Wednesday, January 22, 2014

Nha Kỹ Thuật Blog

BLACK BERET (NÓN ĐEN)
1942 Thành Lập Office of Strategic Service OSS
13.6.1942 Giám Đốc OSS William Donovan
1947 Tồng Thống Franklin Roosevelt với nghị định NSC4 và NSC4A Thành Lập Cơ Quan CIA  

7.5.1954 Điện Biên Phủ thất thủ.
1956 First Observation Group hoạt động tại Bắc Việt
1956 Thành Lập Liên Đoàn Quan Sát Số 1
1957 Thành Lập Phòng Liên Lạc Phủ Tổng Thống


GREEN BERET (NÓN XANH)
24.6.1957 Thành Lập Liên Đoàn 1 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ.
1957 LLĐB HK huấn luyện 58 quân nhân QLVNCH tại Đồng Đế Nha Trang chương trình Chiến Tranh Ngoại Lệ cho Việt Nam
1958 Thoả ườc TT Ngô Đình Diệm và CIA hoạt động tại Bắc Việt
1958 Chương Trình Chiến Tranh Ngoại Lệ
1958 Thành Lập Phòng 45 (Sở Bắc)
28.1.1961 Tân Tổng Thống John F. Kennedy tuyên bố chương trình hoạt đông tại miền Bắc Việt Nam
1961 Thành Lập Biệt Đoàn 83 Thần Phong (Thả Bắc)
02.1961 Toán ARES xâm nhập đường biển liên-lạc cho đến tháng 04/69.
02.1961 Toán EUROPA Nhảy Dù xâm nhập 5 nhân viên liên lạc lần cuối ngày 27/01/64 từ Bắc Việt.
03.1961 Toán ATLAS Nhảy Dù xâm nhập 4 nhân viên
27.4.1961 Tướng Edward G. Lansdale thuyết trình về khủng bố của Bắc Việt tại Miền Nam Việt Nam
11.5.1961 Tổng Thống Kennedy quyết định hành pháp NSAM 52 "Ngăn Chặn Cộng Sản Thôn Tính Miền Nam"
27.5.1961 Toán CASTOR Xâm Nhập Lai Châu Bắc Việt
06.1961 Toán DIDO Nhảy dù xâm nhập Bắc Việt 4 nhân viên.
06.1961 Toán ECHO Nhảy Dù xâm nhập miền Bắc 3 nhân viên báo caó sai toạ độ cho đến 08/62.06.1961

Toán TARZAN Nhảy Dù xâm nhập 6 nhân viên liên lạc lần cuối 06/63
12.1.1962 Nautilus I Xâm Nhập Bắc Việt
12.2.1962 Toán Biệt Hải Xâm Nhập Hòn Gai Bắc Việt
16.4.1962 Toán REMUS nhảy Dù xâm nhập 6 nhân viên thêm 2 người 12/08/63, 3 người 23/04/64, 4 người Toán ALTER 22/10/64, 4 người 06/65, 2 người 21/08/67. Ngày 13/05/68 Bắc Việt loan tin bắt được quân Biệt-kích trong vùng hoạt động của toán Remus
16.5.1962 Toán TOURBILLON Nhảy dù xâm nhập 8 nhân viên thêm 7 người toán COOTS 27/05/64, 7 người toán PERSEUS 24/06/64, 6 người toán VERSE 07/11/65, 2 người toán TOURBILLON BRAVO 24/12/66. Hiệu thính viên gửi tín hiệu khẩn 01/67. Toán được xử dụng để đánh lạc hướng địch cho đến 04/69.
6.7.1962 Ký Hiệp Ước Trung Lập Ai Lao
06.1962 Toán EROS nhảy Dù xâm nhập 5 nhân viên
13.4.1963 Toán PEGASUS nhảy dù xâm nhập 6 nhân viên
14.05.1963 Toán JASON Nhảy dù xâm nhập 5 nhân viên
04.6.1963 Toán DAUPHINE Nhảy dù xâm nhập 5 nhân viên

04.6.1963 Toán BELL 04/06/63 Thả Dù 7 Thêm 7 người toán GRECO 14/11/64. Lần cuối cùng gửi điệnvăn 19/03/67. mất liên lạc 03/07/67
28.6.1962 Natilus II Xâm nhập Bắc Việt  

28.6.1962 Toán Biệt Hải Xâm Nhập Quãng Bình
09.1962 Thành Lập Binh Chủng Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam
3.1.1963 Hai Đại Đội Chính Quy Bắc Việt tấn công và tràn ngập trại Plei-Mrong LLĐB.
1963 Easy, Eagle Xâm Nhập
1963 Thành Lập Liên Đoàn 77 và Liên Đoàn 31 Lực Lượng Đặc Biệt

06.1963 Toán BECASSINE 06/63 Thả Dù 6
10.6.1963 Toán MIDAS Thả Dù 8 Xâm Nhập Bắc Việt
10.6.1963 Toán NIKE Thả Dù 6 XNBV
07.1963 Nautilus VII xâm nhập Bắc Việt
07.1963 Toán Dragon Xâm Nhập Móng Cái Toán Trưởng Mộc A Tài nhiệm vụ phá hủy Đài Radar tại địa phương
07.06.1963 Toán BART Thả Dù 5 XNBV
07.06.63 Toán TELLUS Thả Dù 4 XNBV
07.1963 Toán GIANT Thả Dù 6 XNBV
07.1963 Tóan PACKER Thả Dù 6 XNBV
07.1963 Toán Biệt Hải xâm nhập Móng Cái Phá Hủy Đài Radar

9.8.1963 Toán EASY Thả Dù 8 Thêm 6 người toán PISCES 18/07/64, Thêm 5 người toán HORSE 05/65,Thêm 9 người 17/09/65. thêm 3 người 8/10/65 Toán (DOG/GECKO). Toán DOG/GECKO đổi tên là EASYALPHA nhẩy xuống 07/67. Lần cuối cùng liên lạc 26/04/68
12.8.1963 Thả Dù 2 Tăng cường cho toán REMUS
4.9.1963 Toán SWAN Thả Dù 6
7.10.1963 Toán BULL Thả Dù 7
5.12.1963 Toán RUBY 05/12/63 Thả Dù 8
1964 Thành Lập Mặt Trận Gươm Thiêng Ái Quốc
16.1.1964 Thành Lập Liên Đoàn Nghiên Cứu và Quan Sát (Chợ Lớn) 1966 dời ra Phi Trường Tân Sơn Nhất , Sở Không Yễm dời ra Nha Trang, Hải yễm dời ra Đà Nẵng.
24.1.1964 Thành Lập MACV-SOG / OPLAN 34A
02.1964 Thành Lập B-53 / Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng
16.02.1964 Các toán SPVDH xâm nhập miền Bắc 


Red Beret (Nón Đỏ)
1964 Thành Lập Sở Kỹ Thuật
1964 Thành Lập Nha Kỹ Thuật / Strategic Technical Directorate Bộ Tổng Tham Mưu / QLVNCH
1964 Thành Lập Sở Phòng Vệ Duyên Hải OP-37 NAD (Naval Advisory Detachment)
1964 Sở Liên Lạc Bộ Tổng Tham Mưu (Sở Nam)
03.1964 Thành Lập Phi Đoàn 219 Tại Pleiku

23.4.1964 Thả Dù 3 Tăng cường cho toán REMUS.
25.4.1964 Toán ATTILA Thả Dù 6 Xâm nhập Bắc Việt
19.5.1964 Toán LOTUS Thả Dù 6 XNBV
27.5.1964 Toán COOTS Thả Dù 7 Tăng cường cho toán TOURBILLON
27.5.1964 Chương Trình Gươm Thiêng Ái Quốc đưa người từ Quảng Bình về Cù Lao Chàm lần đẩu tiên 1 ghe ngư dân.
12.6.1964 2 Toán thuộc SPVDH gồm 26 ngưòi xâm nhập Cửa Ron Hà Tỉnh và cầu Sông Hàng Thanh Hoá Công Tác Hoàn tất.
17.6.1964 Toán SCORPION Thả Dù 7
19.6.1964 Toán BUFFALO Thả Dù 10
26.6.1964 Toán chất nổ SPVDH gồm 7 người, và Toán yễm trợ 24 người phá nổ cầu trên Quốc lộ 1 gần Thanh Hóa  

28.6.1964 Toán EAGLE Thả Dù 6 Còn liên lac trong năm 69. Thả Dù 6 Tăng cường cho toán EASY.
1.7.1964 30 Biệt Kích SPVDH xâm nhập cửa sông Kiên Đồng Hới.
24.7.1964 Toán PERSEUS Thả Dù 7 Tăng cường cho toán TOURBILLON, BOON 29/07/64 Thả Dù 9
20.7.1964 Chương trình Gươm Thieng Ái Quốc đưa thêm 2 ghe ngư dân từ Vịnh Bắc Việt về Cù Lao Chàm Đà Nẵng.
30.7.1964 Toán Biệt Hải đánh phá Hải Phòng gây nhiều tổn thất
1.8.1964 Hải Quân Bắc Việt tấn công tàu MADDOX

22.10.1964 Toán ALTER Thả Dù 4 Tăng cường cho toán REMUS.
14.11.1964 Toán GRECO Thả Dù 7 Tăng cường cho toán BELL. CENTAUR 28 Toán bị rớt máy bay C-123 ngày 10/12/64 nơi Ngũ Hoành Sơn Ðà Nẵng. Tử nạn REMUS ALPHA 05/65 Một phần của REMUS được lệnh triệt xuất qua Lào. Lần liên lạc cuối cùng 21/08/65. Tọa độ Vic 785367. “im lặng vô tuyến, đi Vạn Tượng (Lào)
1965 Thành Lập Tiền Doanh FOB1 Phú Bài, FOB2 Kontum, FOB3 Ban Mê Thuộc FOB4 Non Nước, FOB5 Thủ Đức và FOB6 Đà Lạt .
05.1965 Toán HORSE Thả Dù 5 Tăng cường cho toán EASY  

17.9.1965 Toán DOG/GECKO Thả Dù 9 Tăng cường cho toán EASY. Sau bổ túc EASY ALPHA 30/10/65. Nhập lại toán EASY trong tháng 07/67.
7.11.1965 Toán VERSE Thả Dù 8 Tăng cường cho toán 

 19.11.1965 Toán ROMEO Trực Thăng 10 Tháng 10.66
5.3.1966 Toán KERN Thả Dù 9
22.6.1966 Toán HECTOR Trực Thăng 15 Thêm 11 người toán HECTOR BRAVO 23/09/66.
07.1966 Thành Lập 16 toán thám sát B50 Hành Quân OMEGA (road runner program) Chó sủa đường mòn Hồ Chí Minh, và Bóng Ma Biên Giới.
15.9.1966 Thành Lập trường Viễn Thám RECONDO-MACV
5.10.1966 Toán SAMSON Trực Thăng 8 Bãi đáp bên Lào. Liên lạc lần cuối 02/12/66
24.12.1966 Toán TOURBILLON Thả Dù 2 Tăng cường cho TOURBILLON. Ðem BRAVO theo máy nghe lén điện thoại và máy dò thính.
26.1.1967 Toán HADLEY Trực Thăng 11 Xâm nhập vào miền Bắc bằng đướng bộ. Ðược lệnh triệt xuất qua Lào. 03/69
22.4.1967 Toán HANSEN Trực Thăng 17 Toán chưa hề ra đến Bắc Việt Nam. Ðịch xuất hiện nơi bãi đáp. Yêu cầu triệt xuất.
21.08.67 Thả Dù 2 Tăng cường cho toán REMUS
13.9.1967 Tóan GOLDFISH Ðường Biển 1 Xâm nhập bằng Plowman. Ðiệp vụ 327. Ðiệp viên tuyển một trong nhóm tù binh ở Paradise. Ðiệp viên sẽ nằm vùng 60- 90 ngày và triệt xuất bằng đường biển.
21.9.1967 Toán RED DRAGON thả Dù 7 Vẫn liên lạc cho đến tháng 04/69
09.67 Sở Liên Lạc/Phủ Tổng Thống trực thuộc Nha Kỹ Thuật
18.10.1967 The Last team VOI Thả Dù 4 Mất liên lạc sau khi xâm nhập
1967 Thành Lập STRATA Short Term Reconnaissance And Target Acquisition Long Thành
1967 Strata Team 111 Xâm Nhập Nam Lào xuất phát từ Đà Nẵng bằng C130 đến Khe Sanh và H34 Phi Đoàn 219 đến nam Lào , toán chạm địch và bị bao vây, trưởng Toán Trung Úy Bùi Văn Thiện hướng dẫn phi cơ đánh bom trên đầu tóan ,gây tữ thương 192 Bộ Đội thuộc Sư Đoàn 325 Bắc Việt.

