Friday, May 6, 2011

HÀNH QUÂN VULCAN


HÀNH QUÂN VULCAN
Dr. Dale Andrade

        Khi ánh mặt trời nhô lên trong vịnh Bắc Việt, những chiếc tầu đánh cá của ngư dân miền bắc đã ra khơi, trong những tia sáng lóng lánh phản chiếu trên mặt nước biển. Họ thường thả lưới ngay trước cửa miệng sông Gianh, đổ ra biển, cách Đồng Hới khoảng 40 cây số về hướng bắc. Lúc đó đang trong thời gian chiến tranh, vẻ bình yên chỉ là điều giả tạo. Đi ngược lên giòng sông khoảng một cây số, nơi bờ phiá nam, có căn cứ Hải Quân Quảng Khê của miền Bắc.
        Ngày 16 tháng Năm 1962, khung cảnh cũng bình thường như mọi ngày. Không ai biết rằng, dưới mặt nước biển có chiếc tầu ngầm Hoa Kỳ đang lặng lẽ dò thám bờ biển miền bắc Việt Nam. Tên của chiếc tầu ngầm đó là USS Catfish, đang theo dõi các hoạt động trong căn cứ Hải Quân Quảng Khê. Vài ngày trước, chiếc tầu ngầm đã di chuyển từ Philippine đến cửa sông Gianh trong một nhiệm vụ bí mật có mật danh là Wise Tiger.
        Khi đến vịnh Bắc Việt, chiếc tầu ngầm Catfish nằm ngoài hải phận quốc tế, thâu thập tin tức về Hải Quân Bắc Việt, đặc biệt để ý những chiếc tốc đỉnh (tầu loại nhỏ, chạy nhanh để tấn công) Swatow đóng ở bên Tầu (Hoa Lục). Những chiếc tầu này là lực lượng biên phòng nồng cốt của Hải Quân miền bắc. Dài khoảng 83 bộ, trang bị ba khẩu đại bác 37 ly, có thể bắn liên lục (automatic), đại liên nòng đôi 14,5 ly, và radar. Với thủy thủ đoàn 30 người, chiếc Swatow có thể chạy với vận tốc 28 knots. Sau khi đã nhận diện ba chiếc Swatow đang thả neo trong căn cứ Hải Quân Quảng Khê, chiếc tầu ngầm Catfish gửi điện văn báo cáo về Philippine rồi được chuyển tiếp vào Saigon. Cơ quan tình báo CIA soạn thảo kế hoạch phá hoại ba chiếc tầu đó.
        Kể từ tháng Ba năm 1961, cơ quan Trung Ương Tình Báo CIA đã đưa ra kế hoạch đánh phá các hải cảng nơi miền bắc Việt Nam, một phần trong những hoạt động bí mật và đệ trình lên Tổng Thống John F. Kennedy. Bản thảo của kế hoạch này được cho vào tủ sắt, cho đến mùa Xuân năm 1962, khi quân đội Bắc Việt gia tăng những hoạt động trong miền nam và nước láng giềng Lào. Điều này làm giới lãnh đạo Hoa Kỳ ở Washington phải xem lại những kế hoạch hoạt động bí mật nơi miền bắc Việt Nam.
        Bực tức vì Bắc Việt gia tăng các hoạt động quân sự trong miền nam, đặc biệt phát triển thêm đường mòn HCM, chính quyền Hoa Kỳ dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Kennedy tìm cách phản ứng.
        Những hoạt động bí mật của hải quân không phải là điều mới lạ đối với cơ quan CIA. Từ năm 1951, cơ quan này đã xử dụng những chiếc thuyền ngụy trang tầu đánh cá và cảm tử quân Đài Loan tấn công bờ biển Hoa Lục. Trong trận chiến tranh Hàn Quốc, cơ quan CIA cũng tổ chức những vụ đánh phá tương tự đối với Bắc Hàn. Dựa vào những kinh nghiệm kể trên, viên chức CIA trong Saigon hình dung ra kế hoạch, xử dụng những chiếc tầu máy, ngụy trang ra miền bắc, chở theo biệt kích phá hoại ba chiếc Swatow của Hải Quân Bắc Việt.
        Trong tháng Tư năm 1962, cơ quan CIA thuê bốn “người nhái” Hải Quân Việt Nam đã được huấn luyện ở Taiwan. Toán người nhái này có tên là Vulcan. Qua tháng Năm, sau khi được tầu ngầm Catfish xác nhận về sự hiện diện của mấy chiếc tầu Swatow trong căn cứ Hài Quân Quảng Khê, cơ quan CIA quyết định ra tay.
        Toán Vulcan cùng với 10 thủy thủ đoàn trên chiếc tầu Nautilus 2, ngụy trang giống như các tầu đánh cá ngoài bắc, chạy ra miền bắc. Họ thả neo nơi cửa sông Gianh, toán biệt kích bí mật bơi xuồng vào quan sát bờ biển rồi quay trở lại chiếc Nautilus.
        Đại úy Hà Ngọc Oanh, danh hiệu Antoine, nhìn bốn người nhái Vulcan ngồi quanh bàn. Đã có hai năm làm việc trong các hoạt động bí mật, đây là toán người nhái đầu tiên ông ta chỉ huy. Sau khi nhận được lệnh phá hoại mấy chiếc tầu Swatow hôm 28 tháng Sáu, đại úy Oanh chủ tọa buổi thuyết trình cuối cùng cho chuyến công tác.
        Trong buổi thuyết trình có hai nhân viên CIA, đại úy Oanh thông ngôn những chỉ thị cho toán biệt kích người nhái, có thêm không ảnh chụp khu vực Quảng Khê từ mấy hôm trước. Đằng sau lưng ông ta có tấm bản đồ căn cứ Hải Quân Bắc Việt lớn, có những vệt bút chì chỉ dẫn lộ trình xâm nhập, và rút lui. Mấy người nhái toán Vulcan chăm chú lắng nghe, từ chiếc thuyền lớn Nautilus, họ sẽ xuống thuyền nhỏ đóng bằng gỗ, xâm nhập vào cửa sông Gianh. Trong căn cứ hải quân Quảng Khê, chỉ có ba chiếc tầu Swatow, nên ba người nhái sẽ mang chân vịt bơi vào. Người nhái thứ tư Nguyễn Chuyên ở lại làm thành phần trừ bị. Ba người kia sẽ bơi vào, gắn mìn dưới thân tầu, chỗ gần buồng máy xong, bơi trở ra xuồng gỗ rồi cả toán Vulcan rút lui.
        Đêm 29 tháng Sáu, toán người nhái Vulcan lên chiếc tầu ngụy trang Nautilus 2, cùng với thủy thủ đoàn hướng ra ngoài miền bắc. Chiếc tầu chạy suốt đêm, qua ngày hôm sau, chiếc Nautilus 2 hòa nhập vào những thuyền đánh cá khác nơi miền bắc. Đến buổi tối, họ đã tiến gần đến mục tiêu. Trước nửa đêm, ngày 30, họ tắt máy tầu, và hai người thủy thủ hạ chiếc xuồng gỗ có gắn động cơ xuống nước. Các người nhái toán Vulcan đem theo đồ lặn, vũ khí cùng với mấy qủa mìn leo xuống, lặng lẽ chạy vào bờ.
