because of advancing hostile soldiers.

Ronald James Dexter, Master Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control, MACV-SOG. Born Born 23 July 1933 in Chicago, Illinois. Entered service on 2 September 1951 at Chicago, Illinois. Missing in action since 3 June 1967, when last seen exiting a downed CH-46 helicopter as it was being grenaded by approaching hostile forces 15 miles inside Laos west of the A Shau Valley; the Nung commander, Mr. Ky, saw several men in a large bomb crater firing red star clusters from a flare gun as Ky was lifted out on the last helicopter.

Raymond Louis Echevarria, Master Sergeant, reconnaissance patrol leader, Command and Control, MACV-SOG. Born 16 September 1933 in Brooklyn, New York. Entered service on 3 December 1950 in New York City. Missing in action since 3 October 1966, when patrol was inserted 1 mile inside Laos west of the DMZ and immediately engaged in firefight under adverse circumstances; sole survivor, interpreter Bui Kim Tien, last heard of him when SFC. Eddie L. Williams had told Tien, "Jones is dying and Ray (Echevarria) is the same way."

Danny Day Entrican, First Lieutenant, reconnaissance patrol leader, Task Force I Advisory Element. Born 12 August 1946 Brookhaven, Mississippi. Entered service on I October 1969 at Fort Devens, Massachusetts. Missing in action since 18 May 1971, after his reconnaissance team "Alaska" was inserted into the Da Krong Valley in Vietnam on 15 May and overwhelmed in a firefight three days later 1 mile from the Laotian border; surviving commando Truong Minh Long and interpreter Truong To Ha stated that they rolled downhill after hostile search party detected them hiding in bush, at which point Entrican was apparently wounded and yelled at them to move out.

John Theodore Gallagher, Staff Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control North, MACV-SOG. Born 17 June 1943 in Summit, New Jersey. Entered service on 25 December 1962 at New Haven, Connecticut. Missing in action since 5 January 1968, when aboard the second helicopter transporting patrol 20 miles inside Laos south of Lao Bao, which was struck by 37-mm antiaircraft fire at an altitude of 2,000 feet; it went into an uncontrollable spin and exploded in flames upon impact with ground; heavy ground fire prevented search attempts.

Fred Allen Gassman, Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control North, MACV-SOG. Born 5 September 1947 at Eglin Field, Florida. Entered service at Fort Walton Beach, Florida. Date of entry not available. Reenlisted on 10 February 1969. Missing in action since 5 October 1970, after his patrol had established its overnight position 12 miles inside Laos west of Ta Bat and was attacked by a hostile force; Gassman radioed the overhead aircraft for emergency extraction and, as he attempted to retrieve the homing device, stated on the radio, 'I've been hit, and in the worst way," followed by several groans before the radio went dead. According to the two surviving indigenous patrol members, Gassman was last seen lying motionless with a large hole in his back.

Douglas J. Glover, Staff Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control, MACV-SOG. Born 2 May 1943 in Cortland, New York. Entered service at Cortland, New York. Date of entry not available. Reenlisted on 17 October 1965 at Fort Myer, Virginia. Missing in action since 19 February 1968, when reconnaissance team was being extracted 4 miles inside Laos west of Dak Sut; as the helicopter ascended from the landing zone, it nosed over and crashed, bursting into flames; the pilot, co-pilot, and one team member survived but left six persons missing because of hostile fire; later recovery efforts detected only five badly burned unknown remains.

Gary Alan Harned, Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control Central, MACV-SOG. Born 7 July 1950 in Meadville, Pennsylvania. Entered service on 10 September 1968 at Pittsburgh, Pennsylvania. Missing in action since 24 March 1970, when UH-1H helicopter lifted him and other team members from landing zone in the tri-border area 14 miles inside Cambodia; aircraft racked by explosions during ascent, continued forward aflame for 200 yards, and disappeared into the jungle, where it crashed.

Charles Gregory Huston, Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control, MACV-SOG. Born 29 September 1945 in Houston, Ohio. Entered service on 5 October 1965 at Cincinnati, Ohio. Missing in action since 28 March 1968, when last seen alive and unwounded with two other Special Forces sergeants and one Vietnamese sergeant awaiting extraction 15 miles inside Laos northeast of Tchepone by helicopter, which was driven off by ground fire; later search of area failed to reveal any traces of team

James Emory Jones, Sergeant First Class, reconnaissance patrol member, Command and Control, MACV-SOG. Born 3 September 1939 in Enigma, Georgia. Entered service on 23 July 1957 at Milledgeville, Georgia. Missing in action since 3 October 1966, when patrol was inserted 1 mile inside Laos west of the DMZ and immediately engaged in firefight under adverse circumstances; sole survivor, interpreter Bui Kim Tien, last heard of him when SFC. Eddie L. Williams had told Tien, "Jones is dying and Ray is the same way."

John Robert Jones, Sergeant, light weapons leader, Task Force I Advisory Element. Born 20 February 1949 in Louisville, Kentucky. Entered service on I July 1968 at El Paso, Texas. Missing in action since 5 June 1971, at Hickory Hill radio relay site north of Khe Sanh in Quang Tri Province, which was overrun in heavy combat by a battalion-size North Vietnamese force in adverse weather which prevented air support; he was not found despite search by helicopter and low-flying aircraft.

Harold William Kroske, Jr., First Lieutenant, reconnaissance patrol leader, Command and Control South, MACV-SOG. Born 30 July 1947 in Trenton, New Jersey. Entered service on 29 June 1966 at Mercer, New Jersey. Missing in action since 11 February 1969, when patrol was engaged 12 miles inside Cambodia west of Bu Dop and he killed several hostile troops along a trail; he then motioned the point man, Diep Chan Sang, to come with him; there was a sudden burst of gunfire, Kroske dropped his weapon, grabbed his stomach, and fell; Spec. 4th Class Bryan 0. Stockdale tried to approach him, received no response when he called out his name from twenty feet away, whereupon the patrol was forced to withdraw because of heavy automatic weapons fire.

Frederick Krupa, Captain, platoon leader, Exploitation Company A, Task Force 2 Advisory Element. Born 2 September 1947 in Scranton, Pennsylvania. Entered service on 25 June 1965 at Wilkes-Barre, Pennsylvania. Missing in action since 27 April 1971, when his special commando unit was about to conduct a helicopter insertion 2 miles from Laotian border northwest of Plei Djereng, Vietnam; hostile forces opened up on his UH-1H helicopter when it was three feet off the ground, and he fell forward; SCU Company A commander Ayom grabbed his right shoulder but let go when Ayom's hand was struck by bullet; last seen lying next to a log sprawled out on his back, not moving or making a sound, by crew chief Sp. 4th Class Melvin C. Lew during helicopter ascent.

Glen Oliver Lane, Sergeant First Class, reconnaissance patrol leader, Command and Control North, MACV-SOG. Born 24 July 1931 in Diboll, Texas. Entered service on 30 June 1951 in Odessa, Texas. Missing in action since 23 May 1968, after his six-man spike team "Idaho' was infiltrated just across the Laotian border west of A Loui by helicopter on 20 May 1968, and all further contact with patrol was lost; spike team 'Oregon' inserted into area for search on 22 May immediately contacted large hostile force and was extracted.

Billy Ray Laney, Sergeant First Class, reconnaissance patrol member, Command and Control, MACV-SOG. Born 21 August 1939 in Blanch, Alabama. Entered army 3 August 1960 with two years of navy service. Missing in action since 3 June 1967, aboard CH-46 helicopter downed 15 miles inside Laos west of the A Shau Valley; last seen by SFC. Wilklow and Nung soldier lying wounded on floor of helicopter, between one crew member with a broken back and the door gunner with head wound, as hostile forces approached, tossing grenades at aircraft.

James Martin Luttrell, Staff Sergeant, reconnaissance team member, Task Force I Advisory Element. Born 14 December 1935 in Milwaukee, Wisconsin. Entered service on 29 March 1954 at Wamatosa, Wisconsin. Missing in action since 10 May 1971, after his long-range reconnaissance team "Asp' was inserted into western Quang Nam Province 12 miles from Laos on 3 May 1971; past initial radio contact, no further contact was ever made.