Toán Phó Trung Sĩ Lý Vui, Quan Sát Viên Trung Úy Lam và 9 chuyên viên toán gồm có Nguyễn Hỏa (cao) Lê Văn Xuân (nháy)
10.1967 Toán Strata 112 xâm nhập Quảng Bình, Thiếu Úy Hùng Toán Trưởng và Trung Sĩ Lành Toán Phó Toán có 4 nhân viên

21/08/67 Thả Dù 2 Tăng cường cho toán REMUS.50. 1968 SOG OP-34 đổi thành OP-36
1.11.1967 Thành lập CCN Chiến Đoàn 1 Xung kích tại Đà Nẵng với 3 Bộ chỉ huy Tiền Phương
FOB1 Phú Bài.
FOB3 Khe Sanh.
FOB4 Non Nuớc Đà Nẵng.
1.1.1967 Thành lập CCC Kontum với 30 toán thám sát, xâm nhập.
1.1.1967 Thành Lập CCS Ban-Mê-Thuộc và trại Hồ Ngọc Tảo khu vực hoạt động đồng bằng Cữu Long và Kampuchia 

1.1.1968 OP-36 Phụ trách STRATA
3.1968 Strata dời về Sơn Trà Đà Nẵng
 

14.5.1968 Strata 120 Xam Nhap
6.6.1968 Strata 114 Xâm nhập BV
21.7.1968 Strata 115 Xâm Nhập BV
10.1968 SPVDH Công tác Hải Vận chấm dứt miền Bắc và hoạt động tại Vùng 1 và Vùng 2 Duyên Hải.
12.1968 Starta Đoàn 11
1968 Toán Phượng Hoàng Đoàn 68 Recon
1968-1972 Chương Trình Fortrum STD-MACV-SOG
02.1970 Prairie Fire OP-35 thực hiện 441 chuyến công tác nhảy toán xâm nhập Lào và đường mòn HCM
04.1970 Program Salem House hoạt động tại Cam Bốt 577 Toán Xâm nhập với nhiều công tác đặc biệt.
18.3.1970 Lon Nol lật đổ Sihanouk1.


RED BERET ( Nón Đỏ) 

 07.1970 Thành Lập Bộ Tư Lệnh Chiến Tranh Ngoại Lệ và Mặt Trận Giải Phóng Miền Bắc.
26.12.1970 - 8.01.1971 38 toán Biệt Kích xâm nhập trong thời gian 172 ngày tại căn cứ địa 712 bao gồm đường 13, 141 và 19 .
Hành quân tiếp tục trong các căn cứ địa 351, 740, 701, 609, 613, 611 vùng phi quân sự, vùng phía tây bên Lào.

1.1.1971
Thành Lập Sở Công Tác

01.1971 Thành Lập SMAG/ MACV-RECONDO / SMS Sở Công Tác
07.1971 NAD-OP39 chấm dứt chuyển giao Hải Quân Vùng 1

1972 Giải Tán Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam 

3.3.1972 Sở Công Tác di chuyển đến Non Nước rồi Sơn Trà Đà Nẵng,
Đoàn 2 va2, 3 SLL/ Đoàn 75 tăng phái BTL Quân Khu 2,
Đoàn 1 SLL / Đoàn 68 tăng phái Quân Khu 3
2.4.1972 Giải Cứu BAT 21
30.4.1972 Gỉải tán MAC-V-SOG ( GI repatriated)
30.4.1972
MACV-SOG bàn giao Nha Kỹ Thuật / BTTM / QLVNCH
07.1972
Đoàn Công Tác Thám Sát Tiền Phong Quân Khu 1
15.9.1972 Sở Công Tác Hợp tác Sư Đoàn Nhảy Dù và TQLC tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị
10.1972 Các Toán thuộc Sở Công Tác hoạt động biên giới Lào-Việt xâm nhập theo đường mòn HCM
1.5.1972 Assistance Team 158 ACTIVE

26.1.1973 Đoàn Công Tác 68 xác định tọa độ B52 oanh tạc tràn ngập Cục R trước khi hiệp định ngưng bắn Balê có hiệu lực vào ngày 27.1.1973 04.1973 Bắc Việt Phóng thích 591 tù binh Hoa Kỳ không có nhân viên MACV-SOG được thả.
19.1.1974 Biệt Hải/SPVDH Hải Chiến với quân Trung Cộng tại Hoàng Sa.
06.1974 Toán Thám Sát Đoàn 2 sở Kontum công tác tìm kiếm và phá hủy ống dẫn dầu tiếp tế cho xe Tăng của Bộ Đội Bắc Việt tại vùng cao nguyên, sau nhiều ngày đêm mưa tầm tả, Ống dầu đã được phát giác và phá hủy hệ thống tiếp liệu xăng cho xe tăng tê liệt và đã được đài BBC và VOA phóng sự nhiều ngày sau đó .  

8.8.1974 Toán Công Tác Đoàn 11, 71, và 72 xâm nhập liên tục các địa điểm vùng Thượng Đức Quảng Nam 
 12.1974 Đoàn Công tác 75 xâm nhập An Lão Bình Định
10.3.1975 Đoàn 3 Sở Liên Lạc di tản Ban mê thuộc
10.3.1975 Đoàn Công Tác 75 SCT và các Đoàn của Sở Liên Lạc di tản về Tuy Hòa, Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu, Sàigòn
25.3.1975 Thiếu Tá Hồ Đăng Nhật / BCH Sở Liên Lạc, Thiếu Tá Nguyễn Văn Hải Đoàn 2 Liên Lạc / Hy Sinh trong lúc phá chốt Cộng Sản trên quốc lộ 7
 

28.3.1975 Thành Phố Đà Nẵng Di Tản.
28.3.1975 3 Toán Công Tác thuộc Đoàn Công Tác 72 Hành Quân khu vực Đèo Hãi Vân, đỉnh núi Đồng Đen không triệt xuất
về Sơn Trà.
28.3.1975
Đoàn Công Tác 72 và Sở Công Tác Di tản Tiên Sa Đà Nẵng
1.4.1975
Sở Công Tác di chuyển từ Đà Nẵng về Nha Trang, Cam Ranh, Vũng Tàu, Làng Cô Nhi Long Thành, và Kho 18 Khánh Hội Sàigòn.
1.4.1975 Đoàn Công Tác 72, Đoàn 2 và Đoàn 3 Liên Lạc đến Vũng Tàu
7.4.1975 Sở Liên Lạc biệt phái Đoàn 1 Liên Lạc trực thuộc Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn 2 tại Phan Rang.
16.4.1975 Đoàn 1 Sở Liên Lạc di tản Phan Rang
20.4.1975 Sở Công Tác Nhảy Toán vùng Bình Dương thâu thập tin tức cho Quân Đoàn 3
28.4.1975 Dương Văn Minh nhậm chức

28.4.1975 Các Toán công tác thuộc các Đoàn Công Tác, và Đoàn Liên Lạc / Nha Kỹ Thuật hành quân xâm nhập vùng Bình Dương, Ấp Đồn, Bình Triệu và vùng ven Đô cung cấp tin tức cập nhật cho Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 3 vể diễn biến tấn công của Cộng Sản Bắc Việt vào Đô Thảnh Sài gòn.
29.4.1975 Đoàn 68 và Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế thiết trí phòng thủ khu vực trường đua Phú Thọ trước Bộ Chỉ Huy Nha Kỹ Thuật

29.4.1975 Một số các toán Công Tác vẫn còn trong vùng hành quân và sau đó tìm phương tiện triệt xuất. 

11.1996 Quốc Hội Hoa Kỳ biểu quyết thành lập Special Operation Command SOCOM tiến thân SOG "Special Operation Group Vietnam" đơn vị chủ yếu và then chốt trên các chiến trường hiện nay.
April 4th 2001
Presidential Unit Award Tưởng Thưởng Biệt Kích Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ (Fort Bragg) căn cứ Lực Lượng Đặc Biệt và Biệt Kích Hoa Kỳ (SOC) North Carolina U.S.A.

4.6.2001 Quốc Hội Hoa Kỳ Tuyên Dương Hy Sinh và Chiến Đấu Anh Dũng của Nha Kỹ Thuật tại Washington D.C.
Congressional Record Proceedings and debates of the 107th Congress, First Section .

DRAFT UPDATE

Tất cả các Tóan (recon team ) của STD & MAC-V-SOG đều xuất phát từ các Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật ( Launch Site) để xâm nhập các vùng mục tiêu ngòai lãnh thổ VNCH , tên các BCH Chiến Thuật đó như sau :- Qủang Lợi, Benhet, Đức Cơ, Plei Jereng, Tân cảnh, Phú Bài và NKP (Nakaphadon )(Thái Lan) - ( xuất phát hầu như tất cả các launch sites này trước khi nhảy vào vùng mục tiêu )- Nói tới NKT là phải nói đến các Tóan , và các Tóan là linh hồn của NKT









Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế









Biệt Công Bội Tinh


MACVSOG / TQLC




Nha Kỹ Thuật /BTTM/QLVNCH

Nha Kỹ Thuật / Bộ Tổng Tham Mưu / Quân Lực VNCH
Giám Đốc Nha Kỹ Thuật
Đại Tá Đoàn Văn Nu
Phụ Tá Điều Hành NKT
Đại Tá Trần Xuân Đức
Chỉ Huy Trưởng Sở Liên Lạc
Đại Tá Nguyễn Minh Tiến
Chỉ Huy Trưởng Sở Công Tác
Đại Tá Ngô Xuân Nghị
Chỉ Huy Trưởng Sở Phòng Vệ Duyên Hải
Đại Tá Nguyễn Viết Tân
Chỉ Huy Trưởng Sở Không Yễm
Đại Tá Dư Quốc Lương
Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế
Đại Tá Ngô Thế Linh
Chánh Sự Vụ Sở An Ninh Quân Đội
Trung Tá Lò Ngân Dung
Chánh Sự Vụ Sở Hành Quân Tình Báo
Trung Tá Đào Đăng Đại
Chánh Sự Vụ Sở Hành Chánh Tiếp Vận
Trung Tá Nguyễn Văn Vinh
Chánh Sự Vụ Sở Tâm Lý Chiến
Trung Tá Đặng Xuân Thoại
Trưởng Phòng 2 NKT Thiếu Tá Tôn Thất Luân
Trưởng Phòng 3 NKT Thiếu Tá Lữ Triệu Khanh
Trưởng Phòng Tổng Quản Trị Thiếu Tá Nguyễn Văn Thạch
Y Sĩ Trưởng NKT Đại Úy Bác Sĩ Nguyễn Văn Hưng

Chỉ Huy Trưởng Đoàn 1 Liên Lạc
Thiếu Tá Tống Hồ Huấn
Chỉ huy Trưởng Đoàn 2 Liên Lạc
Thiếu Tá Lê Minh
Chỉ Huy Trưởng Đoàn 3 Liên Lạc
Thiếu Tá Đoàn Kim Tuấn
Chỉ Huy Trưởng Đoàn Công Tác 11
Thiếu Tá Lê Hữu Minh
Chỉ Huy Trưởng Đoàn Công Tác 68
Trung Tá Trương Như Tài
Chỉ Huy Trưởng Đoàn Công Tác 71
Trung Tá Bùi Văn Thiện
Chỉ Huy Trưởng Đoàn Công Tác 72
Thiếu Tá Nguyễn Phan Tựu
Chỉ Huy Trưởng Đoàn Công Tác 75
Trung Tá Nguyễn Thanh Văn