        Mười lăm phút sau, người nhái Lê Văn Kính đã nhìn rõ bờ biển, nơi cửa sông Gianh. Các người nhái có hai tiếng đồng hồ đem mìn, bơi vào, gắn mấy qủa mìn rồi bơi trở lại xuồng. Kính đi chân vịt vào, từ từ xuống nước bơi vào bờ. Bơi theo Lê Văn Kính còn có hai người nhái khác là Nguyễn Văn Tâm và Nguyễn Hữu Thao.
        Khoảng bốn mươi lăm phút sau, họ vào đến mục tiêu, chia nhau gài mìn ba chiếc tầu Swatow. Nguyễn Hữu Thao đang gài qủa mìn dưới lườn một chiếc Swatow, chợt nghe tiếng người đi trên bong tầu, hốt hoảng làm cho quả mìn nổ tung. Chuyến đột nhập đã bị phát giác, hai người nhái còn lại lo tìm đường tẩu thoát.
        Lê Văn Kính đã gài xong qủa mìn, anh bơi ra xa khoảng 20 thước, trồi lên để thở, đúng lúc tiếng nổ của quả mìn Nguyễn Hữu Thao làm Kính choáng váng, tê chân, trôi dật dờ trên mặt nước. Anh ta biết rằng, đơn vị an ninh Bắc Việt sẽ tràn đầy trong khu vực và đi lùng bắt toán người nhái xâm nhập.
        Nguyễn Chuyên ngồi chờ trên chiếc xuồng cùng với hai thủy thủ đoàn, họ nghe tiếng nổ vang dội cùng với ánh lửa loé lên trong màn đêm. Quân Bắc Việt trông thấy chiếc xuồng đang bập bềnh trên sóng, rồi có tiếng động cơ của chiếc tầu Swatow. Cả ba người hốt hoảng, không thể chờ được nữa, cho chiếc xuồng chạy trở lại chiếc Nautilus 2. Vừa chạy, Chuyên vừa bắn trả lại chiếc tầu đang đuổi theo. Khi ra đến chiếc Nautilus 2, Chuyên đã trúng đạn bị thương.
        Trong màn đêm, Kính bơi vào bờ, cởi bỏ bộ quần áo lặn, nằm trốn trong đám sau sậy. Anh ta định đợi cho êm, rồi tìm cách bơi về phiá nam. Cơ hội đó không bao giờ đến, trong vòng một tiếng đồng hồ, toán tuần tiễu tìm ra được chỗ Kính đang trú ẩn, bắt sống, đánh đập dã man, rồi lôi anh ta đi đến phòng an ninh để điều tra.
        Người nhái thứ ba, Nguyễn Văn Tâm may mắn hơn chút xíu. Anh ta gài xong qủa mìn nhanh chóng rồi bơi trở về chiếc xuồng đang đợi nơi cửa sông Gianh. Đang bơi, nghe tiếng nổ của qủa mìn... rồi tiếng tầu thuyền đuổi nhau, anh ta biết mình bị bỏ rơi. Nhìn quanh, anh Tâm trông thấy một chiếc thuyền nhỏ, tưởng của dân đánh cá, bơi lại, leo lên, rơi vào tay của lực lượng dân quân miền bắc.
        Căn cứ Hải Quân Quảng Khê phản ứng, cho mấy chiếc Swatow chạy ra biển. Chiếc mang số 161 trông thấy chiếc tầu ngụy trang đánh cá Nautilus 2 đang trên đường chạy về hướng nam, nên đuổi theo. Chiếc Nautilus 2 vừa chạy vừa bắn đại liên về phiá sau để thoát thân, nhưng chịu không nổi hỏa lực của chiếc Swatow. Đến gần 6:00 giờ sáng đạn đại bác trúng máy tầu chiếc Nautilus 2, làm chiếc tầu này không chạy được nữa, nằm chờ chết. Chiếc Swatow chạy vòng quanh bắn phá cho đến khi chiếc tầu Nautilus 2 vỡ ra thành nhiều mảnh gỗ. Người nhái Nguyễn Chuyên vừa thoát chết, trúng đạn chết cùng với một thủy thủ đoàn.
        Chiếc Swatow vớt lên 10 thủy thủ chiếc tầu bị bắn tan tành. Họ không biết, người thứ 11 Nguyễn Văn Ngọc, vẫn còn trốn dưới chiếc tầu đang chìm. Sau khi chiếc Swatow quay đi, anh Ngọc bám được mảnh ván trôi về phiá nam vĩ tuyến 17 và được phi cơ quan sát trông thấy, cứu thoát đem về Đà Nẵng.
        Ngày 21 tháng Bẩy, chính quyền Hà Nội đem hai người nhái sống sót cùng 10 thủy thủ chiếc tầu Nautilus 2 ra tòa. Hai người nhái lãnh án tù chung thân, tống giam vào ngục. Chính quyền miền bắc, trưng bầy những vũ khí vật dụng tịch thâu được trước báo chí quốc tế, và một người nhái đã bị họ ép buộc lên án kế hoạch đánh phá miền bắc trước các phóng viên, báo chí.
        Mặc dầu thất bại, cơ quan CIA vẫn tiếp tục, gửi ra Đà Nẵng một chuyên viên, Tucker Gougleman để chỉnh đốn lại chương trình “Biệt Hải”. Gougleman là một cựu TQLC, chiến đấu trong vùng Thái Bình Dương, sau đó được cơ quan CIA tuyển một. Trong trận chiến Hàn Quốc, ông ta chuyên tổ chức bắn phá các căn cứ quân sự của Bắc Hàn dọc theo bờ biển.
        Khi ra tới Đà Nẵng, Gougleman nhận thấy rằng, cơ quan CIA đã có khoảng nửa chục chiếc tầu ngụy trang theo kiểu thuyền đánh cá ngoài bắc (Nautilus, đóng ở Đà Nẵng), nhưng không có lính biệt kích hải quân (Biệt Hải) đủ tiêu chuẩn. Trong mùa Thu năm đó, cơ quan CIA tuyển mộ những người có khả năng bơi lội, và đến tháng Mười Hai năm 1962, họ đã có hơn bốn toán mười hai người (4x12).  
        Gougleman được một toán Người Nhái (SEAL) Hải Quân Hoa Kỳ gồm hai sĩ quan và mười binh sĩ đến huấn luyện cho các người nhái Việt Nam. Đến cuối mùa Hè năm 1963, bốn toán biệt kích người nhái Việt Nam đã thụ huấn xong, sẵn sàng lên đường công tác. Hầu hết các toán viên người nhái đều được tuyển mộ từ đời sống dân sự, các trưởng toán là hạ sĩ quan Lục Quân VNCH. Một toán có tên là Neptune là toán người nhái, tốt nghiệp khóa Scuba (lặn dưới nước), toán Cancer hầu hết là người thiểu số Nùng.