Dennis Paul Neal, Captain, reconnaissance patrol leader, Command and Control North, MACV-SOG. Born I February 1944 in Quincy, Illinois. Entered service on 28 June 1966 in Clearwater, Florida. Missing in action since 31 July 1969, when his six-man patrol was attacked just prior to extraction 1.5 miles inside Laos west of Hue, and last seen by Pan and Comen, surviving commandos, after he was severely wounded in chest by a B-40 rocket blast, when they turned him over to take off one of his emergency UHF radios prior to retreating because of wounds and intense fire; forward air control aircraft heard the second emergency radio transmit "Help, help, help, for God's sake, help," but search teams later dispatched to area were unsuccessful.

Charles Vernon Newton, Staff Sergeant, patrol leader, Detachment B-52 DELTA, Fifth Special Forces Group. Born 10 May 1940 in Canadian, Texas. Entered service on 16 December 1959 at Canadian, Texas. Missing in action since 17 April 1969, when Reconnaissance Patrol 6, which had been inserted into Thua Thien Province on 14 April, was ambushed by numerically superior Vietcong force 9 miles from Laotian border; last heard from by radio transmission to circling aircraft requesting assistance, whereupon radio con- tact was lost.

Robert Duval Owen, Staff Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control, MACV-SOG. Born 21 December 1938 in Lynchburg, Virginia. Entered service on 30 July 1954 at Pine Bluff, Arkansas. Missing in action since 23 May 1968, after his six-man spike team 'Idaho' was infiltrated just across the Laotian border west of A Loui by helicopter on 20 May, and all further contact with patrol was lost; spike team 'Oregon' inserted into area for search on 22 May immediately contacted large hostile force and was extracted.

Norman Payne, Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control North, MACV-SOG. Born on 14 July 1939 in Greenville, Alabama. Entered service on 8 July 1957 at Cleveland, Ohio. Missing in action since 19 December 1968, when his reconnaissance team was attacked 6 miles inside Laos west of the A Shau Valley just before nightfall; last seen by the team leader, Sp. 4th Class Donald C. Sheppard, as Payne left the team to join another group, which had slid down an embankment; Sheppard later followed this route along a creek bed, but efforts to locate Payne failed. During extraction, Sheppard heard garbled emergency radio transmission, the last word of which sounded like "bison' (the code name for Payne), but a later ground search was blocked by hostile activity.

Jerry Lynn Pool, First Lieutenant, reconnaissance patrol leader, Command and Control Central, MACV-SOG. Born on 2 April 1944 in Sinton, Texas. Entered service on 11April 1964 at Austin, Texas. Missing in action since 24 March 1970, when UH-1H helicopter lifted him and other team members from landing zone in the tri-border area 14 miles inside Cambodia; aircraft racked by explosions during ascent, continued forward aflame for 200 yards, and disappeared into the jungle, where it crashed.

Ronald Earl Ray, Staff Sergeant, reconnaissance patrol leader, Command and Control North, MACV-SOG. Born 11 August 1947 in ********, Texas. Entered service on 21 June 1965 at Port Arthur, Texas. Missing in action since 13 November 1969, when his six-man reconnaissance team was attacked and overrun 16 miles inside Laos west of Thua Thien Province; sole survivor Nguyen Van Bon stated that Ray was hit in an exchange of gunfire, fell to the ground, groaned, and then was silent; Bon shook him but received no response, and noted that Ray's weapon was smashed and that Ray had been hit in the chest and arm.

John Hartley Robertson, Sergeant First Class, operations sergeant, FOB #1, Command and Control North, MACV-SOG. Born 25 October 1936 in Birmingham, Alabama. Entered service on 15 June 1954 at Birmingham, Alabama. Missing in action since 20 May 1968, when aboard a Vietnamese H-34 helicopter on a medical evacuation mission 4 miles inside Laos south of A Shau; as helicopter was landing it was struck by hostile fire, smashed into the trees, and burst into flames. Vietnamese ground unit could not reach the wreckage, and no survivors were spotted.

Robert Francis Scherdin, Private First Class, reconnaissance patrol member, Command and Control North, MACV-SOG. Born 14 February 1947 in Somerville, New Jersey. Entered service on 15 August 1967 at Newark, New Jersey. Missing in action since 29 December 1968, when part of the rear element of a reconnaissance team that was split during a skirmish 4 miles inside Cambodia west of Dak To; Montagnard soldier Nguang in same element saw him fall on his right side and tried to help him stand up, but Scherdin only groaned and would not get up; Nguang was then wounded himself and realized he had been left by the other three Vietnamese of the rear element, whereupon he left Scherdin and was extracted along with the remainder of the team.

Mike John Scott, Sergeant First Class, aerial observer, Command and Control Central, MACV-SOG. Born 2 September 1932 in Gostynin, Poland. Entered service on 13 September 1956 at Newark, New Jersey. Missing in action since 13 May 1969, when aboard an aircraft of the 219th Aviation Company, piloted by Lt. Bruce C. Bessor, just inside the Laotian border west of Kham Due, attempting to locate ground reconnaissance team whose members heard aircraft engine noise followed by fifteen rounds of 37-mm fire and engine sputtering but no sound of crash, then a large volume of rifle fire from same direction. Efforts to locate the aircraft failed.

Lee D. Scurlock, Jr., Staff Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control, MACV-SOG. Born 10 November 1943 in Restful Lake, Ohio. Entered service on 22 September 1961 at Restful Lake, Ohio. Missing in action since 21 December 1967, during extraction of team on Laotian-Cambodian boundary of the tri-border region 18 miles west of Vietnam, while climbing a rope ladder to a helicopter ("Gator 376'') of the 119th Aviation Company; he climbed only three rungs on first attempt before losing grip, removed rucksack and radio, and slowly climbed ladder, appearing weak and possibly hurt as the door gunner and a Special Forces sergeant shouted encouragement; just before he reached their outstretched hands, he fell off the ladder fifty feet to the ground, landed on his neck and head, and rolled down hillside until a small tree stopped his movement. The helicopter came under automatic weapons fire and was forced from the area.

Leo Earl Seymour, Staff Sergeant, reconnaissance patrol leader, Command and Control, MACV-SOG. Born 14 May 1942 in Sayre, Pennsylvania. Entered army 28 June 1963 with four years' marine service. Missing in action since 3 July 1967, when his reconnaissance team 'Texas" was readying ambush positions near a trail junction I I miles inside Laos northwest of Ben Het in the Dale Xow river valley; two large hostile columns converged and noticed a propaganda poster tacked to a tree that had not been there previously and began searching area, spotting the forward security element, which opened fire; team split up by skirmish, and upon rallying a distance away could not find Seymour.

Jerry Michael Shriver, Sergeant First Class, exploitation platoon leader, Command and Control South, MACV-SOG. Born 24 September 1941 in DeFuniak Springs, Florida. Entered service on 9 December 1958 at Sacramento, California. Missing in action since 24 April 1969, when his platoon was engaged by intense fire 1.5 miles inside Laos west of the DMZ's southern boundary of Vietnam; last seen by Capt. Paul D. Cahill, moving against machine gun bunkers and entering the wood line, whereupon he continued radio contact until transmission ceased. Ten air strikes and 1,500 rockets were required to extract the few survivors of the platoon from the battlefield.

Donald Monroe Shue, Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control North, MACV-SOG. Born 29 August 1949 in Concord, North Carolina. Entered service on 26 June 1967 at Charlotte, North Carolina. Missing in action since 3 November 1969, when his recon- naissance patrol was attacked by a numerically superior force 30 miles inside Laos near Ban Chakeny Tai, and he was hit by grenade fragments; last seen lying wounded on the ground as their position was about to be overrun, as related by an indigenous team member who evaded capture.