- Đại Đội Trưởng Đại Đội Truyền 660 Truyền Tin NKT: Trung Tá : Nguyễn Văn Nhờ
- Đại Đội Trưởng Đại Đội Công vụ/ BCH NKT Thiếu Tá; Hồ Văn Anh
- Trung Đội Trưởng Trung Đội Quân cảnh 304/207 NKT: Thượng Sĩ Nguyễn Văn Gái
- Trường Ban Xã Hội NKT: Trung Úy Nữ Quân Nhân : Lê Thị Bé Tư, và Tr/Úy Nữ Quân Nhân: Nguyễn Thị Lộc

Tiền Thân Nha Kỹ Thuật

Chương Trình Gươm Thiêng Ái Quốc Cố Vấn Ngô Đình Nhu, Bác Sĩ Trần Kim Tuyến
Sixieme Section Phòng 6 Thiếu Tá Nguyễn Khánh, Trung Tá Trần Đình Lan
Giám Đốc Nha Tổng Nghiên Huấn Bộ Quốc Phòng Thiếu Tá Lê Văn Lung, Đại Úy Trần Khắc Kính
Chánh Sở 32 ( Sở Liên Lạc) Đại Úy Nguyễn Khắc Bình
Chánh Sở 42 (Sở Bảo Vệ) Đại Úy Trần Văn Thăng
Chánh Sở 52 (Sở Công Tác) Nguyễn Văn Lý, Đàm Văn Qúy
Chỉ Huy Trưỡng Sở Liên Lạc Phủ Tổng Thống "Trung Ương Cục" Đại Úy Lê Quang Tung, Đại Úy Trần Khắc Kính
Chỉ Huy Trưỡng Sở Khai Thác / Bộ Tổng Tham Mưu Đại Tá Trần Văn Hổ
CHT Sở Bắc (Phòng 45) Thiếu Tá Ngô Thế Linh
CHT Sở Nam, Sở Liên Lạc Phủ Tổng Thống Đại Tá Hồ Tiêu, Đại Úy Trần Văn Hổ
Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Quan Sát Số 1 Đại Úy Bùi Thế Minh
Trưởng Phòng 35 Đại Úy Trần Khắc Kính, Trần Lai Miên
Trưởng Phòng 45 (Sở Bắc) Đại Úy Ngô Thế Linh, Nguyễn Bão Thùy, Francois Đổ Văn Tiên, Nguyễn Nghệ
Trưởng Phòng 55 (Sở Nam) Nguyễn Qúy Huỳnh, Trần Văn Minh
Trưởng Phòng 65 (An Ninh Quân Đội) Lê Đình Ngân, Đàm Thế Công, Nguyễn Qúy Hùng
Trưởng Phòng 75 Lưu giử hồ sơ mật
Trưởng Phòng 78 Tài chánh hành chánh trợ cấp hoạt động toán
Trưởng Phòng 95 Đại Đội 660 Truyền Tin hoạt động Bắc Việt, Quốc ngoại, Quốc nội Đại Tá Mai Viết Triết
Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 77 - Liên Đoàn 31 / Sở Khai Thác Địa Hình Phủ Tồng Thống Đại Tá Lê Quang Tung
Liên Đoàn 77 Thiếu Tá Phan Văn Huấn, Đại Úy Mặc Khách
Sỉ Quan Chiến Tranh Ngoại Lệ Sở Liên Lạc/Phủ Tổng Thống: Đại Úy Ngô Thế Linh, Đại Úy Đàm Minh Viên, Trung Úy Nguyễn Khắc Hy, Trung Úy Nồng An Pang, Trung Úy Trần Bá Tuân, Trung Úy Văn Công Báu, Trung Uý Nguyễn Quang Trung, Trung Úy Nguyễn Bão Thùy, Trung Úy Lê Ngọc Cẩn, Trung Úy Phạm Văn Minh, Thiếu Úy Nguyễn Nghệ, Thiếu Úy Lê Quang TriệuChỉ Huy Trưởng Sở Liên Lạc Nha Kỹ Thuật Đại Tá Hồ Tiêu, Trung Tá Liêu Quang Nghĩa, Đại Tá Nguyễn Văn Minh, Đại Tá Nguyễn Bá Trước,
Giám Đốc Nha Kỹ Thuật / Bộ Tổng Tham Mưu Đại Tá Trần Văn Hổ
Y Sĩ Trưởng Nha Kỹ Thuật Thiếu Tá Bửu Trí
Trưởng Phòng Hành Quân Huấn Luyện Trung Tá Vĩnh Thái
Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng Trung Úy Nguyễn Văn Vinh, Trung Tá Nguyễn Văn Minh, Trung Tá Mặc Khách, Thiếu Tá Hy
Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế Trung Tá Trần Văn Hai, Đại Tá Ngô Thế LinhChỉ Huy Trưởng Sở Công Tác Đại Tá Ngô Thế Linh, Đại Tá Trần Văn Hai
Chỉ Huy Trưởng Sở Phòng Vệ Duyên Hải Hải Quân Trung Tá Hồ Văn Kỳ Thoại, Thiếu Tá Ngô Thế Linh, Trung Úy Francois Đổ Văn Tiên,
Chỉ Huy Trưởng Sở Không Yễm Đại Tá Dư Quốc Lương
Chỉ Huy Trưởng Chiến Đoàn 1 Xung Kích Thiếu Tá Nguyễn Tuấn Minh, Trung Tá Hồ Châu Tuấn, Thiếu Tá Nguyễn Hữu Trang, Trung Tá Nguyễn Thế Nhã, Trung Tá Nguyễn Hương Rĩnh, Thiếu Tá Nguyễn Văn Thụ
Chỉ Huy Trưởng Chiến Đoàn 2 Xung Kích Thiếu Tá Đổ Văn Tiên (Francois), Nguyễn Hương RĩnhChỉ Huy Trưởng Chiến Đoàn 3 Xung Kích Trung Tá Nguyễn Tuấn Minh
Chỉ Huy Trưởng Đoàn Công Tác 11 Trung Tá Đào Đăng Đại Đại Uý Đổ Văn Tiên, Thiếu Tá Sáng, Thiếu Tá Trần Bá Tuân, Thiếu Tá Lê Hữu Minh
Chỉ Huy Trưởng Đoàn Công Tác 68 Thiếu Tá Nguyễn Xuân Oánh
Chỉ Huy Trưởng Đoàn Công Tác 71 Thiếu Tá Văn Thạch Bích, Trung Tá Bùi Văn Thiện
Chỉ Huy Trưởng Đoàn Công Tác 72 Trung Tá Cẩm Ngọc Huân, Thiếu Tá Biền, Thiếu Tá Lê Hữu Minh, Trung Tá Nguyễn Đức Phó, Thiếu Tá Nguyễn Phan Tựu
Chỉ Huy Trưởng Đoàn Công Tác 75 Trung Tá Ngô Đình Lưu, Thiếu Tá Văn Thạch Bích, Trung Tá Nguyễn Thanh Văn
Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Biệt Hải Trung Tá Trương Duy Tài, Trung Tá Trần Bá Tuân, HQ Trung Tá Nguyễn Hữu Hùng, HQ Trung Tá Hồ Văn Tánh
Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Hải Tuần (Hài Quân QLVNCH) Trung Tá Nguyễn Mạnh Trí, Thiếu Tá Nguyễn Hữu Hùng, Đại Úy Trần Đổ Cẩm
Giám Đốc Đài phát thanh Gươm Thiêng Ái Quốc Đại Úy Đổ Bá Tư
Giám Đốc Đài Tiếng Nói Tự Do Trung Tá Vũ Quang Ninh



NHA KỸ THUẬT / MACV-SOG HISTORY

Đoàn 1 Liên Lạc / Quân Khu 3 / Sàigòn, Tây Ninh, Biên Hòa.
Đoàn 2 Liên Lạc / Kontum
Đoàn 3 Liên Lạc/ Ban Mê Thuộc
Đoàn Công Tác 11, 71/ Sơn Trà Đà Nẵng
Đoàn Công Tác 72 /Tiên Sa Đà Nẵng
Đoàn Công Tác 68 /Long Thành Biên Hỏa
Đoàn Công Tác 75 Kontum, Pleiku
1-May 1972 Nha Kỹ Thuật Toán Yễm Trợ 158 (1972-1973)
STDAT-158 TEAM (Strategic Technical Directorate Assistance Team -158)

Thành Lập 1965
FOB1/Tiền Doanh 1 Phú Bài, Huế 1965, Khâm Đức 1966
FOB2/ Tiền Doanh 2 Kontum 1965
FOB3/Tiền Doanh 3 Ban Mê Thuộc 1965 / Kontum / Khe Sanh 1968
FOB4/ Non Nước Đà Nẵng1965, 1968
FOB5/ Ban Mê Thuộc 1968, Thủ Đức
FOB6/ Đà Lạt 1965, Hồ Ngọc Tảo 1968

January 1971
SMAG (Special Mission Advisory Group) / 1971, 1972

1966, 1967, 1968 & 1969
C&C Command & Control


Thành Lập 1.11.1967 / November 1st, 1967
1967,1968, 1969, 1970,1971
CCN Command and Control North / Chiến Đoàn 1 Xung Kích Phú Bài, Non Nước
CCC Command and Control Center / Chiến Đoàn 2 Xung Kích Kontum, Pleiku
CCS Command and Control South / Chiến Đoàn 3 Xung Kích Ban Mê Thuộc

TF1AE (Task Force One Advisory Element) 70,71 & 72
TF2AE ( Task Force Two Advisory Element) Kontum / 70,71&72
TF3AE (Task Force Three Advisory Element) Ban mê thuộc / 70,71&72

B53/ Long Thành 1970, 1971,1972
B50/ Project Omega FOB2 1966, 67, 68 Kontum

B56/ 1967, 1968 Hồ Ngọc Tảo

Căn Cứ Xuất Phát (Launch Site) cho xâm nhập ngoại biên Quảng Lợi, Benhet, Đức Cơ, Plei-Jereng, Tân Cảnh, Phú Bài, Khe Sanh và NKP (Nakaphadon) Thái.
FOB1 (CCN) Launch Site (Căn Cứ Xuất Phát) Đông Hà, Khe Sanh, Phú Bài, NKP Thái Lan.
FOB2 (CCC) Launch Site Benhet, Đức Cơ, Dakto, Pleime, Plei-Jereng, Tân Cảnh.
FOB3 (CCS) Launch Site Quảng Lợi .