        Gougleman đã có đủ số biệt kích hải quân, nhưng vẫn còn một trở ngại khác. Mặc dầu Hải Quân miền bắc không có những chiến hạm lớn như trong miền nam, tuy nhiên mấy chiếc Swatow chạy nhanh hơn, võ trang mạnh hơn, dư sức ăn tươi nuốt sống mấy chiếc tầu gỗ ngụy trang theo kiểu tầu đánh cá ngoài bắc. Kinh nghiệm chuyến hành quân Vulcan cho biết, Gougleman cần những chiếc tầu chạy nhanh hơn để có thể đưa những toán biệt kích ra đánh phá bờ biển miền bắc rồi đưa họ về an toàn.
        Sự thất bại của chuyến hành quân Vulcan làm cho cơ quan CIA phải nghĩ lại. Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Hoa Kỳ thúc đẩy cho việc tìm kiếm một loại tầu khác. Bộ Chỉ Huy Quân Viện (MACV) tại Việt Nam vừa mới thành lập, dưới quyền đại tướng Paul D. Harkin đề nghị xử dụng tầu phóng thủy lôi (PT boat) cho những chuyến “ra ngoài bắc”. Đề nghị của đại tướng Harkin đã được gửi về Washington cho những cố vấn an ninh cao cấp của Tổng Thống Kennedy duyệt xét.
        Ngày 27 tháng Chín, Washington gửi công điện chấp thuận đến cơ quan MACV trong Saigon. Hải Quân Hoa Kỳ gửi qua hai chiếc tầu phóng thủy lôi đóng từ năm 1950 qua Việt Nam PT-810 và PT-811 đê xử dụng tạm thời cho đến khi có loại tầu mới. Mỗi chiếc PT được trang bị súng phóng lựu đạn tự động 40mm, đại liên 50. Qua Việt Nam, hai chiếc tầu phóng thủy lôi được đổi tên PTF-1 và PTF-2.
        Cơ quan CIA đi vòng qua “thủ tục của Washington”, đặt mua hai chiếc tầu Nasty của Na Uy. Đến đầu năm 1963, họ có thêm hai chiếc tầu nhỏ, chạy nhanh để tấn công, đặt tên là PTF-3 và PTF-4. Đến tháng Mười, Gougleman nhận thêm hai chiếc Swift, đóng ở Louisiana. Lúc đó lại có thêm một vấn đề, thủy thủ đoàn ghe đánh cá ngụy trang (Nautilus) không đủ kinh nghiệm để lái những loại tầu chiến tối tân.
        Cơ quan CIA lại phải tìm kiếm, tuyển mộ thuyền trưởng (người lái tầu) ở các nước tây phương. Khi đặt mua hai chiếc tầu Nasty, cơ quan CIA đã có “sự quan hệ” ở Oslo, thủ đô của Na Uy, nên việc tìm người, tuyển mộ không khó. Họ thuê ba thường dân Na Uy qua Việt Nam làm việc với thời hạn sáu tháng. Khi đến Đà Nẵng, ba người Na Uy được đặt tên là “Viking”, và làm thuyền trưởng ba chiếc PTF. Họ còn trẻ, hăng say, rất hợp với người Việt Nam, đại úy Trương Duy Tài, một sĩ quan hải quân trong chương trình cho rằng “Họ đúng là người Viking... Họ lái tầu, và định hướng rất giỏi”.
        Ngày 15 tháng Mười Hai, một chiếc tầu PTF hướng ra miền bắc, đem theo toán người nhái Neptune (duy nhất, các toán kia là biệt hải). Họ đem theo mìn định làm lại chuyến tương tự như toán Vulcan trước đây. Nhưng chưa đến mục tiêu, người tuyền trưởng lạc hướng nên phải hủy bỏ chuyến công tác, quay về Đà Nẵng.
        Cơ quan CIA đợi đến ngày 14 tháng Giêng năm 1964, ra lệnh tấn công hai mục tiêu. Theo kế hoạch, hai chiếc PTF sẽ rời bến trước nửa đêm, chạy song song đến khi qua vĩ tuyến 17 sẽ tách ra. Một chiếc sẽ hướng về nhà máy lọc nước gần thị trấn Đồng Hới, chiếc kia sẽ tiếp tục chạy lên khoảng 18 cây số nữa, tránh sông Gianh và những chiếc Swatow, đến sông Ron. Ngược lên giòng sông khoảng một cây số có một chiếc phà vận chuyển lưu thông bắc nam.
        Toán biệt hải tấn công Đồng Hới có danh hiệu Zeus không gặp trở ngại. Khi đến gần bờ, toán biệt hải xuống xuồng cao su chạy vào bờ, đem theo ống phóng có sáu hỏa tiễn đặc biệt 3.5 (inches) do chuyên viên vũ khí cơ quan CIA chế tạo. Các biệt hải đặt hỏa tiễn bắn vào mục tiêu nhà máy lọc nước, điều chỉnh giờ phút khai hỏa rồi rút lui trở lại chiếc PTF đang đợi, tất cả lên tầu chạy về Đà Nẵng.
        Toán biệt hải thứ hai có danh hiệu Charon không được may mắn. Khi chiếc Swift còn cách mục tiêu 19 cây số, thuyền trưởng người Na Uy trông thấy có chiếc tầu chạy từ hướng bắc xuống, nên đổi hướng tránh. Sau khi tránh được chiếc tầu lạ, “The Viking” đưa toán biệt hải Charon đến mục tiêu trễ một tiếng đồng hồ.
        Quyết định thi hành nhiệm vụ, người trưởng toán biệt hải ra lệnh cho toán viên xuống xuồng cao su bơi vào bờ. Khi đến gần cửa sông Ron, họ mang chân nhái vào rồi chia ra hai cặp. Một cặp bơi dọc theo bờ phiá bắc, cặp kia bơi theo bờ phiá nam. Chuyện không may xẩy ra, một chiếc tầu đi từ sông ra, một cặp người nhái sợ bị phát giác nên vội vã bơi trở về xuồng cao su.
        Cặp người nhái thứ hai không thấy đâu. Đợi một lúc sau cũng không thấy, hai người nhái bơi xuồng trở về chiếc Swift. Trời gần sáng, nguời thuyền trưởng Na Uy đành phải lái chiếc tầu quay về. Nhưng khi vừa nổ máy tầu, họ trông thấy có ánh đèn từ bờ biển chiếu ra, ông ta lái chiếc Swift chạy vào gần bờ đón được hai người nhái, rồi chạy thẳng về hướng nam.
        Về đến Đà Nẵng, cơ quan CIA mừng rỡ vì tất cả đều về đến căn cứ an toàn, mặc dầu không được chứng kiến kết qủa. Đó cũng là một trong những chuyến hành quân do cơ quan CIA đảm trách. Trong tháng Giêng năm 1964, tất cả hoạt động của cơ quan CIA bàn giao cho quân đội. Những kế hoạch, chương trình đánh phá miền Bắc Việt Nam được gọi là Hành Quân 34A nằm trong đơn vị SOG (Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát).
Dallas, TX.
vđh