Willie Ernest Stark, Sergeant First Class, patrol leader, Detachment B-52 DELTA, Fifth Special Forces Group. Born 7 October 1932 in Martinsburg, Nebraska. Entered service on 21 July 1950 at Waterbury, Nebraska. Missing in action since 2 December 1966, 1.5 miles inside Laos west of the DMZ with a reconnaissance patrol on 29 November 1966, which had two skirmishes with Vietcong, and last seen wounded in thigh and chest and being guarded by S. Sgt. Russell P. Bott, as related by Vietnamese patrol survivors.

Madison Alexander Strohlein, Sergeant, parachutist commando, Task Force I Advisory Element. Born 17 May 1948 in Abington, Pennsylvania. Entered service on 8 July 1968 at Philadelphia, Pennsylvania. Missing in action since 22 June 1971, after being parachuted into the Ta Ko area of Vietnam at night on a reconnaissance mission with Sgt. Maj. William D. Waugh and SFC. James 0. Bath; last heard from by radio requesting evacuation because of injuries; his transmissions were monitored until I 1:00 A.M., when he stated hostile forces were approaching; thereafter transmissions ceased. Rescue team inserted on 23 June found only his weapon, scattered gear, and indications that his parachute had been pulled from a tree.

William Wentworth Stubbs, Staff Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control Central, MACV-SOG. Born 6 August 1949 in Oak Harbor, Washington. Entered service on 26 October 1967 at Newport, Washington. Missing in action since 20 October 1969, when his recon- naissance team was attacked 20 miles inside Laos northeast of Nakhon Phanom and he was at the point of immediate contact; according to surviving indigenous patrol members, three bursts of automatic fire were directed at him from a distance of two feet, striking him in the head, followed by three grenades thrown onto his position. The rest of patrol was unable to move up the steep slope to reach him and were forced to withdraw five minutes later because of renewed hostile assault.

Randolph Bothwell Suber, Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control North, MACV-SOG. Born 22 May 1947 at Albuquerque, New Mexico. Entered ser-vice on October 26, 1967, at Albuquerque, New Mexico. Missing in action since 13 November 1969, when his six- man reconnaissance team was attacked and overrun 16 miles inside Laos west of Thua Thien Province; sole survivor Nhuyen Van Bon stated that he last saw Suber trying to gain contact on his URC-10 emergency radio, then pick up his weapon and aim at four approaching hostile soldiers, but that the rifle did not fire because it became jammed, and Suber was hit immediately afterward and fell to the ground; Bon called to him, but he did not move or answer, and Bon was forced to leave the area.

Glenn Ernest Tubbs, Staff Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control South, MACV-SOG. Born 24 January 1940 in Sulphur Springs, Texas. Entered service on 21 June 1959 at Olton, Texas. Missing since 13 January 1970, when his reconnaissance team was crossing the Se San River close to the Cambodian border 12 miles northwest of Duc Co; Tubbs was the last member of the team to cross; near the center of the channel he was swept from the rope by the swift current, tried to swim against the current, and was last seen when he went under for the sixth time while being carried over some deep rapids about fifty feet downstream from the rope. Team members chased after him, two by swimming back across the stream, but he had disappeared.

Gunther Herbert Wald, Staff Sergeant, reconnaissance patrol member, Command and Control North, MACV-SOG. Born 7 January 1944 in Frankfurt, Germany. Entered army on 13 June 1967 with four years' marine service. Missing in action since 3 November 1969, when his reconnaissance patrol was attacked by a numerically superior force 30 miles inside Laos near Ban Chakevy Tai, whereupon he was hit by a grenade while trying to make radio contact; last seen lying on the ground with multiple wounds and possibly dead as their position was about to be overrun; related by an indigenous member, Pong, who evaded capture.

Lewis Clark Walton, Staff Sergeant, reconnaissance team member, Task Force I Advisory Element. Born 13 May 1934 in Providence, Rhode Island. Entered service on 21 June 1952 at Providence, Rhode Island. Missing in action since 10 May 1971, after his long-range reconnaissance team 'Asp' was inserted into western Quang Nam Province 12 miles from Laos on 3 May; past initial radio contact, no further contact was ever made.

Charles Edward White, Sergeant First Class, reconnaissance patrol member, Command and Control North, MACV-SOG. Born on 18 May 1933 in Union Town, Alabama. Entered service on 23 May 1950 at Columbus, Georgia. Missing in action since 29 January 1968, when he was being extracted by McGuire rig hoist by helicopter 16 miles inside Cambodia west of Kontum along with team members Nang and Khong; after being radioed by White that the trio was ready to be lifted out, the pilot increased his altitude to 200 feet, at which point White fell into the jungle. Later ground search on 31 January found path that falling body made through jungle canopy into thick bamboo, which was surmised as being enough foliage to have safely broken his fall, but no trace was ever found of him.

Peter Joe Wilson, Staff Sergeant, reconnaissance patrol leader, Command and Control Central, MACV-SOG. Born 23 August 1938 in Ridley Park, Pennsylvania. Entered service on 17 February 1961 at Long Beach, New York. Missing in action since 19 October 1970, when his recon- naissance patrol was attacked 2 miles inside Laos in the tri-border area southwest of Ben Het and forced to abandon the battlefield with hostile forces in close pursuit; last seen by Sgt. John M. Baker when Wilson directed him to the front of the patrol and told him to continue to the east if the column was split; at that time Wilson was covering the rear of the patrol and assisting a wounded indigenous solider, Djuit; later Baker heard Wilson transmit "May Day, May Day" on his emergency radio and the sounds of a firefight from the direction of the separated patrol element.

Remains Recovered

Frank Collins Parrish, Sergeant First Class, senior medical specialist, Detachment A-411, Fifth Special Forces Group. Born 19 September 1931 in Big Springs, Texas. Entered service on 14 October 1948 at Cleburne, Texas. Missing in action since 16 January 1968, near My Phuoc Tay, when camp strike force was involved in a firefight; CIDG and LLDB survivors reported that the Vietcong captured and summarily executed him, but remains were not recovered until 30 April 1973.

George Quanmo, Major, deputy commander, FOB #3, Command and Control North, MACV-SOG. Born 10 June 1940 in Lynn, Massachusetts. Entered service on 23 October 1958 at Averill Park, New York. Disappeared on 14 April 1968, when aboard a Vietnamese U- 17 aircraft (tail number XT) flown by Chinese contract pilot, as courier en route from Khe Sanh to Da Nang. Remains recovered on 28 June 1974.

Samuel Kamu Toomey, III, Maj 04, CCN S-3, Operations Officer; Raymond Clark Stacks, 1LT 0-2 of Tenn.; Klaus Dieter Scholz, SSGT E-6 of Texas; Arthur Edward Baden Jr. SGT E-5 of New Jersey, Richard Allen Fitts, SP/5 of Mass.; Michael Howard Mein, SP/4 of New York; Gary Russell Labohn, SP/4 of Michigan, USASF, CCN, Da Nang, Ops 35. All were aboard a Vietnamese Air Force CH-34 helicopter returning from a visual recon of target areas based on a "Spot Report" by RT Sidewinder of a NVA cache across the boarder. The aircraft was shot down from an altitude of 3,000 feet by 37mm antiaircraft fire, crashed and exploded 10 miles inside Laos east of Tchepone. No ground search was initiated due to the crash site being in a denied area. On Mar 23, 1990 these seven American soldiers remains were buried in Arlington National Cemetery their remains were recovered from the crash site in Mar 89.

Source: USARV USPW/CI detainee files and MIA Board Proceedings of Fifth Special Forces Group and MACV-SOG

Regards,
Hist2004

Nhan Tin / Th/Ta Nguyen Van Thu / Th/Ta Tran Van Bien


Xin quy anh em, voi tat ca kha nang cua minh, vui long tim kiem hoac thong bao de cac ban be khap nam chau, de nho tim kiem tin tuc cua:

1.Cuu Thieu Ta Nguyen Van Thu, truoc phuc vu trong Binh chung Nhay du (TD1ND) sau thuyen chuyen qua So Lien Lac va la Toan Truong Toan RT Maine, cung thoi voi Nguyen Thai Kien Toan RT Dakota, Van Thach Bich Toan RT Idaho, Nguyen Cam Toan RT Truong (khong nho}, Le Minh Toan RT (khong nho) Nguyen Hai Trieu Toan RT Arkansas va Pham Van Hy Toan RT (khong nho).