SPECIAL OPERATIONS COMMANDS - VIETNAM (1961-1975)

Combined Studies Division
Studies and Observations Groups
STD Assistance Team


- ADMIN SOG-10
- INTEL SOG-20
- OPS SOG-30

o MAROPS SOG-31
§ NAD/CSS SOG-37o AIR OPS SOG-32
§ AIR OPS SOG-75
§ 1ST FLT DET
§ 15/90TH SOS
§ 20TH SOS / UH1-F
§ 219TH SQN VNAF CH34
§ USN C-121
o PSYOPS SOG-33§ PSYOPS SOG-39 / SOG-70
§ STUDIO (SAIGON)
§ ISLAND (DANANG)
§ VOF.PLFSS (HUE, PHUBAI)
o ABN OPS (BP) SOG-34
§ AGENT OPS SOG-36
§ MONKEY MT FOB
§ TRAINING SOG-38
§ CAMP LONG THANH
- ABN OPS SOG-35 (SB)o CCS TF3AE – LSAD3
§ FOB 5 / MLSN / MLSS
o FOB/FOB2 CCC TF2AE – SMF
o FOB 5 MLSN – MLSS
o KHAM DUC FOB 3
o MLT 2
o C&C- CCN- TF1AE – AE
§ KHAM DUC / FOB 3 / MLT 2
§ FOB4 / MLT 4
§ FOB1 / MLT 1
§ (Heavy Hook) / MLT 3 / NKP
- SUPPLY SOG-40
- PLANS SOG-50
- COMM SOG-60
- COMPT SOG-90
- JPRC SOG-80

OPS SOG-30
- MAROPS SOG-31
o NAD/CSS / SOG-37

DET C5 5TH SFG(A)
- DET B-50 (PROJ OMEGA)
- B-51 (TMG) B-52 (DELTA)
- DET B-53 (LONG THANH)
- 403RD SOD B-57 (GAMMA) B-55
- DET B-56 (PROJ SIGMA)

ABN OPS (SB) SOG-35
DET B-50 (PROJ OMEGA)
DET B-56 (PROJ SIGMA)
- C&C / CCN/ TF1AE / AE68
- FOB/FOB2 / CCC / TF2AE / SMF
- CCS / TF3AE / LSAD3

o FOB 5 MLSN / MLSS
o KHAM DUC FOB 3 / MLT 2
o FOB 4 / MLT 4
o FOB1 / MLT 1
o (HEAVY HOOK) MLT3 / NKP
o FOB/FOB2 CCC / TF2AE / SMF


Sở Phòng Vệ Duyên Hải

Sở Phòng Vệ Duyên HảiNha Kỹ Thuật, Bộ Tổng Tham Mưu / QLVNCH

Coastal Security Service
(Strategic Technical Directorate)
Sea Commandos - UDT Seals Teams:
Mercury, Ronumbus, Vega,
Nimbus, Cancer, Cumulus
Chỉ Huy Trưởng Sở Phòng Vệ Duyên Hải:
Ðại Tá Ngô Thế Linh (1964-1966)
Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại (1966-1970)
HQ Ðại Tá Nguyễn Viết Tân (1970-1975)

Coastal Security Service Commander:
Colonel Ngo The Linh (1964-1966)
Admiral Ho Van Ky Thoai (1966-1970)
Navy Captain Nguyen Viet Tan (1970-1975)

Chỉ Huy Trưởng của Lực Lượng Biệt Hải
trực thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải:
Trung Tá Trương Duy Tài
Trung Tá Trần Bá Tuân
Hải Quân Trung Tá Nguyễn Hữu Hùng
Hải Quân Trung Tá Hồ Văn Tánh

Sea Commando under CSS
Lieutenant Colonel Truong Duy Tai
Lieutenant Colonel Tran Ba Tuan
Navy Lieutenant Colonel Nguyen Huu Hung
Navy Lieutenant Colonel Ho Van Tanh

Thành Lập Sở Công Tác NKT

Thành Lập tại Nha Trang ngày 1.1.1971
BCH Sở Công Tác / Trại Chương Dương
BCH Đoàn 71, 72 và Đoàn 75 đồn trú tại Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn 5 Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ phía sau Phi Trường Nha Trang
Chỉ Huy Trưởng Sở Công Tác Đại Tá Ngô Thế Linh, 1972 dời vể Đà Nẵng CHT Đại Tá Trần Văn Hai, CHT cuối cùng Đại Tá Ngô Xuân Nghị.
Đoàn Công Tác 71 Chỉ Huy Trưởng đầu tiên Thiếu Tá Trịnh Văn Viên Chỉ Huy Trưởng cuối cùng Trung Tá Bùi Văn ThiệnĐoàn Công Tác 72 Chỉ Huy Trưởng đầu tiên Thiếu Tá Cẩm Ngọc Huân rồi đến Thiếu Tá Lê Hữu Minh kế tiếp Trung Tá Nguyễn Đức Phó cuối cùng Thiếu Tá Nguyễn Phan Tựu
Đoàn Công Tác 75 Chỉ Huy Trưởng đầu tiên Thiếu Tá Nguyễn Đức Phó, năm 1972 CHT Thiếu Tá Văn Thạch Bích đơn vị di chuyển về Kontum chung doanh trại với Chiến Đoàn 2 Xung Kích, tháng 9 năm 1972 Trung Tá Ngô Đình Lưu, đầu năm 1973 di chuyển về trại Long Biên Pleiku. tháng 10 năm 1974 Trung Tá Nguyễn Thanh Văn nhận chức Chỉ Huy Trưởng và cho đến những ngày cuối cùng.
Đoàn Công Tác 11 Trung Tá Đào Đăng Đại và CHT cuối cùng Thiếu Tá Lê Hữu Minh.
Đoàn Công Tác 68 Chỉ Huy Trưởng Trung Tá Hà Ngọc Oánh kế đến Trung Tá Nguyễn Văn Hy và Chỉ Huy Trường cuối cùng Trung Tá Trương Như Tài.


Ngày nay Special Operations Command  (Bộ Tư Lệnh Chiến Tranh Đặc Biệt) thay thế Special Operation Group (MACV-SOG) Việt Nam và tiếp tục nhiệm vụ trên các chiến trường khắp nơi trên thế giới và đặc biệt là chiến tranh tại A Phú Hãn và chiến tranh chống khủng bố trên toàn cầu.



Special Operations Memorial Wall in Fort Bragg North Carolina U.S.A.

 MACV-SOG  Vietnam Recon

 U.S. Special Operations Command


BỘ TƯ LỆNH HÀNH QUÂN ĐẶC BIỆT HOA KỲ



I. LỜI GIỚI THIỆU

Bộ tư lệnh Hành Quân Đặc Biệt Hoa Kỳ gọi tắt là USSOCOM hoặc SOCOM (Special Operation Command). Đợn vị này bao gồm quân tinh nhuệ thuộc các quân chủng Hải, Lục, Không quân và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Bộ tư lệnh HQĐB trực thuộc bộ Quốc Phòng, đóng trong căn cứ Không quân MacDill ở Tampa tiểu bang Florida.

Lý do chính để thành lập bộ tư lệnh HQĐB thống nhất chỉ huy (Unified Command) sau sự thất bại cuộc hành quân “Vuốt Đại Bàng” (Eagle Claw). Hành quân này được tổ chức để giải cứu con tin tòa đại sứ Hoa Kỳ trong thủ đô Teran của Iran năm 1980. Người Hoa Kỳ không cứu được con tin, bỏ lại thêm mấy xác chết, trực thăng CH-53. Một ủy ban điều tra dưới quyền Đô Đốc James L. Holloway III, báo cáo cho biết quân đội Hoa Kỳ thiếu phối hợp, thống nhất vấn đề chỉ huy trong chuyến giải cứu con tin thất bại. Kể từ ngày thành lập, 16 tháng Tư năm 1987, bộ tư lệnh Hành Quân Đặc Biệt tham dự nhiều cuộc hành quân, trong đó có trận đánh chiếm Panama năm 1989 và các hoạt động chống khủng bố trên toàn thế giới.

Nhiệm vụ chính yếu do các đơn vị HQĐB bao gồm: các hành quân bí mật, do thám, chống khủng bố, hành quân ngoại lệ và thanh toán các tay trùm ma túy trên thế giới.



II. LỊCH SỬ ĐƠN VỊ

Sau thất bại cuộc hành quân “Vuốt Đại Bàng” năm 1980, người Hoa Kỳ cảm thấy rằng phải tổ chức lại cơ cấu tổ chức của bộ Quốc Phòng. Tham Mưu Trưởng Lục Quân Hoa Kỳ, Tướng Edwards C. “Shy” Meyer yêu cầu xem xét lại (tái tổ chức) khả năng của các loại hành quân đặc biệt, cuối cùng được phép thành lập đơn vị Delta. Mặc dầu ý kiến của ông ta không thành công trong bộ Tổng Tham Mưu, Tướng Meyer gom các đơn vị hành quân đặc biệt của Lục quân (SOF) đặt dưới quyền chỉ huy bộ tư lệnh HQĐB số 1 vào năm 1982. Đó là một bước tiến trong khả năng hành quân đặc biệt của Lục quân.

Năm 1983, quốc hội Hoa Kỳ cảm thấy nhu cầu cải tổ lại quân đội. Trong tháng Sáu, Ủy Ban Quốc Phòng Thượng Viện (SASC) bắt đầu một chương trình nghiên cứu kéo dài hai (2) năm về cơ cấu tổ chức của bộ Quốc Phòng, dưới sự điều khiển của Thượng Nghi Sĩ Barry Goldwater (R-AZ). Trước tai mắt của quốc hội, bộ Quốc Phòng thành lập cơ quan Hành Quân Đặc Biệt Hỗn Hợp (Joint Special Operations Agency) ngày 1 tháng Giêng năm 1984. Tuy nhiên cơ quan này không có quyền điều hành cũng như chỉ huy các đơn vị trong hành quân đặc biệt. Trong bộ Quốc Phòng, Noel Koch, viên phụ tá bộ trưởng Quốc Phòng về nền An Ninh Quốc Tế, cùng viên phụ tá của ông ta Lynn Rylander, tán dương việc tái tổ chức Lực Lượng Hành Quân Đặc Biệt (SOF).

Cũng trong thời gian đó, vài khuôn mặt “tên tuổi” trong Quốc Hội Hoa Kỳ cũng nhấn mạnh việc sửa đổi Lực Lượng Hành Quân Đặc Biệt của Quân Đội Hoa Kỳ. Nhóm này có mặt các Thượng Nghị Sĩ như: Sam Nunn (D-GA), William Cohen (R-ME) trong Ủy Ban Quốc Phòng, và Dan Daniel (D-VA), chủ tịch tiểu ban “Sẵn Sàng” (readiness) trong Ủy Ban Quốc Phòng. Dân Biểu Daniel cho rằng, Quân Lực Hoa Kỳ không quan tâm đến các loại hành quân đặc biệt (xử dụng hỏa lực hùng hậu để đè bẹp địch quân), và trong lãnh vực này quân đội Hoa Kỳ yếu kém và vấn đề điều hành, chỉ huy các đơn vị này (Special Forces nói chung) là một … vấn đề lớn. Sam Nunn và Cohen cho rằng, bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ chưa chuẩn bị đối phó, đáp ứng với những đe dọa trong tương lai, ông ta tán đồng việc thay đổi hệ thống chỉ huy (quân giai) đối với bộ Tư Lệnh Hành Quân Đặc Biệt (đặt dưới quyền trực tiếp bộ Quốc Phòng) để đối phó với các “biến động” nhỏ trên thế giới.

Trong tháng Mười 1985, Ủy Ban Quốc Phòng Thượng Viện công bố kết qủa của hai năm “xem xét lại” cơ cấu tổ chức Quân Đội Hoa Kỳ, tập tài liệu (báo cáo) tên là “Tổ Chức Quốc Phòng: Nhu Cầu Sửa Đổi”. Tác giả chính yếu viết bản báo cáo là James R. Locher III, ông ta cũng xem lại những cuộc hành quân đặc biệt trước đây và lưu ý về những “đe dọa” trong tương lai (khủng bố). Tập tài liệu gây ảnh hưởng lớn, đưa đến việc ban hành dự luật “Goldwater-Nichols Tái Tổ Chức Quốc Phòng” năm 1986 (Goldwater-Nichols Defense Reorganization Act of 1986). Đến mùa Xuân 1986, cả hai viện (Thượng, Hạ) đều chấp thuận việc sửa đổi Lực Lượng Hành Quân Đặc Biệt (SOF). Ngày 15 tháng Năm, Thượng Nghị Sĩ Cohen, có thêm chữ ký Sam Nunn và vài người khác đưa ra dự luật, yêu cầu thành lập một đơn vị kết hợp bởi các quân binh chủng cho Lực Lượng Hành Quân Đặc Biệt. Dân Biểu Daniel tiến thêm một bước nữa, muốn có một cơ quan điều hành các loại hành quân đặc biệt do một nhân vật “dân sự” điều hành chỉ huy, dưới quyền trực tiếp của bộ trưởng Quốc Phòng, không qua Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Hoa Kỳ.