MỤC TIÊU OSCAR 8


MỤC TIÊU OSCAR 8
BY: SGM WILLIAM (BILLY) wAUGH

GIỚI THIỆU
        Mục tiêu Oscar-8 nằm cách căn cứ Khe Sanh 18 cây số về hướng nam, trên đất Lào. Oscar-8 có chiều dài theo hướng bắc-nam 1 cây số, bề rông theo hướng đông-tây 3 cây số, nằm trong khu vực lòng chảo với vách núi bao quanh theo hình móng ngựa, và được bảo vệ với hỏa lực phòng không rất mạnh mẽ. Đường 922 đi từ hướng tây sang đông ngang qua Oscar-8 vào khu vực thung lũng A Shau (cách khoảng 15 cây số), trong phần đất nam Việt Nam. Có một giòng suối chạy ngang qua mục tiêu Oscar-8, rất thuận tiện cho các đơn vị Bắc Việt lập căn cứ, binh trạm.
        Mục tiêu Oscar-8 được đơn vị SOG chú ý đặc biệt, khi nhận được báo cáo sau đây:
1.      Phi cơ gián điệp U-2 báo cáo, có nhiều xe cộ của địch di chuyển trong khu vực khi trời tối hoặc lúc không có phi cơ thám thính.
2.      Tin tình báo cho biết, trong mục tiêu Oscar-8 lúc nào cũng có một đơn vị Bắc Việt khoảng 1500 binh lính bảo vệ 24/24.
3.      Một báo cáo “đặc biệt, khẩn”, trong mục tiêu Oscar-8 có một sĩ quan cao cấp trong quân đội Bắc Việt (Võ Nguyên Giáp? Tổng Tư Lệnh Quân Đội Bắc Việt) đến thanh tra, thăm viếng.

LỆNH HÀNH QUÂN
        Bộ chỉ huy đơn vị SOG trong Saigon ra lệnh cho bộ chỉ huy Bắc (CCN) ngoài Đà Nẵng, soạn thảo kế hoạch hành quân, cho một đơn vị tấn công mục tiêu Oscar-8, phát xuất từ căn cứ hành quân tiền phương Phú Bài. Bộ chỉ huy Bắc phải thực hiện những điều sau đây:
1.      Đưa một trung đội Hatchet Force do sĩ quan LLĐB/HK chỉ huy vào khu vực hành quân càng sớm càng tốt (ASAP). Trong trường hợp này có thể xử dụng hai trung đội Hatchet Force với 55 biệt kích quân người Thượng, 4 cấp chỉ huy LLĐB/HK. Đơn vị sẽ được trực thăng đưa vào vùng hành quân, không được chậm trễ hơn ngày 4 tháng Năm 1967.
2.      Phải cố gắng giết hoặc bắt sống sĩ quan cao cấp của địch (Tướng Giáp). Tiêu diệt tất cả những đơn vị của địch gặp phải, trên trục tấn công.

KẾ HOẠCH HÀNH QUÂN
        Ngày hành động (D-Day), trước giờ hành động 1 giờ (H-1, 6 giờ sáng), chín pháo đài bay B-52 bay theo đội hình chiến thuật (V) sẽ thả bom trên mục tiêu Oscar-8.
        Ngày hành động (D-Day), giờ hành động (H, 7 giờ sáng), 58 biệt kích quân thuộc đơn vị Hatchet Force, phát xuất từ căn cứ hành quân tiền phương 1 (FOB-1), Khe Sanh, sẽ được trực thăng CH-46 (giống như CH-47 Chinook của Lục Quân Hoa Kỳ) TQLC/HK đưa vào trung tâm mục tiêu Oscar-8.
        Đơn vị tấn công phải càn quét mục tiêu Oscar-8 đã bị pháo đài bay B-52 dội bom. Tìm cách bắt sống “nhân vật quan trọng” (Võ Nguyên Giáp), tình nghi đang hiện diện trong khu vực.
        Tiêu diệt, phá hủy các căn cứ của địch trong mục tiêu Oscar-8 trước khi triệt xuất vào lúc 3:00 giờ chiều cùng ngày.
        Đơn vị tham dự trận tấn công trở về căn cứ hành quân tiền phương Khe Sanh, báo cáo, tổng kết trận tấn công. Tất cả tù binh phải được đưa đến khu thẩm vấn trong căn cứ.