2. Cuu Thieu Ta Tran Van Bien nguyen CHT/DCT72 (truoc TT Tuu). Hien co mot nguoi than ben VN dang mong tin tuc cua Ong Bien. Vai nam truoc day toi co gap Ong mot lan tai Atlanta.

Tat ca quy vi neu tren deu da qua My, ngoai tru TT Van Thach Bich da qua doi tai VN, TT Nguyen Van Thu tu Thang 4 Nam 1975 thi khong co tin tuc nao mac du da hoi tham tat ca ban be tren nuoc My.

Thanh that cam on quy anh em.

Nguyen Hai Trieu

Monday, October 20, 2008

BIỆT KÍCH DÙ TẠI BẮC VIỆT


VÀI NÉT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA
BIỆT KÍCH DÙ TẠI BẮC VIỆT
Trung Tá Nguyễn Văn Vinh
(P45-SB, Nha Kỹ Thuật, BTTM, QLVNCH)
Lời Tòa Soạn:
VNCH đã giữ vững được cuộc sống tự do trong suốt 21 năm ngắn ngủi nhưng đầy gian truân, máu và nước mắt, đầy sự hy sinh của biết bao nhiêu người .
Trong số những sự hy sinh đó, phải nói tới sự hy sinh của người lính Biệt Kích Dù hoạt động tại Bắc Việt . Số phận của họ rất bi thảm khi bị kẹt tại Bắc Việt . Bảng tổng kết sơ khởi cho biết trong số những Biệt Kích Dù được thả ra miền Bắc có 7 người đã bị CS tuyên án tử hình và đã bị hành quyết, 9 người tử trận, 21 người chết trong các trại tù khổ sai miền Bắc, 7 người chết sau khi được thả về, 2 người mất tích khi thi hành nhiệm vụ, 11 người bị chỉ định phải định cư tại các nông trường hay hợp tác xã miền Bắc . Đa số những người còn lại đều bị tra tấn dã man và bị bắt lao động khổ sai trong những trại tù khắc nghiệt nhất . Tại sao hầu hết các biệt kích thả xuống miền Bắc đã bị CS bắt ?
Bài viết sau đây là của Trung tá Nguyễn Văn Vinh, người trực tiếp phụ trách các toán Biệt Kích Dù được thả xuống Bắc Việt, sẽ cho chúng ta biết những nét đại cương về tổ chức các đơn vị Biệt Kích, các hoạt động của họ và cách thức điều hành của cơ quan tình báo Hoa Kỳ .
* * * * *
Vài nét về hoạt động của Biệt Kích Dù tại Bắc Việt

Ít ai biết đến các tên P45, Sở Bắc hay Sở Khai Thác, tiền thân của Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưụ Đó là những bí danh của một cơ quan tình báo chiến lược, được thành lập từ cuối năm 1958, đặt trực thuộc Phủ Tổng Thống và nằm trong mạng lưới chỉ huy của Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt VNCH . Cơ quan này được Hoa Kỳ yễm trợ cả về tài chánh lẫn các phương tiện cần thiết để thực hiện cuộc chiến tranh không quy ước chống miền Bắc CS .

Sau Hiệp dịnh đình chiến Geneva, vĩ tuyến 17 được chọn làm vùng phi quân sự và sông Bến Hải là biên giới thiên nhiên, ngăn cách 2 miền Nam Tự Do và Bắc CS . Quân đội viễn chinh Pháp, dưới áp lực của Hoa Kỳ, đã phải kéo cờ tam tài xuống khỏi dinh Norodom, nhường chỗ cho quốc kỳ VN tung bay tại dinh Độc lập vừa được đổi tên và đổi chủ . Để đáp lại, quân đội Pháp đã không nương tay, xóa sạch mạng lưới tình báo mà họ đã khổ công gầy dựng trong nhiều năm tại miền Bắc . Đây là một sự thiệt hại khá lớn cho ngành tình báo non trẻ của miền Nam . Trong khi đó, CS đã để lại tại miền Nam vô số cơ sở tình báo mà họ đã gầy dựng trong suốt thời kỳ chống Pháp, trong đó phải kể đến các thân nhân của các cán bộ và bộ đội tập kết . Thêm vào đó, các khuyết điểm to lớn chồng chất của 2 chế độ lỗi thời Thực dân dân và Phong kiến đã làm mồi nuôi dưỡng các phong trào chống đối trong nội bộ miền Nam, rất thuận lợi cho các cán bộ CS nằm vùng khai thác .

Dù vậy, ngành tình báo miền Nam, tuy phải xây dựng trễ và phải đặt nền móng từ đầu, nhưng lại được hưởng ứng nồng nhiệt vì đa số người Việt thời ấy, nhất là đồng bào di cư, các bộ lạc dân tộc thiểu số, các đảng phái chính trị và tín đồ các tôn giáo, đã thấy rõ bộ mặt gian dối của CS . Có người đã chứng kiến những vụ tàn sát hay đấu tô dã man các thành phần quốc gia yêu nước nhưng bất đồng chính kiến với CS và có khi họ chính là thân nhân của các nạn nhân đó . Ngoài ra, những tài liệu sống động như cuốn phim Chúng Tôi Muốn Sống đã gây được một ấn tượng ghê tởm CS trong mọi tầng lớp nhân dân miền Nam .

Nắm được các yếu tố thuận lợi trên đây, Sở Bắc đã gấp rút gửi nhân viên đến các trại định cư, liên lạc với các vị lãnh dạo tinh thần cũng như các bộ lạc dân tộc thiểu số, chiêu mộ các thanh niên nhiệt tình yêu nước còn thân nhân ở tại miền Bắc, để cấp tốc đưa về huấn luyện và tạo vỏ bọc thuận lợi, đưa họ về quê quán hoạt động .
Từ những năm đầu tiên đến năm 1966, các toán xâm nhập miền Bắc thường xử dụng một trong những phương cách sau đây:

- Nhảy dù đêm vào vùng mục tiêu .
- Xâm nhập đường biển bằng thuyền mẹ, và từ đó xử dụng thuyền con bơi vào vùng công tác .
- Xâm nhập vào vùng phi quân sự, vượt sông Bến Hải và lén lút đi bộ vào điểm công tác, móc nối với thân nhân đã nằm vùng, hoặc giới chức được tín nhiệm tại địa phương . Trường hợp sau này thường phải xử dụng “bona fides” để nhận nhau .
- Cử chuyên viên phục vụ tại Tòa Đại sứ của một vài nước thứ 3 như Lào, Cam-bốt, Pháp, Thái Lan hay Hong Kong...rồi từ đó tuyển mộ và huấn luyện các công tác viên có khả năng, và tạo cho họ cái vỏ bọc thích hợp cũng như giấy tờ hợp lệ để họ dễ dàng xâm nhập vào miền Bắc hoạt động . Phương pháp này đã được điều nghiên tỉ mỉ, nhưng vì quá tốn kém nên chỉ được thực hiện từng giai đoạn .

Tuy có nhiều hình thức xâm nhập khác nhau như vừa trình bày trên, nhưng trong bài này, tôi (Trung tá Nguyễn Văn Vinh) chỉ xin đề cập đến những toán Biệt Kích xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng không mà thôi, vì đây la phần việc mà chính tôi đã đảm nhận trong nhiều năm tại cơ quan tình báo chiến lược này .