Quốc Hội Hoa Kỳ nhóm họp để biểu quyết hai dự luật nói trên trong mùa Hè 1986. Đô Đốc William J. Crowe Jr., Tổng Tham Mưu Trưởng làm trưởng nhóm “Ngũ Giác Đài” chống lại hai dự luật. Ông ta đưa ra một kế hoạch để thay thế, thành lập một bộ Tư Lệnh Hành Quân Đặc Biệt do một vị Tướng ba (3) sao chỉ huy (Trong quân đội Hoa Kỳ tất cả các vị Tham Mưu Trưởng quân chủng, các vị tư lệnh “Vùng Chiến Thuật”, tổng cộng khoảng 10 ông đều đeo bốn (4) sao). Đề nghị này không được Quốc Hội tán đồng, họ muốn một ông Tướng bốn (4) sao để tăng cường sức mạnh, có “qủa đấm” thôi sơn. Nhiều sĩ quan đã về hưu ra điều trần trước Quốc Hội cũng tán đồng nhu cầu cải tổ Hành Quân Đặc Biệt. Lời điều trần quan trọng nhất đến từ Thiếu Tướng về hưu Richard Scholtes, ông là người chỉ huy đơn vị Đặc Nhiệm Hành Quân Đặc Biệt Hỗn Hợp trong trận đánh chiếm đảo nhỏ Grenada trong vùng biển Carribean. Tướng Scholtes giải thích việc các cấp chỉ huy chiến tranh quy ước, đã không xử dụng đơn vị Hành Quân Đặc Biệt đúng với khả năng của họ, làm cho đơn vị này bị tổn thất cao. Sau khi điều trần, Tướng Scholtes được mấy Nghi Sĩ, Dân Biểu mời “họp riêng”… để họ biết thêm những vấn đề ông ta gặp phải trong trận tấn công Grenada.

Lưỡng Viện Hoa Kỳ đều thông qua hai dự luật, cải tổ Lực Lượng Hành Quân Đặc Biệt. Tất cả các đơn vị Đặc Biệt của Hải, Lục, Không quân và TQLC đều nằm trong bộ Tư Lệnh Hành Quân Đặc Biệt, dưới quyền một vị Tướng Bốn sao. Thêm một vị Phụ Tá cho Bộ Trưởng Quốc Phòng về các loại hành quân đặc biệt. Hai dự luật được ký trong tháng Mười năm 1986. Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ thành lập bộ Tư Lệnh Hành Quân Hành Quân Đặc Biệt ngày 16 tháng Tư năm 1987, vị chỉ huy trưởng đầu tiên là Tướng (4 sao) James Lindsay.


III. HÀNH QUÂN EARNEST WILL (9/1987)

Chuyến hành quân đầu tiên có tên là Earnest Will, do bộ Tư Lệnh Hành Quân Đặc Biệt đảm trách xẩy ra trong tháng Chín 1987 bao gồm: toán SEAL (Người Nhái Hải Quân), Hải Thuyền (Special Boat Team – SBT), và trung đoàn 160 Hành Quân Đặc Biệt Không Quân (Night Stalkers).  Chính quyền Hoa Kỳ muốn bảo đảm các tầu chở dầu “trung lập” được an toàn trong vùng vịnh Ba Tư (Persian Gulf) trong trận chiến Iran-Iraq.

Các tầu chở dầu Kuwait bị Hải quân Iran tấn công nên họ yêu cầu người Hoa Kỳ cho “ghi danh” 11 tầu chở dầu treo quốc kỳ Hoa Kỳ, được chiến hạm Hoa Kỳ hộ tống. Lời yêu cầu của Kuwait được Tổng Thống Reagan chấp thuận ngày 10 tháng Ba năm 1987. Hải quân Iran vẫn tiếp tục gài mìn (thủy lôi), xử dụng duyên tốc đỉnh nhỏ tấn công các tầu chở dầu đi/đến Kuwait. Cuối tháng Bẩy 1987, Phó Đô Đốc Harold J. Bemson tư lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ trong vùng Trung Đông yêu cầu “can thiệp” và được tăng cường hai trung đội SEAL, một đơn vị Hải Thuyền với sáu (6) tầu tuần tiễu Mark III trong tháng Tám. Quân đội Hoa Kỳ trong vùng vịnh Ba Tư quyết định xử dụng hai trạm (căn cứ) tiếp tế dầu Hercules, Wimbrown VII “di động”. Hai căn cứ di động này được đưa lên phiá bắc vịnh Ba Tư ngăn cản các trận tấn công bí mật, rải thủy lôi của Iran.

Ngày 21 tháng Chín, phi cơ trực thăng do thám Night Stalkers MH-60 cất cánh từ chiến hạm USS Jarrett theo dõi chiếc tầu Iran “Iran Air”. Phi cơ do thám Hoa Kỳ nhìn rõ chiếc “Iran Air” tắt đèn và bắt đầu thả thủy lôi. Sau khi nhận được lệnh tấn công, trực thăng Hoa Kỳ bắn hỏa tiễn xung quanh buộc thủy thủ đoàn Iran phải rời tầu. Sáng sớm hôm sau, một toán SEAL lên tầu Iran tìm thấy thêm 9 qủa thủy lôi vẫn còn nguyên trên bong tầu và một quyển sổ “hành quân”. Quyển này chứng minh, Hải quân Iran gài thủy lôi trong hải phận quốc tế.

Vài ngày sau, bộ Tư Lệnh Hành Quân Đặc Biệt truy lùng và biết được các hoạt động “phá hoại” của Iran, các tầu gài mìn ban ngày trốn gần các dàn khoan dầu, khí của Iran, đợi đến đêm tối di chuyển đến trạm nổi Middle Shoals (hướng dẫn tầu bè di chuyển trong vịnh), nhận lệnh đi gài thủy lôi. Biết rõ đường đi của Iran, Hoa Kỳ cho ba trực thăng do thám cùng với hai duyên tốc đỉnh đến trạm nổi Middle Schoals. Các trực thăng do thám Hoa Kỳ bị ba chiếc tầu Iran đang thả neo trong trạm nổi bắn lên. Sau một hồi chạm súng, cả ba chiếc tầu Iran bị bắn chìm.

Khoảng giữa tháng Mười, hỏa tiễn Silk Worm của Iran bắn trúng tầu chở dầu Sea Isle City gần bến tầu thành phố Kuwait làm bị thương 17 thủy thủ cùng viên thuyền trưởng người Hoa Kỳ. Để trả đũa, trong hành quân Nimble Archer, bốn diệt lôi hạm Hoa Kỳ bắn phá hai dàn khoan dầu của Iran trong khu vực khai thác dầu Rostam. Toán SEAL đem theo chuyên viên chất nổ phá dàn khoan và lùng thêm dàn khoan thứ ba cách khoảng 2 cây số, tịch thâu nhiều tài liệu.

Ngày 14 tháng Tư năm 1988, cách Bahrain (một quốc gia nhỏ trong vùng Trung Đông) khoảng 65 dặm về hướng đông, chiến hạm Hoa Kỳ USS Samuel B. Robert (FFG-58) trúng thủy lôi bị thủng một lỗ lớn, mười (10) thủy thủ bị thương. Hoa Kỳ trả đũa mạnh mẽ với hành quân Praying Mantis, tấn công chiến hạm Sahand của Iran, bắn phá các dàn khoan trong khu vực khai thác dầu ở Sirri, Sassan. Sau khi tầu chiến Hoa Kỳ bắn phá các dàn khoan trong khu vực Sirri, các toán SEAL được trực thăng UH-60 đưa vào thanh toán “chiến trường” nhưng không cần thiết, các dàn khoan bộc cháy dữ dội cùng với tiếng nổ phụ. Từ đó, sự tấn công, phá hoại của Iran đối với các tầu chở dầu quốc tế giảm nhiều. Ngày 18 tháng Bẩy, Iran chấp nhận “ngưng bắn”, đến ngày 20 tháng Tám, trận chiến Iran-Iraq chấm dứt. Đơn vị SEAL, cùng với phi đoàn trực thăng được lệnh quay trở về Hoa Kỳ. Các loại hành quân đặc biệt này giúp Bộ Tư Lệnh Trung Ương (CENTCOM) kiểm soát khu vực phiá bắc vịnh Ba Tư dễ dàng, đỡ tốn nhân lực, vật lực.



IV. SOMALIA

Tài liệu phiên dịch bởi 
Dr. Vũ Đình Hiếu K4/72 Mùa Hè Đỏ Lữa
American University of Nigeria
Adamawa State, Nigeria





The United States Special Operations Command (USSOCOM or SOCOM) is the Unified Combatant Command charged with overseeing the various Special Operations Component Commands of the Army, Air Force, Navy and Marine Corps of the United States Armed Forces. The command is part of the Department of Defense and is the only Unified Combatant Command legislated into being by the U.S. Congress. USSOCOM is headquartered at MacDill Air Force Base in Tampa, Florida.
The idea of a unified special operations command had its origins in the aftermath of Operation Eagle Claw, the disastrous attempted rescue of hostages at the American embassy in Iran in 1980. The ensuing investigation, chaired by Admiral James L. Holloway III, the retired Chief of Naval Operations, cited lack of command and control and inter-service coordination as significant factors in the failure of the mission.[2] Since its activation on 16 April 1987, U.S. Special Operations Command has participated in many operations, from the 1989 invasion of Panama to the ongoing Global War on Terrorism.[3][4]
USSOCOM conducts several covert and clandestine missions, such as direct action, special reconnaissance, counter-terrorism, foreign internal defense, unconventional warfare, psychological warfare, civil affairs, and counter-narcotics operations. Each branch has a Special Operations Command that is unique and capable of running its own operations, but when the different special operations forces need to work together for an operation, USSOCOM becomes the joint component command of the operation, instead of a SOC of a specific branch.[5]

ActiveApril 16, 1987 – present[1]
Country United States of America
TypeSpecial operations
RoleProvide fully capable special operations forces to defend the United States and its interests and plan and synchronize operations against terrorist networks[1]
Size63,000[1]
Part ofUnited States Department of Defense Seal.svg Department of Defense
Garrison/HQMacDill AFB, Florida, U.S.
Nickname"USSOCOM", "SOCOM"
EngagementsOperation Earnest WillInvasion of PanamaPersian Gulf WarUnified Task ForceOperation Gothic Serpent
Operation Uphold DemocracyGlobal War on Terrorism

Hồn Tữ Sĩ Gió Ù Ù Thổi / Tổ Quốc Tri Ân Phi Đoàn 219 Trực Thăng Thả Toán Nha Kỹ Thuật

1 PHAN THẾ LONG Tr/u 1965 Khâm Đức
2 NGUYỄN BẢO TÙNG Th/u 1965 Khâm Đức
3 BÙI VĂN LÀNH Th/s 1965 Khâm Đức
4 NGUYỄN VĂN MÀNH Th/u 1966
5 NGUYỄN HỮU KHÔI Tr/u 1966
6 NGUYỄN VĂN HAI Th/s 1966 

7 ĐINH HỮU HIỆP Đ/u Ashau
8 LÊ HỒNG LĨNH Tr/u Ashau
9 NGUYỄN MINH CHÂU Th/s Ashau
10 NGUYỄN PHI HÙNG
Đ/u
11 NGUYỄN PHI HỔ Tr/u
12 BÙI QÚY THOAN Th/s
13 TRẦN VĂN THÁI Th/s

14 NGUYỄN VĂN MINH CẤP BẬC TRUNG ÚY TAI NAN NGÀY 30 THANG 11 NĂM 1968 TẠI KHU VỰC GẦN ĐƯỜNG MÒN 922 HẠ LÀO.
15/ HƯỚNG VĂN NĂM CẤP BẬC THIẾU ÚY TAI NẠN CÙNG LÚC VỚI SỐ 14