KẾ HOẠCH KHÔNG YỂM
        Những loại phi cơ được dành sẵn cho đơn vị SOG theo lệnh của bộ tư lệnh Không Lực 7 Hoa Kỳ (The 7th Air Force).
        Chín (9) pháo đài bay B-52 thà bom mục tiêu Oscar-8 lúc H-1 giờ (6 giờ sáng).
        Ba (3) trực thăng CH-46 của TQLC/HK để chở quân, đưa đến bãi đáp, đã chọn sẵn trong mục tiêu Oscar-8.
        Bốn (4) trực thăng H-UID võ trang đánh dọn bãi cho chuyển đổ quân, và yểm trợ cho lực lượng tấn công.
        Hai (2) khu trục A1E (ứng chiến) yểm trợ cho đơn vị tấn công Hatchet Force.
        Ban chỉ huy Không Trợ “Hillsboro” sẽ được thiết lập bay cách mục tiêu Oscar-8 20 cây số, để chỉ huy, điều động tất cả các phi cơ chiến thuật tham dự cuộc hành quân.      
        Bốn (4) phản lực cơ F-4 bay bao vùng, sẽ đến mục tiêu trong phòng 3 phút khi cần đến.
        Hai (2) trực thăng H-34 của đơn vị SOG, ứng chiến trong trường hợp cấp cứu.
        Hai (2) phi cơ thám thính O-1 (FAC) bay bao vùng cho cuộc hành quân.

LẦN THUYẾT TRÌNH CUỐI CÙNG
        Lúc 4:00 giờ chiều ngày 3 tháng Năm 1967, vị chỉ huy trưởng căn cứ hành quân tiền phương (FOB-1) Khe Sanh chủ tọa buổi họp cuối cùng cho các sĩ quan phi công TQLC/HK, đơn vị Hatchet Force, phi công trực thăng H-34 của đơn vị SOG, và phi công FAC. Cuộc hành quân sẽ bắt đầu đúng 7:00 giờ sáng ngày 4 tháng Năm 1967.