Những chuyến bay đêm

Các toán Biệt Kích Dù thường được thả xuống miền Bắc vào những đêm trăng . Mùa trăng thuận lợi cho công tác này bắt đầu từ ngày mồng 10 - 20 âm lịch hằng tháng . Giờ giấc được chọn tùy thuộc vào điều kiện an ninh và thời tiết tại vùng công tác . Để có đủ phương tiện đối phó với các bất trắc có thể xảy ra khi toán chạm đất, các nhân viên Biệt Kích Dù phải mang theo các trang bị cá nhân khá nặng nề . Ngoài súng tiểu liên Swedish K. của Thụy Điển hoặc Sten của Anh hay Uzi của Do Thái có trang bị ống giảm thanh và 3 đơn vị hỏa lực, họ còn phải đèo thêm các dụng cụ khác trên 20 món, nào bidon nước, bản đồ vùng mục tiêu, địa bàn, lựu đạn, 3 ngày lương khô, đèn bấm, pamean, dao găm, túi cứu thương cá nhân, cà mèn, pháo hiệu (pen flare), đồng hồ đeo tay, radio, v.v ...

Các dụng cụ này thường được mua ở các nước thứ 3 và không một trang cụ nào được mang nhãn hiệu Hoa Kỳ hay miền Nam VN . Các đồ trang bị tập thể như dụng cụ phá hoại, đồ cứu thương, lương thực dự trữ dùng cho 3 tháng, v.v...đều được đóng thành kiện. Máy truyền tin dự trữ và máy beacon là máy phát tín hiệu có tầng số nhất định, được đặt tại kiện hàng số 1 . Các toán viên khi nhảy dù xâm nhập vào đêm, chiếc dù có thể bị ảnh hưởng của gió, bạt ra xa cách bãi thả 1-2 km . Nhưng nhờ các radio cá nhân, họ có thể dễ dàng bắt tín hiệu từ máy beacon phát ra, để đi về hướng tập trung .

Thông thường, các nhân viên quê quán vùng vào được thả về mục tiêu vùng đó . Để đảm bảo an ninh cho công tác, mục tiêu và nhiệm vụ của toán chỉ được thuyết trình vào giờ chót, trước khi lên máy baỵ Các chuyến xuất phát trong những năm đầu đến năm 1964, chính cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ đã yểm trợ cho các chuyến bay bí mật này và lộ trình duy nhất được xử dụng là Tân Sơn Nhất - Đà Nẵng

- Vùng mục tiêu .

Tại Đà Nẵng, đợi lúc trời tối, phi cơ cỡi bỏ hết mọi huy hiệu trước khi khởi hành xâm nhập vào vùng hành quân . Phi cơ được xử dụng là loại DC7 hoặc DC6 . Phi hành đoàn thường là người Trung Hoạ Tuy nhiên, cũng có lúc phi hành đoàn là người VN, được tuyển chọn trong số sĩ quan có khả năng và được tín nhiệm nhất của Không Quân Việt Nam . Phó TT Nguyễn Cao Kỳ hồi còn mang lon Đại úy, đã nhiều lần làm phi công chính thức cho các phi vụ đặc biệt này . Đến cuối năm 1966, Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ rút vào bóng tối, nhường chỗ cho MAC-SOG, một cơ quan tình báo quân sự, thay thế yểm trợ cho Nha Kỹ Thuật .

Khi cường độ chiến tranh VN đi đến giai đoạn khốc liệt nhất thì nhu cầu tin tức gia tăng cao, do đó số toán Biệt Kích Dù hoạt động phải được tăng cường nhiều hơn . Các phương tiện xâm nhập cũ được thay thế bằng C123 hoặc C130 và nơi phát xuất được chuyển sang Nakor-Phanum, một sân bay nằm sát biên giới Thái-Lào hoặc sân bay don nằm ở phía Đông -Bắc Thái Lan . Từ các nơi đó các toán Biệt Kích Dù được chuyển qua trực thăng CH3 để bay băng qua lãnh thổ Lào, tiến về vùng mục tiêu nằm trên ranh giới Lào-Việt . Cũng có lúc mục tiêu được lựa chọn nằm sâu trong nội địa Bắc Viêt .

Trực thăng là phương tiện xâm nhập vừa rẻ tiền vừa tiện lợi nhưng lại là phương tiện kém an toàn nhất, vì tiếng động cơ quá lớn, địch dễ phát hiện . Phải chăng đây là một trong những nguyên nhân thất bại của công tác Biệt kích tại miền Bắc ? Vấn đề này đã được phía VN quan tâm và nêu lên nhiều lần trong các phiên họp Viê.t-Mỹ, nhưng phía đối nhiệm không quan tâm .

Số phận những con chim lạc loài

Đến cuối năm 1968, trong số gần 40 toán được cho xâm nhập bằng đường hàng không và đường bộ để hoạt động dài hạn, chỉ con có 5 toán là còn giữ được liên lạc với Trung ương, đó là các toán Tourbillon (1962), Ares (1962), Remus (1963), Easy (1963) và Eagle (1963) . Theo đánh giá chung của các chuyên viên hữu trách Việt - Mỹ . thì cả 5 toán này hình như đã bị địch kiểm soát, nhưng cá nhân tôi vẫn còn tin tưởng một toán, đó là toán Ares . Sự tin tưởng này có thể đúng vì lý do sau đây:

Vào những năm đầu ở trại cải tạo, tôi thường bị cán bộ, không biết thuộc cơ quan nào và cấp nào, đã thay nhau thẩm vấn tôi về các toán Biệt Kích . một trong những lần thẩm vấn ấy, tôi bị 3 tên cùng một lúc thay nhau hạch hỏi suốt buổi sáng, khiến tôi không còn sức chịu đựng, tôi đã bị gục ngã vì tức giận và xây xẩm . Họ cho người dẫn tôi về phòng, nhưng 2 giờ sau lại kéo tôi lên tiếp tục thẩm vấn . Họ dùng đủ trò ma giáo “hỉ, nộ, ái, ố”,...lúc thì mời tôi hút thuốc lá “có cán” (tức loại thuốc có đầu lọc, một loại thuốc cao cấp vào thời ấy), lúc lại đập bàn quát mắng, khinh bĩ . Họ chưa bao giờ đánh đập tôi lúc thẩm vấn, nhưng họ đã dùng những lời rất cộc cằn và thô lổ để áp đảo tinh thần tôi .

Một điều làm tôi quan tâm hơn cả là họ hỏi tôi rất nhiều về toán Ares, như trưởng toán tên gì, quê quán ở đâu, tuổi tác độ bao nhiêu, dáng điệu bên ngoài như thế nào, có những đặc điểm gì, những liên hệ gia đình, địa chỉ của các người thân lúc ở miền Nam, v.v ... Tôi thầm nghĩ nếu Ares đã thật sự nằm trong tay họ thì mắc mớ gì họ phải hỏi tôi những chuyện thừa thải ấy . Tôi có lý do để không trả lời họ, vì Ares đã xuất phát năm 1962, trước khi tôi được thuyên chuyển về Sở Bắc . Tuy nhiên, hôm nay tôi xin nói ra đây những gì tôi có thể nói ra được . Một vài chi tiết khác tôi thấy chưa thể tiết lộ lúc này vì có thể phương hại đến sự an toàn của toán đó, nếu quả thật toán đó đến nay vẫn còn dấu được tung tích .