 16  / NGUYỄN VĂN THÂN CẤP BẬC TRUNG SĨ NHẤT TAI NAN CÙNG NGÀY CÙNG NƠI VỚI SỐ 14 & 15
16A NGUYỄN VĂN MINH Tr/u 30/11/1968 gần đường mòn 922 Hạ lào
17 HƯỚNG VĂN NĂM TH/U 30/11/1968 gần đường mòn 922 Hạ lào
18 NGUYỄN VĂN THÂN Tr/s 1 30/11/1968 gần đường mòn 922 Hạ lào
19 NGUYỂN DU Tr/u tháng 3/1969 gan Leghorse
20 TÔN THẤT SINH Tr/u 4/4/1969 Ngã ba biên giới
21 VŨ TÙNG Th/u 4/4/1969 Ngã ba biên giới
22 NGUYỄN VĂN PHƯƠNG Tr/s 4/4/1969 Ngã ba biên giới
23 THÁI Th/u Tháng 5/1969 Núi Bạch Mã
24 TOẢN Tr/s 1 Tháng 5/1969 Núi Bạch Mã
25 HÀ KHẮC VỮNG Tr/s 1/6/1969 Quảng Ngãi
26 THÁI ANH KIỆT Th/u 10/6/1969 Ngã ba biên giới
27 NGÔ VIẾT VƯỢNG Đ/u 11/5/1970 Ngọn núi ngăn giữaDuc Co va Kontum
28 LÊ VĂN SANG Tr/u 11/5/1970 Ngọn núi ngăn giữa Duc Co va Kontum
29 PHẠM VĂN TRUẬT Tr/s 1 11/5/1970 Ngọn núi ngăn giữa Duc Co va Kontum
30 ĐẶNG HỮU CUNG Đ/u 11/5/1970 Ngọn núi ngăn giữaDuc Co va Kontum
31 ĐẠT Th/u 11/5/1970 Ngọn núi ngăn giữaDuc Co va Kontum
32 NGUYỄN HẢI LỘC Th/u 24/09/1970 Bù Dớp
33 NGUYỄN THANH GIANG Tr/u 1971 trận Ha Lào Lam sơn 719 Dồi 31
34 NGUYỄN VAN EM Tr/s 1971 trận Ha Lào Dồi 31
35 VŨ ĐỨC THẮNG Đ/u 9/10/1971 Xã Minh Hung Thị trấn Chơn Thành
36 NGUYỄN NGỌC AN Th/u 9/10/1971 Xã Minh Hung Thị trấn Chơn Thành
37 NGUYỄN VAN MAI Th/u 9/10/1971 Xã Minh Hung Thị trấn Chơn Thành
38 TRẦN VĂN LONG Đ/u 9/10/1971 Xã Minh Hung Thị trấn Chơn Thành
39 NGÔ VĂN THÀNH Th/u 9/10/1971 Xã Minh Hung Thị trấn Chơn Thành
40 TRẦN VĂN LIÊN Tr/s 9/10/1971 Xã Minh Hung Thị trấn Chơn Thành
41 HÀ TÔN Đ/u Tháng 3/1972 Gần Non Nước Đa nẵng
42 HUỲNH TẤN PHƯỚC Tr/u Tháng6/1972 Quế sơn
43 PHAM VAN HƯỚNG Tr/s Tháng6/1972 Hướng Tây cây số 17 HUẾ
44 NGUYỄN THÀNH PHƯỚC Th/u 8/11/1972 Đầu phi trường Phú bài
45 TRẦN VĂN ĐỨC Tr/s 8/11/1972 Đầu phi trường Phú bài
46 HOÀ H/s 8/11/1972 Đầu phi trường Phú bài
47 NGUYỄN VĂN HIỆP Tr/u 8/11/1972 Đầu phi trường Phú bài
48 TRẦN VĂN ĐỨC Th/u 8/11/1972 Đầu phi trường Phú bài
49 LỘC Tr/s 8/11/1972 Đầu phi trường Phú bài
50 ĐỨC H/s 8/11/1972 Đầu phi trường Phú bài
51 MAI THANH XUÂN Tr/s Tháng 8/1973 Băng Đông-BMT
52 LE VAN BỔN H/s Tháng 8/1973 Băng Đông-BMT
53 QUÁCH NGỌC THAO Th/u 11/3/1975 Phi Trường L.19 - Ban Me Thuật
54 NGUYỄN VĂN BE Th/u 11/3/1975 Phi Trường L.19 - Ban Me Thuật
55 ĐẶNG QUÂN Th/u 11/3/1975 Phi Trường L.19 - Ban Me Thuật
56 LÊ THẾ HÙNG Đ/u 13/3/1975 Phi Trường Phụng Dực B.50 BMT
57 DƯƠNG ĐỨC HẠNH Th/u 13/3/1975 Phi Trường Phụng Dực B.50 BMT
58 TRẦN MẠNH NGHIÊM Th/s 13/3/1975 Phi Trường Phụng Dực B.50 BMT
59 NGUYỄN VĂN ÂN H/s 13/3/1975 Phi Trường Phụng Dực B.50 BMT