DIỄN TIẾN HÀNH QUÂN
        Đúng 4:00 giờ sáng, ngày 4 tháng Năm, phi công FAC, thiếu tá Alexander cất cánh trên chiếc phi cơ quan sát O-2 bay lên do thám khu vực gần mục tiêu. Thời gian bay cho loại phi cơ này từ Khe Sanh đến mục tiêu là 35 phút.
        Phi cơ FAC bay đến mục tiêu từ hướng tây, cách mục tiêu Oscar-8 khoảng 15 cây số về hướng nam. Thiếu tá Alexander thiết lập sự liên lạc với trung tâm hành quân trong căn cứ Khe Sanh, sau đó cùng với người ngồi ghế sau Waugh, chờ đợi trận thả bom của phi cơ B-52, dưới danh hiệu “Pháo Binh Hạng Nặng” (Heavy Artillery).
        Lúc 5:45 phút, tôi cùng thiếu tá Alexander theo dõi đường chân trời nơi hướng đông và hướng nam. Vẫn chưa thấy chiếc phi cơ nào xuất hiện trên bầu trời, chúng tôi hướng về mục tiêu Oscar-8, trông thấy vài đám khói ở dưới, các binh sĩ Bắc Việt chắc đang nấu bữa cơm sáng.
        Đúng 6:00 giờ sáng, ba phi tuần, mỗi phi tuần ba chiếc B-52 thả bom xuống mục tiêu Oscar-8. Chứng kiến trận B-52 thả bom từ xa, khi chiếc phi cơ B-52 cuối cùng ra khỏi tầm mắt, thiếu tá Alexander và tôi (Waugh) biệt kích SOG, ngồi ghế sau phi cơ quan sát bao vùng, bay trên mục tiêu Oscar-8 để quan sát. Chúng tôi nhìn xuống khúc đường 922 đến chân núi, trông thấy ít nhất 30 người Lính Bắc Việt đang lo dập tắt mấy đám cháy. Một nhóm khác khoảng 15-20 binh sĩ Bắc Việt đang lăn những thùng nhiên liệu ra đến chỗ an toàn, tránh những ngọn lửa. Nhiều căn chòi trong căn cứ bị cháy. Và đạn đại liên phòng không 12 ly 7 của quân đội Bắc Việt đặt trên sườn núi bắn lên phi cơ dữ dội.
        Tôi liên lạc với mấy trực thăng CH-46 chở quân đến bãi đáp. Nơi phiá đông mục tiêu Oscar-8, hai trực thăng võ trang TQLC đã vào trước, đang bắn dọn bãi đáp. Cả hai trực thăng võ trang đều bị hỏa lực phòng không bắn rơi gần bãi đáp.
        Chứng kiến hai chiếc trực thăng võ trang bị bắn rơi, cà hai chúng tôi, thiếu tá Alexander và tôi cùng báo động trên hệ thống truyền tin, cho mấy trực thăng chở quân CH-46 tránh ra chỗ khác, đừng đưa quân vào bãi đáp. Nhưng cuộc đổ quân đang tiến hành, không ngưng lại được...
        Cả hai lại phải chứng kiến cảnh hãi hùng, Cả hai trực thăng chở quân CH-46 đều bị bắn rơi, khi chưa đáp xuống bãi đáp. Cả hai chiếc đều trúng đạn phòng không khi còn cách mặt đất khoảng 50-100 thước, rơi xuống bãi đáp. Chúng tôi trông thấy những người lính biệt kích trong đơn vị Hatchet Force đang chạy ra khỏi hai chiếc trực thăng. Bấy giờ mấy khẩu đại liên phòng không trên sườn núi hướng mũi súng xuống bãi đáp, bắn giết đám lính biệt kích còn kẹt trong bãi đáp trực thăng.
        Thiếu tá Alexander cho chiếc FAC O-2 lên cao độ 4000 bộ, liên lạc với ban chỉ huy “không trợ” Hillsboro bay ở độ cao 10000 bộ, tôi báo cáo về vị chỉ huy trưởng căn cứ hành quân tiền phương ở Khe Sanh.
        Chúng tôi quan sát mục tiêu Oscar-8, mấy khẩu súng phòng không Bắc Việt tỏ ra rất hiệu qủa bảo vệ căn cứ. Họ nhắm vào tất cả các máy bay trên vùng trời Oscar-8. Hai trực thăng H-34 vẫn can đảm bay vào bốc những binh sĩ sống sót. Một chiếc bị trúng đạn nổ tung rơi trên đường 922, chúng tôi trông thấy phi hành đoàn trực thăng từ trong chiếc H-34 lâm nạn chui ra, chạy về hướng nam con đường 922.
        Tiếp theo, hai phản lực cơ F4 Phantom lên oanh kích. Chiếc FAC điều động đánh vào sườn núi, để phá mấy khẩu phòng không. Một chiếc F4 bay vòng bảo vệ cho chiếc thứ hai lao xuống bắn hỏa tiễn. Đạn phòng không bắn lên trúng cánh máy bay, chiếc phản lực cơ F4 Phantom nổ tung giữa bầu trời, không thấy cánh dù nào bung ra (phi công nhẩy dù ra), rơi xuống đất bốc cháy như qủa cầu lửa.
        Kế tiếp là hai khu trục cơ A1 Skyraider bay vào tấn công. Một chiếc lao xuống thấp để thả bom Napalm, bị đạn phòng không bắn tung ra nhiều mảnh, đâm vào vách núi, cũng không thấy viên phi công nhẩy dù ra.
        Đúng lúc đó, chiếc FAC nhận được lời yêu cầu “không trợ” từ đơn vị Hatchet Force ở dưới đất. Một sĩ quan chỉ huy cùng 25 binh sĩ Thượng chạy đến tránh đạn nơi hai hố bom. Viên sĩ quan có vẻ không được bình tĩnh, yêu cầu thả bom Napalm hoặc bom Custer cách vị trí phòng thủ của họ 30 thước. Tôi trấn an anh ta trước rồi xin cho biết con số người sống sót chính xác.
        Vị trí của đơn vị Hatchet Force nơi hai hố bom được nhìn thấy dễ dàng nằm giữa hai tấm pa nô mầu đỏ. Tôi nhìn đồng đồ, 8:00 giờ sáng, hai tiếng đồng hồ trôi qua, sau khi các pháo đài bay B-52 trải “thảm bom” trên mục tiêu Oscar-8. Chúng tôi chuyển tiếp yêu cầu “không trợ” lên Hillsboro, họ cũng mục kích trận đánh từ trên cao, cũng như chúng tôi trên chiếc FAC.
        Tôi gọi máy về căn cứ hành quân tiền phương Khe Sanh, gặp trung tá harold K. Rose để báo cáo. Tôi yêu cầu ông ta chuẩn bị giấy viết và ngồi xuống ghế, sợ rằng nghe con số “đại bàng” (phi cơ) bị bắn rơi, ông ta sẽ “chết giấc”.
        Tôi báo cáo như sau: (1), (2), hai chiếc trực thăng chở quân CH-46 bị bắn đứt làm đôi rơi trên bãi đáp. (3) Một trực thăng võ trang rơi trên bãi đáp. (4) trực thăng H-34 vào cứu bị bắn rơi trên đường 922. (5) Phản lực cơ F4 Phantom bị bắn rơi, viên phi công không nhẩy dù ra. (6) Khu trục cơ A1 đâm vào vách núi, cũng không thấy dù bung ra. (7) Vị trí hai hố bom, các quân nhận trong đơn vị Hatchet Force đang cố thủ. 
        Tôi cũng báo cáo, ban chỉ huy “không yểm” Hillsboro đã chuẩn bị tám phi tuần phản lực thay phiên nhau lên oanh kích cách nhau trong vòng năm phút. Ngoài ra Hillsboro cũng đã xin trực thăng CH-53 từ bên Thái Lan qua cấp cứu. Trong khi đó một phi cơ quan sát FAC khác lên bao vùng để chúng tôi quay về Khe Sanh lấy thêm nhiên liệu.
        Khi về đến căn cứ hành quân tiền phương Khe Sanh, tôi trông thấy hai chiếc H-34 thuộc phi đoàn 219 Việt Nam “King Bee” sắp cất cánh. Tôi vội nhẩy lên một trong hai chiếc nắm chân viên phi công Mustachio, nói với anh ta, tôi biết chỗ chiếc H-34 rơi trên đường 922 và phi hành đoàn đang trốn trên rặng núi nơi hướng nam con đường. Anh ta rất sốt sắng cất cánh.
        Chiếc trực thăng bay từ hướng tây đến mục tiêu. Tất cả mọi cặp mắt đều nhìn xuống tìm kiếm dấu vết phi hành đoàn chiếc trực thăng rơi trên đường 922 và bốc cháy. Mustachio và tôi trông thấy có tia sáng phản chiếu từ gương. Lập tức Mustachio lái chiếc trực thăng cũ kỹ H-34 bay vào vị trí phát ra tia sáng phản chiếu từ tấm gương. Chiếc trực thăng trúng đạn phòng không nhiều chỗ, nhưng Mustachi vẫn tìm ra được một khoảng trống nhỏ để hạ thấy chiếc trực thăng xuống. Khả năng này chỉ một mình anh ta làm được.
        Tôi và viên cơ khí trưởng nắm tay ba người phi hành đoàn chiếc trực thăng lâm nạn kéo họ lên trực thăng. Khi đã kéo lên đủ cả ba người, tôi vỗ vào chân Mustachio và anh ta cho chiếc trực thăng bốc lên cao giữa rừng đạn đại liên phòng không. Anh ta tránh đạn bằng cách rẽ chìéc trực thăng qua bên phải, ngang qua những cây nhỏ, cánh trực thăng chém vào cành cây nhỏ cũng... chưa sao.
        Tiếng cánh quạt trực thăng nghe khác thường, một trong bốn cánh đã bị hư hỏng vì chém vào cành cây. Tuy nhiên người phi công thượng hạng Mustachio vẫn lái chiếc trực thăng lết về đến Khe sanh. Tôi nhìn cả ba người trong nhóm phi hành đoàn lâm nạn, cả ba bị phỏng nhẹ, cười nói vui vẻ vừa mới được cứu thoát.

Dallas, TX May 10th 2010
vđh

JERRY MICHAEL “MAD DOG”