Ares hay Hạ Long có tên thật là..., một cán bộ trung cấp và là đảng viên CS bị khai trừ vì bất mãn . Anh đã theo đoàn người di cư vào Nam năm...và được một giới chức miền Nam báo cáo lên ông Ngô Đình Nhu, Tổng Thống Diệm và ông Nhu đã lưu tâm và giúp đỡ cho người này . Sau dó, Sở Bắc đã cử người đến tiếp xúc thuyết phục và bố trí cho anh trở về Bắc hoạt động . Anh đã đồng ý và đã được đưa xâm nhập vào Vịnh Hạ Long năm 1962, rồi từ đó tiến dần về cảng Hải Phòng và nhà máy điện Uông Bí . Đây là 2 mục tiêu mà anh có nhiệm vụ theo dõi và báo cáo mọi sinh hoạt . Ares tỏ ra rất tích cực trong mọi nhiệm vụ giao phó, và điều rất kỳ lạ là anh đã mộ mến Tổng Thống Ngô Đình Diệm một cách khác thường . Hàng năm, trước ngày Song Thất hoặc 26/10, anh đều có đánh điện chúc mừng TT Diệm và nguyện trung thành phục vụ tổ quốc . Khi nghe tin TT Diệm bị giết qua đài phát thanh, anh rất thắc mắc và sau khi được Trung ương xác nhận, anh đã tỏ ra chán nản tột độ . Dù vậy, anh vẫn thi hành mọi công tác giao phó một cách chu đáo . Những chuyến tàu cập bến Hải Phòng, nhất là các tàu chở vũ khí hay quân dụng, đã được anh theo dõi và báo cáo khá chi tiết . Ngoài nhiệm vụ trên, anh còn báo cáo kết quả oanh tạc của một số mục tiêu khác nhau như cầu Hàm Rồng và nhà máy điện Uông Bí ở quanh vùng Hải Phòng .
Để giúp anh thi hành nhiệm vụ trong thời gian anh bị bị bịnh sốt rét, Trung ương đã chấp thuận đề nghị của anh, tuyển mộ thêm người em ruột và một hai người khác trong họ hàng, để phụ anh thực hiện quan sát các mục tiêu ở xa. Trong những năm 1966, 1967 và 1968, bệnh sốt rét của anh trở nên trầm trọng, nhưng Trung ương không tiếp tế cho anh được vì địa điểm nhận tiếp tế của anh nằm trong Vịnh Hạ Long đã bị lộ . Thêm vào đó, vùng biển Hải Phòng bị Mỹ gài mìn khiến mọi cố gắng tiếp tế bằng thuyền cho anh đều không thể thực hiện được .
Khoảng giữa năm 1968, do lời yêu cầu của phía VN, Hoa Kỳ đã tìm được kế hoạch tiếp tế cho Ares . Trung ương báo ngay cho anh tọa độ một số bãi thả tiếp tế và yêu cầu toán đến tận nơi nghiên cứu và báo ngay địa điểm ưu tiên được chọn . Sau khi nhận phúc đáp, Trung ương đã hướng dẫn các chi tiết mà toán phải thi hành để có thể nhận tiếp tế đúng như dự liệu . Đến ngày N, giờ G, một đoàn phản lực đã xuất hiện bắn phá một số mục tiêu ở Hải Phòng, cùng lúc đó một phản lực cơ khác đã bắn một thùng “container” đựng hàng tiếp tế xuống thửa ruộng đã ấn định và được Arès đánh dấu bằng 2 cụm khói trắng như đã chỉ thị . Cách tiếp tế này đã được thực tập 2 lần tại trại Long Thành và cả 2 lần đều đem lại kết quả mong muốn . Trong container đựng hàng tiếp tế, ngoài lương thực, thuốc men, áo quần còn có 10 khâu vàng để toán trao đổi thực phẩm hoặc thuốc men mỗi khi cần đến . Ngoài các vật dụng trên, còn có 4 lá thơ, trong đó có một lá thơ thăm hỏi của Trưởng công tác, còn 3 lá thơ khác được dán bì kín . Toán được chỉ thị dán tem vào và tuần tự gởi đến một địa chỉ trung gian tại Thái Lan . Mỗi thơ đều có dấu hiệu riêng mà toán không được biết lý do .
Chỉ trong một thời gian ngắn, 2 thơ có nội dung thường đã đến tay người nhận, thơ còn nguyên si không bị mở, nhưng thơ thứ 3 có “gài” một tài liệu bí mật giả tạo lại không đến tay người nhận . 2 tháng sau, khi dược Trung ương hỏi về lá thơ này thì toán cho biết, trên đường di tới bưu điện, bị còi báo động, đương sự phải chạy tìm hầm trú ẩn, không may đánh rơi lá thơ xuống vũng bùn nên đương sự đã không gửi . Lý do này đã khiến bạn đồng minh Hoa Kỳ nghi ngờ lòng trung thành của Ares

Nhiệm vụ mới

Đến năm 1968, sau đợt tấn công của địch vào dịp Tết Mậu Thân, Nha Kỹ Thuật phải lãnh nhận thêm rất nhiều công tác ngoại biên với những toán mới được thành lập :
- Các toán STRATA là những toán quân nhân được huấn luyện thuần thục để thi hành những công tác đột kích hay phá hoại các căn cứ địch nằm trên lãnh thổ Bắc Việt .
- Các toán PICK-HILL là những toán người Miên gốc Việt hoạt động trong lãnh thổ Cam-bốt, có nhiệm vụ quan sát và phá hoại các căn cứ địa của VC nằm trên lãnh thổ nước láng giềng Cam-bốt .
- Các toán EARTH-ANGEL, còn được gọi là Đề Thám, là những toán được thành lập với thành phần tù binh bộ đội Bắc Việt hồi chánh. Các toán này hoạt động rất đắc lực, được trang bị như bộ đội chánh quy miền Bắc. Nhờ đó họ len lỏi vào vùng địch khá dễ dàng và đã nhiều phen lập được nhiều thành tích đáng kể. Một số toán viên sau dó đã gia nhập Quân đội VNCH .
- Các toán SINGLETON hoạt động riêng biệt từng cá nhân. Họ là những Việt kiều từng sống nhiều năm tại Cam-bốt, được móc nối trở lại hoạt dộng nằm vùng tại Mimote, Krek, Sihanoukville, Kratié, Ba Thu, v.v ... Đây là những nơi địch đặt căn cứ quân sự và hoạt động rất mạnh. Các nhân viên này có nhiệm vụ theo dõi, báo cáo hoạt động địch và hướng dẫn phi cơ oanh tạc lúc cần thiết .

Ngoài các toán hoạt động như trên, còn có chương trình công tác lừa địch và ly gián địch, được gọi là chương trình Borden, mà toán viên là những tù binh bộ đội Bắc Việt cứng đầụ Họ được học nhảy dù vài hôm trước khi được trang bị như một toán viên rất trung thành của miền Nam : một bản đồ, lệnh hành quân, thơ giới thiệu, v.v ... Các thứ này được dấu kín trong áo nhảy và chỉ được trao cho toán viên tù binh cứng đầu mặc vào trước khi được thả dù xuống vùng địch chiếm đóng .

Các chương trình mới này đã đem lại những kết quả hết sức khích lệ, nên phía Hoa Kỳ đã yêu cầu phía VN chấm dứt liên lạc với 5 toán còn lại ở miền Bắc, bằng cách ra lệnh cho các toán ấy tìm cách xâm nhập qua Lào, trinh diện với bộ đội Vang Pao hoặc rút về miền Nam ... Tuy nhiên, nhiều tháng sau khi lệnh được ban hành, không một toán nào xuất hiện .

Hướng về những người anh em kiêu hùng

Các Biệt Kích Dù bị CS bắt đã phải chịu đủ thứ cực hình . Tuy vậy, họ vẫn giữ vững tinh thần quốc gia và đồng đội . Thái độ cương quyết của họ đã phải làm các cán bộ CS khâm phục và gọi họ là những người “không cải tạo được” . Mãi đến một thời gian lâu sau khi VNCH bị chiếm đóng, CS mới tuần tự tạm trả tự do cho các tù nhân Biệt Kích . Người được trả sớm nhất đã phải ở tù suốt 15 năm và người lâu nhất trên 20 năm . Khi họ trở về, chúng ta đã biết thêm được nhiều chuyện đã xảy ra khi họ công tác tại Bắc Việt . Tuy nhiên, vẫn còn một số toán bặt tin, trong đó có toán VOI do anh Trần Hiếu Hòa làm trưởng toán cùng với 4 toán viên . Toán Ares mà tôi đã đề cập ở trên và một vài toán khác nữa, cũng đang nằm trong danh sách những toán mất tích này . Phải chăng họ đã bị thủ tiêu hay đã hy sinh trên đường thi hành nhiệm vụ .
“Hy sinh trong bóng tối, tất cả vì Tổ quốc”, đó là phương châm hành động mà mọi Biệt Kích đã chấp nhận khi gia nhập vào binh chủng này .