Tữ Sĩ Nha Kỹ Thuật

Trung Sĩ Nguyễn Như An ● Vũ Tiến An ● Nguyễn Văn Ẩn ● Bùi Văn Ẩn ● Phúc An ● Phạm Ngọc Anh ● Trịnh Ngọc Anh ● Trịnh Quốc Anh ● Lê Tuấn Anh ● Dương Anh ● Lê Anh ● Dương Ngọc Ánh ● Phạm Ba ● Biệt Kích Phạm Văn Bá ● Đinh Công Bá ● Nguyễn Văn Bắc ● Đại Uý Nguyễn Văn Bạch ● Nguyễn Văn Ban ● Mang Banh ● Nguyễn Đình Baó ● Chu Chi Bảo ● Nguyễn Văn Bảy ● Huỳnh Văn Bé ● Mang Bí ● Đinh Công Bích ● Đaị Uý Võ Bình ● Nguyễn Văn Bình ● Nguyễn Bình ● Bùi Văn Cẩm ● Nhét Lo Cẩn ● Dừng Văn Cang ● Lò Đức Cầu ● Lò Viết Cầu ● Thạch Caven ● Chương Nàm Cháng ● Mang Chao ● Chuẩn Uý Lưu Thanh Châu ● Đinh Công Châu ● Đinh Công Châu ● Nguyễn Minh Châu ● Đinh Thế Châu ● Đinh Văn Châu ● Hoàng Văn Chiến ● Ngô Văn Chiến Phi ● Thiếu Úy Phan Văn Chiêu Nguyễn Văn Chinh ● Hoàng Ngọc Chính ● Mang Chơn ● Đinh Văn Chúc ● Dương Chức ● La Văn Chung ● Triệu Chung ● Nguyễn Chuyên ● Vòng A Có ● Bùi Văn Cỏi ● Huỳnh Con ● Hứa Viết Coc ● Trần Văn Củ ● Đại Uý Nguyễn Công Cử ● Đại Uý Nguyễn Công Cử ● Lu A Cui ● Trung Sĩ Cường ● Trung Uý Nguyễn Văn Cường ● Nguyễn Hùng Cường ● Nguyễn Văn Cường ● Trung Uý Cường (CôVi) ● Trung Tá Đào Đăng Đai ● Bế Ích Đạm ● Trần Như Đán ● Vân Đàn ● Nguyễn K Dang ● Vi Văn Đăng ● Nguyễn Văn Danh ● Nguyễn Văn Dao ● Đỗ Đăng Dậu ● Nguyễn Văn Dậu ● Hoàng Văn Đậu ● Không Văn Đậu ● Tống Văn Dền ● Buì Văn Diện ● Buì Văn Điện ● Phùng Điều ● Lò Văn Dinh ● Nông Công Định ● Nguyễn Khắc Định ● Tống Văn Dôi ● Quách Dỏm ● Cao Văn Dọn ● Lò Văn Dọn ● Nguyễn Đông ● Nguyễn Văn Du ● Nguyễn Văn Dua ● Trung Uý Nguyễn Dứa ● Trương Đình Đức ● Buì Văn Đức ● Nguyễn Văn Đức ● Trung Sĩ Dũng ● Huỳnh Tân Dũng ● Lê Văn Dũng ● Nguyễn Văn Dũng ● Nguyễn Văn Dũng ● Phạm Văn Dũng ● Phạm Công Dụng ● Biệt Hải Nguyễn Duyên ● Bế Viết Giang ● Nguyễn Văn Giáo ● Lò Văn Giát ● Trung Sĩ Vương Đình Ha ● Phan Ha ● Nguyễn Xuân Hạ ● Thiếu Tá Nguyễn Văn Haỉ ● Thiếu Uý Haỉ ● Khắc Haỉ ● Lê Văn Haỉ ● Lương Hằng ● Nguyễn Đức Hậu ● Nguyễn Thế Hiền ● Hứa Viết Hiền ● Lò Văn Hiền ● Đaị Uý Lâm Hưu Hiệp ● Lâm Thư Hiệp ● Nguyễn Văn Hiệp ● Quách Đình Hiếu ● Vũ Ngọc Hinh ● Vũ Hinh ● Đaị Tá Trần Văn Hô ● Trần Văn Hổ ● Nguyễn Văn Hóa ● Đaị Uý Văn Xuân Hòa ● Trung Sĩ Nguyễn Văn Hòa ● Lâm Xuân Hòa ● Phạm Thanh Hoaì ● Trần Văn Hoài ● Thiếu Uý Nguyễn Văn Hoanh ● Cao Văn Hồi ● Thượng Sỉ Hoàng Văn Hồng ● Hà Trung Huấn ● Nguyễn Văn Huấn ● Đào Huệ ● Trung Sĩ Hùng ● Trung Uý Nguyễn Mạnh Hùng ● Vũ Bão Hùng ● Đinh Thế Hùng ● Ngô Văn Hùng ● Nguyễn Văn Hùng ● Phạm Hùng ● Chuẩn Uý Vũ Trần Bảo Hưng ● Nguyễn Hưng ● Nguyễn Văn Hương ● Lê Hương ● Quách Đình Huyền ● Diệu Chính Ích ● Nguyễn Thanh Joan ● Hoàng Đình Khả ● Đỗ Văn Khaỉ ● Nguyễn Văn Khaỉ ● Đaị Uý Hoàng Công Khâm ● Hứa Viết Khim ● Đinh Như Khoa ● Phạm Trộng Khôi ● Nguyễn Văn Khứ ● Trung Uý Nguyễn Văn Khuê ● Trần Văn Khương ● Lưu Khương ● Nguyễn Văn Kiễm ● Mai Kiễm ● Bưu Kiễm ● Trung Sĩ Lê Văn Kim ● Thân Văn Kính ● Lê Văn Kình ● Buì Văn Ký ● Buì Đức Lạc ● Trung Sĩ Trần Văn Lai ● Nguyễn Thành Lai ● Nguyễn Văn Lâm ● Nguyễn Xuân Lãng ● Buì Văn Lành ● Nguyễn Đình Lãnh ● Nguyễn Đình Lãnh ● Phạm Lâu ● Ngô Liên ● Nguyễn Văn Liêng ● Dương Văn Liễu ● Đaị Tá Ngô Thế Linh ● Ngô Thế Linh ● Dương Văn Linh ● Nguyễn Văn Linh ● Hà Thương Lỉnh ● La Văn Loan ● Nguyễn Văn Lộc ● Lâm Lợi ● Nguyễn Đình Lợi ● T/s 1 Nguyễn Văn Long ● Huỳnh Nam Long ● Nguyễn Văn Long ● Nguyễn Văn Long ● Long (Lé) ● Thiếu Tá Tôn Thất Luân ● Tinh Minh Lung ● Trung Sĩ Lương ● Thiếu Tá Hoàng Khắc Lưu ● Trung Tá Ngô Đình Lưu ● Nguyễn Đình Lưu ● Đèo Văn Luyện ● Luyện (Casô) ● Nguyễn Văn Lý ● Trung Sĩ Tang Dù Lỹ ● Lê Văn Mai ● Mai (Già) ● Đaị Uý Trần Xuân Mẫn ● Trần Văn Minh ● Bành Viết Minh ● Nguyễn Minh ● Minh (Lai) ● Đinh Quí Muì ● Nguyễn Muì ● Chuẩn Uý Nguyễn Văn Mỹ ● Huỳnh Tân Na ● Chuẩn Uý Nguyễn Văn Nam ● Trung Sĩ Hồ Xuân Hoang Nam ● Đặng Nam ● Trần Nam ● Vũ Văn Năm ● Trung Sĩ Nguyễn Văn Ngà ● Đỗ Ngạc ● Mai Văn Ngàn ● Nguyễn Kim Ngân ● Mang Ngay ● Vũ Đình Nghị ● Trung Uý Nguyễn Văn Nghiêm ● Chuẩn Uý Nguyễn Văn Ngọc ● Phạm Văn Ngơị ● Trương Bá Ngữ ● Nguyễn Văn Nguyện ● Nguyễn Thế Nhã ● Thiếu Tá Hồ Đăng Nhật ● Nguyễn Văn Nho ● Mang Nhơn ● Nguyễn Văn Nhung ● Trung Sĩ Vi Văn Nô ● Buì Văn Nôi ● Thiếu Tá Nòng A Pang ● Nòng Au Pang ● Sền Sản Pắng ● Biệt Kích Đèo Văn Peng ● Trung Tá Nguyễn Đức Phó ● Lương Văn Phổ ● Nguyễn Văn Phôi ● Huỳnh Thanh Phong ● Binh Nhất Trần Phỏng ● Lưu Chí Phú ● Nguyễn Văn Phú ● Nguyễn Văn Phú ● Nông Văn Phú ● Si Phù ● Phạm Viết Phục ● Lò Văn Phúng ● Trung Sĩ Phước ● Lương Văn Phượng ● Đaị Uý Nguyễn Văn Quang ● Trung Sĩ Nguyễn Văn Quang ● Trần Quốc Quang ● Huỳnh Văn Quang ● Nguyễn Văn Quang ● Quang (Đen) ● Trần Văn Quí ● Trần Aí Quốc ● Nguyễn Quang Quơí ● Nguyễn Văn Quy ● Nguyễn Văn Quý ● Nguyễn Văn Quyết ● Quách Rả ● T/S I Nguyễn Văn Rất ● Buì Văn Ri ● Trung Tá Nguyễn Hương Rinh ● Nguyễn Hương Rinh ● Lò Văn Ron ● Quách Rọn ● Hoàng Văn Sạch ● Nguyễn Văn Sang ● Nguyễn Văn Sang ● Buì Văn Sất ● Liêu A Saú ● Nguyễn Sĩ ● T/S I Nguyễn Đức Sinh ● Phạm Ngọc Sinh ● Vương Đình Sính ● Lương Văn So ● Lâm So ● Hoàng Văn Soĩ ● Biệt Kích Nguyễn Văn Sơn ● Lê Đình Sơn ● Nguyễn Đình Sơn ● Nguyễn Ngọc Sơn ● Nòng Văn Song ● Trung Sĩ Sử ● Đinh Công Sửa ● Sooc Sum ● Mang Suoi ● Đinh Công Sưủ ● Trung Sĩ Trần Quang Taì ● Trung Sĩ Lê Văn Taĩ ● Hà Đăng Tâm ● Thiếu Úy Lê Văn Tâm Trương Đình Tâm ● Nguyễn Văn Tâm ● Chuẩn Uý Hoàng Ngọc Tang ● Trung Sĩ Tạ Tánh ● Đèo Văn Tập ● Nguyễn Văn Tập ● Diệu Chính Thạch ● Nguyễn Thạch ● Lò Khấm Thaí ● Lò Phạm Thái ● Hoàng Văn Thái ● Lê Văn Thân ● Trần Văn Thân ● Nguyễn Quốc Thắng ● Nguyễn Văn Thắng ● Thượng Sĩ Nguyễn Thanh ● Trung Sĩ Phạm Thanh ● Nguyễn Châu Thanh ● Đinh Công Thanh ● Vũ Hiến Thanh ● Nguyễn Văn Thanh ● Nguyễn Văn Thanh ● Đinh Công Thành ● Nguyễn Công Thành ● Nguyễn Hữu Thành ● Đoàn Viết Thạnh ● Phạm Thạnh ● Thanh (Đại Úy) ● Nguyễn Hưu Thao ● Nguyễn Văn Thế ● Nguyễn Văn Thế ● Mai Văn Thể ● Tống Văn Thể ● Nguyễn Văn Thi ● Nguyễn Trương Thộ ● Nguyễn Văn Thoaị ● Tống Văn Thôm ● Tống Văn Thôm ● Biệt Kích Trịnh Văn Thôn ● Phạm Cưu Thông ● Nguyễn Văn Thụ ● Nguyễn Văn Thứ ● Quách Thúc ● Nguyễn Văn Thức ● Hà Văn Thương ● Lương Trộng Thưởng ● Hà Trộng Thưởng ● Tạ Văn Thưởng ● Trung Sĩ Lê Hồng Thuỷ ● Trung Sĩ Đào Hồng Thuỷ ● Trần Văn Thuỷ ● Nguyễn Văn Tiệm ● Đaị Tá Nguyễn Minh Tiên ● Biệt Kích Triệu Tiến ● Lò Văn Tiến ● Đaị Tá Hồ Tiêu ● Nguyễn Văn Toán ● Trần Quang Toản ● Lương Văn Tôm ● Biệt Kích Quách Tỏm ● Đà Văn Tôn ● Nguyễn Hữu Trang ● Trương Nam Tráng ● Lưu Quang Trí ● Thiếu Tá Lê Quang Triêu ● Đặng Công Trình ● Nguyễn Văn Trình ● Chuẩn Uý Phạm Đình Trung ● Thiếu Uý Lê Văn Trung ● Trần Văn Trung ● Lê Tu ● Nguyễn Văn Tú ● Trung Sĩ Tủ ● Đỗ Văn Tư ● Hạ Si Nguyễn Văn Tứ ● Nguyễn Tua ● Trung Tá Trần Bá Tuân ● Trần Mai Tuân ● Biệt Kích Mai Văn Tuấn ● Hồ Châu Tuấn ● Mai Văn Tuấn ● Nguyễn Văn Tuấn ● Nguyễn Văn Tuấn ● Hà Văn Tun ● Đaị Tá Lê Quang Tùng ● Đaị Uý Lê Văn Tùng ● Vòng A Tưng ● Lê Văn Tụng ● Nguyễn Tươi ● Lê Tuy ● Đaị Uý Đào Hưu Tuyền Nguyễn Văn Tuyến ● Bùi Văn Út ● Phan Nhật Văn ● Trung Tá Nguyễn Thanh Văn Nguyễn Văn Vậy ● Trung Tá Nguyễn Văn Vinh ● Trung Uý Nguyễn Văn Vinh ● Nguyễn Văn Vinh ● Đỗ Văn Vong ● Nguyễn Văn Vụ ● Chuẩn Uý Vũ Trọng Vui ● Nguyễn Văn Vui ● Chuẩn Uý Nguyễn Văn Vương ● Vương Đình Vựơng ● Nguyễn Văn Vượng ● Đào Xuân ● Đặng Hùng Xung ● Đào Xung ● Văn Tú Xưng ● Lê Văn Xuyên ● Hoàng Văn Y ● Nguyễn Văn Yo ●

Tuesday, December 31, 2013

MÁU VÀ NƯỚC MẮT CỦA QLVNCH TRÊN ÐƯỜNG TRƯỜNG SƠN


TRONG CHIẾN CUỘC ĐÔNG DƯƠNG 1955-1975
MƯỜNG GIANG


            Một năm sau ngày miền Nam bị cưởng chiếm, phái đoàn Bắc Việt do Trường Chinh đại diện và Ðảng Bộ Việt Cộng miền Nam tức Mặt Trận Giải Phóng MN, dưới quyền Phạm Hùng, đã chính thức họp tại Sài Gòn, để khai tử cái Mặt Trận “ MA “, được Hà Nội dàn dựng và khai sinh từ ngày 20-12-1960, nhằm lường gạt dư luận thế giới và dân chúng trong nước, qua âm mưu thôn tính VNCH. Cũng từ đó (1976), cái gọi là con đường huyền thoại Hồ Chí Minh, tức đường mòn Trường Sơn với bí danh 559A, hành lang để Hà Nội chuyển tiếp liệu, quân dụng và người vào Nam, từ năm 1959 tới ngày 30-4-1975, cũng bị đảng nhận chìm trong quên lãng.

            Bắt đầu từ năm 1989 tới 1991, đã có nhiều biến cố chính trị quan trọng xảy ra tại Ðông Âu. Ðó là việc các nước chư hầu, lần lượt từ bỏ xã hội chủ nghĩa, kéo theo sự sụp đổ và tan rã của Liên Bang Sô Viết. Ðể cứu đảng khi đã mất cái dù che của Nga, Việt Cộng lại ngả về Tàu, đồng thời mở khẩu đổi mới, trải thảm đỏ, mời Hoa Kỳ, Nhật và Tây Phương vào làm ăn buôn bán. Nhờ vậy lớp son phấn che kín bản mặt thật của đảng, dần hồi bị xói mòn, bởi các tệ trạng tham nhũng, cướp bóc nơi cửa quyền và nhất là sự kiện đảng công khai bán nước cho ngoại bang, hèn nhục để cho dân mình bị Tàu Cộng bắn giết trên biển vào tháng 1-2005, đã làm cho cả nước không còn hãi sợ và tin Việt Cộng, kể cả một số không ít trí thức khoa bảng NamVN trước đây, từng tin đảng là chính nghĩa, làm cách mạng chỉ để giải phóng đất nước bị Mỹ-Ngụy kềm kẹp bóc lột.

            Ðể bảo vệ đảng cũng như quyền lợi của chóp bu đang hồi tiến nhanh tiến mạnh, Hà Nội lai lùi một bước, quay về với chiến lược cũ rích năm nào. Ðó là dùng lịch sử để lường gạt đồng bào và Việt kiều thêm lần nửa. Ðảng đem những huyền thoại trên trời dưới biển năm nao, ra hâm nóng lại tinh thần yêu nước là “ yêu nước xã hội chủ nghĩa “của cán bộ đảng viên, đang bị phân hoá lung lay niềm tin tới tận gốc, vì dành ăn, tranh quyền và ganh tị lẫn nhau bởi “ trâu cột ghét trâu ăn “.Ngoài ra, đảng cho trùng tu lại các di tích chiến tranh, như Ðịa đạo Vĩnh Mốc (Vĩnh Linh-Quảng Trị), Củ Chi (Hậu Nghĩa), cũng như tái tạo lại con đường mòn Hồ Chí Minh. Công tác trên vừa có tính cách xoa dịu tự ái của những đảng vỉên bộ đội già bị vắt chanh bỏ võ, sau khi tàn chinh chiến. Ðồng thời lần nữa lừa bịp cũng như móc túi bọn du khách ngoại quốc, trong đó có không ít Việt Kiều trí thức Miền Nam ngày xưa trốn quân dịch, nên có bao giờ biết cũng như nếm được mùi chiến tranh bom đạn, và đám da trắng giàu có đa sự. Bọn này rất muốn biết và nhìn tận mắt con đường mà Hoa Kỳ, nói là đã oanh tạc một số bom đạn, nhiều hơn số lượng đã xử dụng trong thời đệ nhi thế chiến nhưng vẫn không ngăn nổi người và quân dụng Bắc Việt vào Nam.