JERRY MICHAEL “MAD DOG” SHRIVER

        Trong thời gian cuối năm 1968, đầu 1969, bộ chỉ huy Nam (CCS) thường xuyên cho những toán biệt kích 6 người xâm nhập vào khu vực Lưỡi Câu (Fish Hook), giữa biên giới VNCH và Cambodia. Các toán biệt kích SOG có nhiệm vụ theo dõi các hoạt động càng ngày càng gia tăng của quân đội Bắc Việt và VC trong khu vực.
        Đó là nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm, ít có toán biệt kích nào xâm nhập, hoạt động quá ba ngày. Có toán chỉ mới vào được chừng 30 phút đã bị địch phát giác, tấn công. Một vấn đề khó khăn nữa, tìm được một bãi đáp trực thăng, không có người canh gác là cả một vấn đề. Gần như tất cả mọi bãi đáp đủ rộng cho trực thăng đáp đều đã bị địch quân để ý, cho người canh gác.
        Để làm thay đổi tình thế, ngăn chặn ảnh hưởng của địch trong khu vực (Lưỡi Câu), Bộ Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ tại Việt Nam (cơ quan MACV) soạn thảo một kế hoạch tấn công cơ quan đầu não, Trung Ương Cục (R) Miền Nam Việt Nam (COSVN). Bộ chỉ huy (R) của địch (tin tình báo) với căn cứ, hầm hố, điạ đạo nằm trong khu vực Lưỡi Câu, sâu trong đất Miên khoảng một dặm, cách đồn điền cao su Minot khoảng 14 dặm về hướng đông nam, cách căn cứ hành quân tiền phương Quản Lợi (của đơn vị SOG) 20 dặm và cách Tây Ninh 28 dặm về hướng đông bắc.
        Sau khi nhận lệnh hành quân đưa đại đội xung kích Hatchet Force đi hành quân trên đất Miên từ mấy ngày trước, trung tá Earl Trabue, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Nam (CCS) ở Ban Mê Thuột báo lên Hành Quân 35 (Oplan 35) và bộ chỉ huy đơn vị SOG trong Saigon rằng theo ý kiến của ông ta, kế hoạch tấn công Trung Ương Cục Miền Nam trên đất Miên khó thành công. Theo kế hoạch, đơn vị Hatchet Force sẽ tìm cách bắt sống tù binh để lấy tin tức, và báo cáo kết qủa trận thả bom của phi cơ B-52 trên bộ chỉ huy Trung Ương Cục. Trung tá Trabue hiểu rất rõ nhiệm vụ khó khăn, nếu chỉ đưa một trung đội (Hatchet Force) thì nên hủy bỏ kế hoạch tấn công, còn về chuyện phi cơ B-52 thả bom, địch quân cũng đã đề phòng trước.
        Độ lớn của đơn vị Hatchet Force cũng phải giới hạn đủ cho 9 trực thăng chở quân thuộc phi đoàn 195 Trực Thăng Tấn Công của Lục Quân Hoa Kỳ. Các trực thăng chỉ mất mười phút bay đoạn đường 20 dặm từ phi trường Quản Lợi đến mục tiêu. Chín chiếc trực thăng gồm có 1 trực thăng chỉ huy (C&C), 4 trực thăng võ trang yểm trợ, chỉ còn lại bốn chiếc để chở quân... Do đó bộ chỉ huy Nam (CCS) chỉ có thể đưa một trung đội Hatchet Force đi tấn công.
        Ngày 24 tháng Tư năm 1969, đại úy William O’Rourke Jr., đại đội trưởng đại đội Hatchet Force sẽ chỉ huy đơn vị tấn công, phụ tá là đại úy Paul D. Cahill, trung úy Gregory M. Harrigan, và trung úy Walter L. Marcantel, sau đó là trung sĩ nhất Jerry M. “Mad Dog” Schriver. Trung sĩ Earnest C. Jamison, y tá đơn vị, và các binh sĩ người Thượng đơn vị Hatchet Force sẽ được trực thăng đưa vào bãi đáp trực thăng, qua khỏi biên giới Việt-Miên khoảng một dặm rưỡi.
        Tất cả trực thăng trong hợp đoàn tham dự cuộc đổ quân, theo lệnh của chiếc trực thăng chỉ huy. Một chiếc phi cơ thám thính FAC bao vùng sẽ điều động các phi tuần phi cơ chiến thuật lên oanh kích nếu cần thiết.
        Trước khi hợp đoàn trực thăng cất cánh vào lúc rạng đông, trung sĩ nhất Shriver leo lên, ngồi trên chiếc trực thăng dẫn đầu. Các phi cơ chiến lược B-52 đang thả bom trên khu vực tình nghi có bộ chỉ huy Trung Ương Cục Miền Nam. Khi đoàn trực thăng cất cánh, chiếc trực thăng chở đại úy O’Rourke cùng ban tham mưu của ông ta bị trở ngại kỹ thuật nên phải quay lại, do đó người chỉ huy trận tấn công là đại úy Cahill.
        Theo dự trù, đoàn trực thăng sẽ đến bãi đáp khi lớp bụi sau trận thả bom lắng xuống, nhưng hợp đoàn trực thăng bay lạc, không tìm ra bãi đáp. Phải mất hơn nửa tiếng đồng hồ bay lòng vòng (để bị lộ) mới tìm ra được ba hố bom để đáp xuống, cho đơn vị (trung đội) Hatchet Force tiến vào khu vực hành quân. Sau đó hợp đoàn trực thăng bay về phi trường Quản Lợi, cũng là căn cứ hành quân tiền phương của đơn vị SOG (CCS) nơi phiá nam.
        Khi ra khỏi trực thăng, các biệt kích quân nhẩy xuống một trong hai hố bom lớn, bố trí, chỉ cách một ổ súng đại liên của địch khoảng 30, 50 thước. Các trực thăng vừa bốc lên cao, ra khỏi bãi đáp khoảng 20 thước, tiếng súng đại liên, súng AK từ các công sự phòng thủ, giao thông hào của địch nổ dòn, bắn gục những ai còn trong bãi đáp, chưa kịp nhẩy xuống hố bom tránh đạn.
        Từ trong hố bom, trung sĩ nhất Jerry M. “Mad Dog, Chó Điên” Shriver gọi máy liên lạc, báo cáo, khẩu đại liên của địch đặt phiá bên trái đàn áp không cho toán quân dưới quyền anh ta ngóc đầu lên được. Anh ta yêu cầu, phần còn lại của trung đội Hatchet Force tác xạ vào khẩu đại liên để làm giảm bớt hỏa lực của địch. Đại úy Cahill, trung úy Marcantel, và trung sĩ Earnest C. Jamison trú trong hố bom ở giữa cũng nằm chịu trận, không cựa quậy được.
        Chiếc trực thăng chỉ huy báo cho đơn vị Hatchet Force biết sẽ điều động không quân chiến thuật (khu trục cơ hoặc phản lực) lên oanh kích, yểm trợ. Trong khi đó các trực thăng võ trang bay vào bắn hỏa tiễn, đại liên minigun sáu nòng xuống vị trí của địch, để đỡ cho trung đội Hatchet Force. Khi một chiếc trực thăng võ trang chúi xuống, bắn đại liên, người xạ thủ đại liên báo cáo, ổ súng đại liên của địch đặt trong pháo đài xây bằng bê tông, đạn trúng không ăn thua.