Tôi còn nhớ năm 1970, các sĩ quan trong Bộ chỉ huy Nha Kỹ Thuật đã được xem một cuốn phim mà một đơn vị VNCH vừa tịch thu được của bô đội Bắc Việt khi tấn công vào một căn cứ địch ở Mimot, Cam-bốt . Cuốn phim ghi lại phiên tòa xét xử một toán Biệt Kích mang tên toán Jackson, hoạt dộng tại vùng Nghệ Tĩnh . Bản cáo trạng rất dài, luận tội rất nặng “nào là tay sai đế quốc Mỹ, tay sai Ngô Đình Diệm, nào là xúi dục nhân dân lật đổ chính quyền và phá hoại tài sản nhân dân, v.v ...

Toán Jackson đã bị bắt toàn bộ với tất cả vũ khí và chất nổ khi toán phá chiếc cầu thứ 2 tại Cửa Lò . Hầu hết toán viên đã lãnh án tử hình, chỉ 1-2 người lãnh án chung thân . Điều làm anh em chúng tôi xúc động và hãnh diện, là được chứng kiến thái độ hiên ngang và bình tĩnh của các toán viên khi bản án tử hình được tuyên đọc . Theo lời một nhân chứng quê ở Thọ Ninh, bà con với một toán viên cho biết, 6 người lãnh bản án tử hình đã bị bắn ngay sau đó, và lời nói cuối cùng của họ là: Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Tổng Thống Ngô Đình Diệm muôn năm!

Anh em chúng tôi là những người đã đi qua nhiều trại cải tạo ở miền Bắc và đã được nghe nói rất nhiều về những việc làm đáng phục của anh em Biệt Kích . Trong số đó có các vị linh mục, đại đức tuyên úy, các bạn bè của tôi đã sống chung trại với các anh ấy . Ngoài ra, các tù hình sự miền Băc mà đa số chúng tôi thường gọi họ bằng danh từ “bọn hình sự”, vì phần đông họ thuộc thành phần bất hão, trộm cướp, đâm chém, giết người... khi được hỏi về anh em Biệt Kích thì họ tỏ vẻ rất khâm phục . Họ nói với tôi “Các anh Bê Ka là những người rất hào hùng, cán bộ trại cũng phải nể, các anh ấy rất kỹ luật và đoàn kết với nhau, họ thương nhau và giúp đỡ nhau . Khi một người bị biệt giam được thả hay bị ốm, là các anh khác tìm cách giúp đỡ . Dù ai cũng đói, nhưng họ nhịn bớt phần ăn để bồi dưỡng cho anh em bị bệnh hay bị ốm . Đã có những anh Bê Ka cướp súng bắn cán bộ rồi chạy thoát, có nơi các anh toàn bộ đứng lên làm reo tuyệt thực không đi lao động, nhưng cán bộ trại cũng đành phải làm ngơ...”

Riêng cá nhân tôi, trong 13 năm cải tạo, đã không may mắn gặp lại các anh em Biệt Kích, nhưng tôi không bao giờ quên những con người hào hùng cùng chung lý tưởng đã cùng chung sống với nhau trong tình huynh đệ chân thành . Tôi là người đã từng sống chung với họ ở trại huấn luyện Long Thành và lúc họ lên đường đi công tác., tôi đã tiễn chân hoặc nhiều khi đã cùng vói họ bay vào vùng mục tiêu xâm nhập, đưa tay vẩy chào họ khi họ rời máy bay ... Những kỷ niệm đó khó quên được .

Những kỷ niệm khó quên

Tôi nhớ lại năm xưa, có lần trước ngày lên đường công tác, tôi lái xe đưa một nhân viên của tôi đến thăm lần cuối người bạn gái, hay nói đúng hơn, một người yêu, có nhà ở hẽm xứ Bùi Phát, trên đường Trương Minh Giảng, nay đổi tên là Lê Văn Sỹ. Đến nơi, người thanh niên ấy vội vã bước xuống xe như muốn tận dụng những giây phút ngắn ngủi và quý báu còn lại ... Khoảng 10 phút sau, anh trở ra với người bạn gái đi theo tiễn chân, trên tay anh còn mang một gói quà nhỏ mà tôi đoán chắc đó là quà kỷ niệm của người yêụ Họ nhìn nhau, mắt đẫm lệ, và tôi chỉ biết im lặng cảm thông nỗi buồn chan chứa đang xâm chiếm 2 tâm hồn ... Xe chạy được một quãng đường, người thanh niên ấy quay nhìn tôi, vừa nói vừa mở món quà : “Đây, anh xem, quà cô ấy tặng em” . Tôi liếc nhìn, thấy một nắm tóc thề được gói trong một chiếc áo lót . Cả hai chúng tôi đều im lặng trên đường về trại .
Lần khác, một nhân viên của tôi cũng sắp lên đường, anh đến gặp tôi và trao cho tôi một chồng thơ khá dày đã đề bì sẵn và nói : “Anh Dũng, anh biết em là con một, em đi nhưng em đã không dám nói thật với mẹ em . Vì vậy, em nhờ anh mỗi tháng đến thăm mẹ em và trao cho em . em một bức thơ này, nói là em đang đi học ở ngoại quốc gửi về để mẹ em yên tâm” .
Tôi xúc động nhìn người thanh niên ấy với tất cả lòng yêu thương và mến phục . Tôi đã nhận thơ anh giao và hàng tháng, tôi đã đến thăm mẹ em và trao cho bà quả phụ ấy bức thư của con bà ... Nhưng đau đớn thay, lá thơ cuối cùng của anh đã được trao mà “khóa học” của anh vẫn chưa mãn .

Hai nhân viên Biệt Kích mà tôi vừa kể trên đây, cả 2 đều trở về từ cõi chết, sau gần 20 năm sống trong lao tù CS, một anh hiện đang sống ở Cali, đó là anh Lâm, em ruột của anh Nguyễn Ngọc Trâm, còn người kia, trước ngày tôi rời Saigon, anh ấy đang vất vã hành nghề thợ mộc ngoài Vũng Tàu .
Hy vọng một ngày không xa, anh Độ cũng như bao nhiêu anh hùng Biệt Kích khác còn ở VN sẽ được đoàn tụ với chúng ta tại quê hương thứ hai này .
Trung Tá Nguyễn Văn Vinh
(Nha Kỹ Thuật, BTTM, QLVNCH)

Interim Report to Congress

Prepared by the Office of the Assistant Secretary of Defense, Force Management Policy
Interim Report to Congress
Payments to Certain Persons Captured and Interned by North Vietnam
commonly referred to as the Vietnamese Commandos

I. BACKGROUND
Section 657 of the National Defense Authorization Act for Fiscal Year 1997 (Public Law 104-201) requires the Secretary of Defense to report to Congress regarding the payment of claims by the Department of Defense (DoD) to certain persons captured and interned by North Vietnam. These persons are commonly referred to as the ‘Vietnamese Commandos.’ This provides an initial status report. A final report will be provided when payments have been completed.
Section 657 authorizes payments to a person who was captured and incarcerated by the Democratic Republic of Vietnam as a result of participation in operations conducted under OPLAN 34A or its predecessor. It also authorizes payments to a person who served as a Vietnamese operative pursuant to OPLAN 35, was captured and incarcerated by North Vietnamese forces as a result of OPLAN 35 opera tions in Laos or along the Lao-Vietnamese border, and remained in captivity after 1973. Should the Commando no longer be living, payments are authorized to the surviving spouse, and if none, to the surviving children in equal shares.
Payments are to be in the amount of $40,000. If the claimant demonstrates that the period of confinement was greater than 20 years, the Secretary of Defense may pay an additional $2000 per year up to a maximum of $50,000. $20 million was authorized to be appropriated for payments under this section.
The Secretary of Defense prescribed regulations including procedures for submitting claims. The regulations establish guidelines regarding appropriate documentation for establishing eligibility as determined in consultation with the heads of other agencies of the Government involved in OPLAN 34A, its predecessor or OPLAN 35. By law, claims must be filed within 18 months of the effective date of the regulations and a claimant’s eligibility must be determined within 18 months after receipt of the claim.
All determinations by the Secretary are final and conclusive. The law prescribes that claimants have no right to judicial review, and such review is specifically precluded. The acceptance of payments "shall be=2 0in full satisfaction of all claims by or on behalf of that individual against the United States arising from operations under OPLAN 34A or its predecessor or OPLAN 35."
With regard to attorney fees, the law specifically states that "notwithstanding any contract, the representative of a person may not receive, for services rendered in conjunction with the claim, … more than 10 percent of a payment made under this section."
II. APPROPRIATIONS
The Defense Appropriations Act for Fiscal Year 1997 did not appropriate funds for payments in accordance with Section 657 of the Authorization Act. However, Congress included appropriations for this section in a bill providing supplemental appropriations for conducting operations in Bosnia. This bill was signed into law June 25th, 1997, appropriating $20 million for payment to Vietnamese Commandos.
III. REGULATIONS
On May 15, 1997, the Department approved regulations to establish procedures for receipt of claims and payment to Vietnamese Commandos. On June 25, 1997, the Department published in the Fede ral Register a Privacy Act Notice in accordance with 5 USC 552a, allowing for Privacy Act protection of associated records. On June 30, 1997, the Department published in the Federal Register a System of Records in accordance with OMB Circular A-130, allowing for formal claims receipt.
On July 25, 1997, the regulations were formally published in the Federal Register as 32 CFR Part 270, "Compensation of Certain Former Operatives incarcerated by the Democratic Republic of Vietnam," effective May 15, 1997. These regulations prescribe in detail the membership of the Commission, henceforth called the Vietnamese Commandos Compensation Commission (VCCC), and the functions of the VCCC Support Staff. The regulations prescribe the standards and verification of eligibility of applicants, payment procedures, appeals procedures, and a complete application.
The complete regulations are at Appendix A of this report. Some key points with regard to the regulations are highlighted below:
The regulations are effective May 15, 1997. Hence, in accordance with Public Law 104-201, all claims must be submitted by November 15, 1998 (18 months after establishing associated Department regulations). The Commission has another 18 months to adjudicate claims, until May 1 5, 2000. However, the commission is adjudicating claims much faster than the 18 months allowed and expects its work to be completed by the end of 1999.
On July 1, 1997, the Secretary of the Army established the VCCC Support Staff. The staff consists of a staff director, a contract staff advisor, three military staff analysts, two Vietnamese translators, a staff investigator and an administrative assistant. The staff members have become experts on the Vietnamese Commandos and are capable of processing and investigating 60 to 70 claims per month. The VCCC Support Staff makes recommendations to the Commission, which is responsible for actually adjudicating the eligibility of each claimant.
The standards for verification of eligibility were established so that information presented to the commission indicates whether "the applicant is more likely than not to be eligible for payment." Rather than requiring personal appearances, the regulations call for a notarized application, signed affidavits and various readily available identification documents. Upon learning that notary service was unavailable or available only at great expense for applicants living in Vietnam, the rules were amended prior to final publication waiving the notary requirement "in exceptional circumstances."
While Section 657 of Public Law 104-201 established that claimants have no right to judicial review, the regulations do allow for an appeal process within DoD and establish specific appeal procedures for filing petitions for reconsideration.
Appendix A to 32 CFR Part 270 is a complete Application for Compensation for Vietnamese Commandos. The Support Staff has subsequently developed a bilingual application in both English and Vietnamese. The bilingual application is made available on request, is sent to all applicants applying directly from Vietnam and has been provided to the US Embassy in Vietnam.
IV. SUMMARY OF PROGRESS TO DATE
The VCCC Support Staff began processing claims in September 1997. The Commission reviewed the first 20 claims in November 1997 and made payments on 16 approved claims by the end of November. The Commission approved 20 more claims in December and made payments before the end of the month. The VCCC meets monthly and now adjudicates 60 to 70 claims per month. The following is the status of claims presented to the VCCC as of September 18, 1998:
Number of claims received: 880
Number of claims closed: 586
Approved: 244
Denied: 342
Average processing time: 93 days
Number of claims received from:
U.S.: 388
Vietnam: 490
Australia: 2
Total approved for payment: $9,969,500
Total paid to claimants: $3,024,000
Total held in abeyance: $6,945,500
Petitions for Reconsideration: 35
Commission denial affirmed: 35
SUMMARY OF SIGNIFICANT ISSUES
Ineligible Claims from Vietnam
Beginning in January 1998, the Commission began receiving a large number of claims from applicants in Vietnam who were clearly not former commandos. These applicants were mostly former Army of the Republic of Vietnam (ARVN) soldiers who were misled into believing the United States was making broad-based payments to former Vietnamese soldiers. Broadcasts over BBC radio based on incomplete information were partially responsible for this as well as an apparent "cottage industry" by which local Vietnamese, for a fee, processed applications, whether or not the applicant had any potential for qualifying. The VCCC and Support Staff have subsequently sent clarifying information in English and Vietnamese to the US Embassy in Vietnam, arranged for multiple broadcasts on Voice of America outlining qualifying criteria, and promptly provided specific disqualifying information in Vietnamese to all applicants whose claims were denied. No netheless, the Commission is now adjudicating approximately two claim denials for every claim approved.
Attorney Fees
Section 657 specifically limits attorney fees to 10% of payments made. In early 1998, the Department received a number of inquiries with regard to attorney fees. A complaint was filed with the DoD Inspector General (IG) regarding an attorney who was charging his clients fees in excess of 10%. On March 12, 1998, the Assistant Secretary of Defense for Force Management Policy directed that payments be held in abeyance pending resolution of this question of attorneys charging claimants excessive fees in violation of law. Efforts to resolve the issue directly with the attorney involved have not been successful. On July 17, 1998, the issue was referred by the Department of Justice to the United States Court of Federal Claims for resolution.
Section 658 of the FY1999 Defense Authorization Bill provides that "notwithstanding any prior agreement (including a power of attorney) to the contrary, the actual disbursement" of a payment under this section may be made only to the person who is eligible for payment. Passage of this amendment in the Authorization Bill would provide the Department a possible alternative to waiting for complet ion of the judicial process before being able to resume payments.
Disputed Claims
When the Department published its regulations in May 1997, one attorney represented the vast majority of the commandos. A few other attorneys have since represented a handful of additional claimants. However, one attorney has presented the VCCC Support Staff with over 80 powers of attorney switching claimants to himself from the original attorney. Some of these claimants’ applications had already been investigated, adjudicated and approved for payment. The original attorney has asked the Department in writing to defer action on these applications until such time as the validity of representation can be adjudicated in court. Section 658 of the FY1999 Defense Authorization Bill provides a possible alternative to waiting for completion of the judicial process before being able to resume payments.
Lawsuits
Section 657 states that payments "under this section shall be in full satisfaction of all claims by or on behalf of that individual against the United States arising from oper ations under OPLAN 34A or its predecessor or OPLAN 35."
Nonetheless, the original lawsuit (April 1995) against the United States Government on behalf of the commandos remains open in the United States Court of Federal Claims.
In April 1998, the attorney representing commandos in the original 1995 lawsuit filed suit against a second attorney in the United States District Court for the District of Columbia. This suit charges the second attorney with interference with preexisting contractual client relationships. The attorney filing the lawsuit asked the Department to defer payment on disputed applications until such time as the validity of representation can be adjudicated in court. The VCCC Support Staff has received three subpoenas in conjunction with this suit.
In June 1998, the attorney representing commandos in the original 1995 lawsuit filed a lawsuit in the United States District Court, District of Massachusetts seeking Veterans benefits for the commandos similar to those granted to members of the Armed Forces of the United States.
In August 1998, the attorney representing commandos in the original 1995 lawsuit filed a lawsuit in the United States District Court, Southern District of Florida, naming the Assistant Secretary of Defense for Force Management Policy, the Chairman of the VCCC and the United States as defendants. This lawsuit involves the attorney fee issue referred in July 1998 by the Department of Justice to the United States Court of Federal Claims for resolution