        Trên chiếc trực thăng chỉ huy có thiếu tá Benjamin T. Kapp Jr., một cấp chỉ huy trên căn cứ hành quân tiền phương, quan sát trận điạ và báo cáo về cho trung tá Trabue, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Nam (CCS) ở Ban Mê Thuột. Từ trên cao, thiếu tá Kapp nhìn rõ vị trí trung đội khai thác (xung kích) Hatchet Force, bị hai khẩu đại liên của địch đặt trong pháo đài kiên cố chế ngự.
        Khoảng 10, 15 phút sau, đại úy Cahill nghe Shriver báo cáo, sẽ cùng với năm biệt kích Thượng sẽ chạy vào bià rừng phiá tây bãi đáp trực thăng, rồi từ đó tấn công khẩu đại liên. Nhìn qua hố bom bên kia, đại úy Cahill trông thấy sáu người nhẩy lên khỏi hố bom, chạy thật nhanh vào hàng cây nơi bìa rừng. Trong lúc chạy, Jerry Shriver vẫn liên lạc với phi cơ quan sát FAC.
        Ngồi trong hố bom quan sát, đại úy Cahill trông thấy Shriver chạy vừa đến hàng cây thì bị trúng mấy viên đạn, gục xuống, và cũng không nghe được những lời đối thoại giữa Shriver và phi công FAC. Viên phi công FAC cố gắng liên lạc, gọi Shriver thêm mấy lần, nhưng không có tiếng trả lời. Đại úy Cahill tin rằng, Shriver đã trúng đạn, chết dưới hàng cây.
        Tiếng súng vẫn nổ đều khắp nơi, trung sĩ y tá Jamison bò ra khỏi hố bom để lôi một biệt kích Thượng xuống hố bom, anh ta trúng đạn chết ngay cạnh binh sĩ Thượng. Ít phút sau, đại úy Cahill đưa đầu lên khỏi hố bom để quan sát chiến trường, một viên đạn AK trúng vào miệng ông ta, trổ ngược lên con mắt bên phải. Đau đớn vì vết thương, ông ta không nhìn được gần ba mươi phút, và hư luôn con mắt bên phải.
        Trong khi trung đội Hatchet Force đang lâm nguy, các toán biệt kích thuộc bộ chỉ huy Nam (CCS) đang xâm nhập hoạt động dò thám, được lệnh tìm vị trí an toàn, nằm im, để tất cả trực thăng võ trang bay đi cấp cứu đơn vị Hatchet Force.
        Trên bầu trời, bộ chỉ huy Trung Ương Cục, số trực thăng võ trang đã tăng lên 8 chiếc. Trung úy Harrigan yêu cầu các trực thăng xử dụng hỏa lực của hỏa tiễn và đại liên minigun sáu nòng đàn áp các khẩu đại liên của địch. Ông ta điều chỉnh hỏa lực trực thăng bắn phá thêm 45 phút rồi trúng đạn bị thương nặng. Trước đó Greg Harrigan báo cáo hơn nửa trung đội Hatchet Force đã chết hoặc bị thương. Sau đó trung úy Harrigan trúng đạn tử trận.
        Một toán biệt kích gồm có hai quân nhân Hoa Kỳ, bốn biệt kích Thượng được đưa vào một hố bom thứ ba cách bãi đáp khoảng 80 thước, tăng cường cho trung đội Hatchet Force. Nhiệm vụ của toán biệt kích sẽ tấn công theo sườn hướng tây phòng tuyến của địch, tiến sát đến pháo đài, ném lựu đạn vào lỗ châu mai phá khẩu đại liên. Không ngờ toán biệt kích cũng bị hỏa lực của địch đàn áp, kẹt trong hố bom, không tiến lên được.
        Tám trực thăng Huey võ trang luân phiên nhau bắn yểm trợ và bay về phi trường Quản Lợi lấy nhiên liệu, hỏa tiễn, đạn dược. Trung tá Trabue chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Nam (CCS) xin thêm hai trực thăng Cobra thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 20 Không Pháo (Arial Artillery) lên tham chiến, cũng không xong vì pháo đài của địch được xây bằng bê tông.
        Trung tá Trabue yêu cầu phi công FAC xin các phi tuần không quân chiến thuật lên thả bom, nhưng được trả lời, không có sẵn. Ông ta liên lạc về Hành Quân 35 (Oplan 35) của đơn vị SOG, và khoảng 45 phút sau, có một phi tuần phản lực lên oanh kích. Sau mấy vòng phi cơ oanh kích, thả bom, trung đội Hatchet Force báo cáo, hỏa lực của địch nơi bãi đáp vẫn còn mạnh, trực thăng chưa thể vào được để di tản trung đội.
        Trung tá Trabue quyết định xử dụng bom Napalm để cứu đơn vị Hatchet Force. Ông ta yêu cầu thả bom Napalm dọc theo phòng tuyến xây bằng bê tông của địch. Sau hai qủa bom Napalm, trung đội Hatchet Force báo cáo, hỏa lực của địch giảm đi nhiều và trực thăng có thể vào di tản.
        Bốn trực thăng Huey đáp xuống di tản trung đội Hatchet Force. Khi trực thăng vừa bốc lên, phi hành đoàn một trong bốn chiếc trực thăng nhìn xuống hố bom ở giữa bãi đáp, trông thấy có người chuyển động, vội báo cho phi công quay lại. Trung úy Daniel Hall nhẩy ra khỏi trực thăng lôi lên được quân nhân LLĐB/HK mang máy truyền tin bị thương nặng và xác của trung úy Harrigan.
        Trong số 18 biệt kích quân thộc trung đội Hatchet Force và 6 người trong toán biệt kích vào sau. Toán biệt kích về đầy đủ, và 10 biệt kích quân trong trung đội Hatchet Force, tất cả đều bị thương. Quân nhân y tá Ernest Jamison được báo cáo tử trận, không lấy được xác. Shriver cùng với năm biệt kích Thượng được ghi nhận “Mất Tích” (MIA).
        Trung sĩ nhất Jerry Michael “Mad Dog” Shriver rất tốt với các binh sĩ Thượng của anh ta. Jerry nói được tiếng Rhade, lúc nào cũng để ý nếp sống của người Thượng, xử dụng tiền lương của mình mua thực phẩm, quần áo giúp đỡ gia đình binh sĩ trong trung đội. Trước khi “mất tích” Jerry chỉ còn 3 tuần lễ phục vụ trong ba chuyến (tour) tình nguyện qua Việt Nam chiến đấu.

Dallas, TX.
vđh