            Việc đẻ ra kế hoạch “ mười năm du lịch “ 1995-2005 “ của Võ văn Kiệt tại nghị định số 307 ngày 24-5-1995, cũng là một trong những sự sao y bản chánh của Trung Cộng, vì thấy Ðặng tiểu Bình đã thành công, khi xây dựng các khu du lịch và công nghiệp tại Thẩm Quyến, Hải Nam, Thượng Hải.. Từ đó Hà Nội đã bất chấp thực tế, vẫn hồng hơn chuyên, bỏ hằng tỷ bạc ngân sách quốc gia, để xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất và thành phố Vạn Tưởng, tại Quảng Tín-Quảng Ngãi, trước sự mai mỉa cười chê của thế giới. Khắp nước nơi nào cũng tổ chức các tour du lịch, để hốt bạc và tuyên truyền bộ mặt son phấn mới của VN xã nghĩa. Ngay chốn khỉ ho cò gáy như miền giới tuyến năm nào trong tỉnh Quảng Trị, cũng có một tour du lịch, từ Cửa Việt lên tới Khe Sanh, Tà Cơn, Cầu Treo DakRong, ngã ba QL9 và đường mòn HCM, gọi là The Demilitarized zone tour, thường viết tắt là D.M.Z. Mục đích để đảng quảng cáo các chiến lợi phẩm thời chiến tranh và cái gọi là nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, mà theo thân nhân của người quá cố, trong hòm chỉ có cát-đất, xương thú vật mà thôi.

            Có đọc trường thiên ký sự “ Ðường đi không tới “ của nhà văn VC hồi chánh là Xuân Vũ, hay đã làm lính VNCH, mới cảm nhận được cái ý vị khổ nhục cùng tận của cuộc chiến Ðông Dương lần 2 (1955-1975), do Ðệ tam quốc tế cọng sản chủ xướng, qua vai trò tên lính tiền phương đánh mướn là Việt Cộng. Trong cuộc chiến vô nghĩa phi lý này, mặt trận tại Trường Sơn, đã là mồ chôn hằng vạn tử sĩ của cả hai phía. Những địa danh như Dốc pháo cụt, Ðồi không tên, Sông A-Vương, Lũng Giằng, Khe Sanh, Dakto, A-Shau, Ia-Drang, Pleime, Ðức Cơ.. ra tận miền Bắc, càng lúc càng trở nên khốc liệt, khi nó chính thức trở thành con đường chiến lược để Bắc Việt xâm lăng VNCH. Suốt thời gian chiến tranh, Võ Nguyên Giáp qua tư cách Ðại Tướng tổng tư lệnh quân đội VC, đã từng tuyên bố với báo chí quốc tế, là hắn sẽ đốt rụi Trường Sơn, dù phải đem giết hết thanh niên nam nữ miền bắc. Cho nên không lạ khi thấy Xuân Vũ nói “ mạng người lá rụng “, để viết về thảm kịch Ðường Ði Không Tới, của một số cán binh bộ đội hồi kết năm nào.

            Tháng 11-1997, Võ nguyên Giáp khoe thành tích Bát Quái Ðồ, tức là đường Trường Sơn 559, do Ðinh Ðức Thiện và Ðồng Sĩ Nguyên lần lượt chỉ huy suốt cuộc chiến từ 1960-1975. Ngày xưa thế giới đui mù vì bị bọn trí thức khoa bảng, cha-sư miền Nam tuyên truyền lật lọng, nên chẳng bao giờ thấy được hình ảnh bộ đội cọng sản “ sinh bắc tử nam “, khi ồ ạt vượt vĩ tuyến 17, vào đường mòn HCM, để tấn công cưỡng chiếm Miền Nam thanh bình no ấm, như họ đã thấy tại bán đảo Triều Tiên, vào tháng 6-1950, qua cuộc chiến Cao Ly. Nhưng biết sớm hay muộn cũng giống nhau, vì ngày nay trên khắp nẻo đường Trường Sơn năm củ, từ Bắc Việt vào tới Phước-Bình Long, hằng ngày đã có hằng vạn nguời Việt , đói rách bị chĩa súng có gắn mã tấu sau lưng, để bắt họ làm nghĩa vụ lao động. Cũng qua cái hình ảnh đau thương này, đã làm cho mọi người trong cuộc của cả hai phía, chợt nhớ tới những cô gái Trường Sơn năm nào, luôn mỏi ngóng các chàng lính trận có lần đã đi vào con tim của họ. Ðể rồi từ đó tới nay, tuổi xuân tháp cánh lưng trời, mà bóng ai vẫn biền biệt, như cái huyền thoại Trường Sơn, thật sự đã chết trong tâm tư đồng bào sơn cước, khi họ bị VC cướp đất, lừa bịp.. sau khi đất nước đã có hòa bình.

“ mai về quê mẹ, lên biên giới
thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung
rừng núi vẫn xanh màu khát vọng
chỉ ta hờn tủi, kiếp tha hương ..”

1- Bối cảnh lịch sử có liên quan tới chiến cuộc Ðông Dương lần thứ 2 (1955-1975) :

            Ngày 7-5-1954 Ðiện Biên Phủ thất thủ, nước VN tạm thời bị chia cắt thành 2 miền riêng biệt, với 2 thể chê khác nhau, do cái gọi là tứ cường Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Cộng tự ý quyết định số phận của đất nước và dân tộc VN, tại bàn hội nghị Genève ( Thụy Sĩ ). Hoa Kỳ lúc đó là đồng chủ tịch nhưng vì một lý do gì đó, nên không ký vào biên bản. Từ đó, Bắc Việt do Hồ Chí Minh lãnh đạo, công khai theo chế độ cọng sản và là chư hầu của Nga-Tàu. Miền Nam chọn chính thể Cọng Hòa. Hai miền VN lấy vĩ tuyến 17, cũng là con sông Bến Hải, tỉnh Quảng Trị, làm ranh giới tạm chia. Theo tinh thần hiệp ước đình chiến, quân viễn chinh Pháp phải rút hết về nước, còn VC trong mặt trận Việt Minh tại miền Nam, cũng phải tập kết ra bắc.

            Từ khi chính thức làm trùm nửa nước, Hồ Chí Minh và đảng VC, theo chân Mao Trạch Ðông, phóng tay phát động phong trào cải cách ruộng đất năm 1956, làm cho hằng vạn người dân vô tội tại miền bắc, bị đấu tố chết thảm thương, trong số này hầu hết đều có công với nước hay với đảng trong chín năm kháng chiến chống Pháp. Nội vụ được giấu kín hay được bọn trí thức khoa bảng da trắng thân cộng như G.Kolko, tác giả quyển “ VN Anatomy of wars 1940-1975 “ tuyên truyền hoàn toàn trái ngược với sự thật. Trong khi đó, tình hình chính trị của miền Nam từ A - Z, bị bọn trí thức thân cộng trong và ngoài nước, moi móc, bịa đặt đủ điều vơí mục đích làm mất chính nghĩa quốc gia của người miền Nam, trong lúc đang chiến đấu chống lại sự xâm lăng của cọng sản đệ tam quốc tế .

            Tại VNCH, những năm đầu tiên, TT Ngô Ðình Diệm đã gặp rất nhiều khó khăn , trong việc đương đầu với với các Giáo phái và lực lượng Bình Xuyên. Lợi dụng giậu đổ bìm leo, VC nằm vùng tại miền Nam đã phát động các cuộc nổi loạn võ trang, gọi là đồng khởi tại Trà Bồng (Quảng Ngãi), Bắc Ruộng (Bình Thuận) và Mõ Cầy (Bến Tre), song song với các vụ khủng bố, ám sát đồng bào và viên chức xã ấp khắp nơi nhưng cuối cùng mọi hành động phá rối của VC đều thất bại. Theo hầu hết các nguồn sử liệu còn lưu trữ, cho biết tình hình chính trị tại VNCH, vào những năm 1956,1957, 1958 rất khả quan từ Sài Gòn cũng như các tỉnh, nơi thị tứ cho tới chốn quê làng, đâu cũng vui sống cảnh thanh bình no cơm áo ấm. Nhờ vậy TT Ngô Ðình Diệm cũng như Chính Phủ Miền Nam, lúc đó đã gây được uy tín rất lớn trên thế giới.

            Trước tình hình nguy ngập đó, Hồ Chí Minh đã phải gọi Lê Duẩn, lúc đó đang làm xứ bộ trưởng, chỉ huy cán bộ nằm vùng tại miền Nam, trở ra Bắc, để duyệt xét lại kế hoạch cưỡng chiếm VNCH bằng vũ lực, thay vì kỳ vọng vào cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước như Hiệp định Geneve 1954 đã qui định, mà VNCH không chịu thi hành, vì không hề ký vào biên bản hiệp ước trên. Trong phiên họp lần thứ 15 của Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng, khai diễn ở Hà Nội vào tháng 1-1959, quyết định thành lập Lực Lượng Vũ Trang tại Miền Nam. Kế tiếp ngày 5-10-1960, đảng lại họp Ðại Hội 3 cũng tại Hà Nội, để thành lập Ðảng Bộ cọng sản Miền Nam, qua danh xưng “ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam “,làm cánh tay nối dài, vừa là bình phong, vừa tạo công cụ xâm lăng cho Bắc Việt. Ðúng như Lê Duẩn đã tuyên bố “ Ðó là chiến lược bảo đảm thắng lợi hoàn toàn cho cuộc cưỡng chiếm miền Nam, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác-Lê và giai cấp công nông “.Tóm lại theo chủ trương của Hà Nội, Ðảng Bộ CS miền Nam, tức MTGPMN , phải hành động theo ba mục tiêu chiến lược : 1- Ly gián đồng bào và chính quyền VNCH 2- Ðánh lừa dư luận thế giới về cuộc xâm lăng của miền Bắc, trở thành cuộc nội chiến tại miền Nam . 3- Tuyệt đối phải tuân theo các chỉ thị của đảng, do miền Bắc lãnh đạo, Mặt trận miền Nam chỉ thừa hành, theo đúng chính sách đề cương trong khối xã hội chủ nghĩa quốc tế.

            Nên tới nay, dù được gọi bằng danh từ gì chăng nửa như Cục R, Ðảng bộ CS Miền Nam, Mặt Trận GPMN.. thì cũng chỉ là “ Mặt trận mốc xì, đảng ta đó “ qua lời tuyên bố trơ trẽn của Lê Ðức Thọ tại Ba Lê, sau khi vừa ký xong với Kissinger trên tờ hiệp định ngưng bắn năm 1973. MTGPMN được hợp thức hóa vào cuối tháng 12-1960 tại một căn cứ của VC, nằm cách biên giới Việt-Miên chừng 7km. Ðây là khu rừng già nằm kế cầu Cần Ðăng, trên con đường đá đỏ Trà Băng, Trại Bí, Xóm Mới, Sóc Ông Trang.. thuộc tỉnh Tây Ninh. Buổi lễ được đặt dưới quyền chủ tọa của Sáu Vi,bí danh của đại tướng Nguyễn Chí Thanh, ủy viên bộ chính trị, bí thư trung ương đảng, nguyên phụ trách vấn đề nông dân và thanh niên miền bắc. Mặt trận có mười nhân vật khoa bảng miền Nam, đang đối lập chính trị với VNCH, gồm Nguyễn Hữu Thọ (đang bị giam tại Cũng Sơn-Phú Yên, vì tội hiếp dâm, dược VC giải thoát ), Trương Như Tảng, Dương Quỳnh Hoa, Phùng văn Cung, Ưng văn Kỳ.. Bọn này hầu hết thuộc thành phần địa chủ, phú gia thời Pháp thuộc, được VC nằm vùng là Huỳnh tấn Phát móc nối dụ dỗ. Tất cả được Hà Nội đem ra làm bung xung che mắt thiên hạ nhưng đầu não lãnh đạo, vẫn do Lê Duẫn, Lê Ðức Thọ, Phạm Hùng, Trần văn Trà, Nguyễn Chí Thanh.. quyết định theo đúng chính sách của Hà Nội đã nghị quyết. Cũng từ đó, Nguyễn Hữu Thọ được phong hàm chủ tịch Mặt Trận, mở đầu cuộc chiến xâm lăng Miền Nam bằng vũ lực. Tại Miền bắc, Hồ Chí Minh ban lệnh hồi kết, hàng chục ngàn cán binh bộ đội trở về Nam, để thành lập “ Quân Giải Phóng “ do Trần Văn Trà làm tư lệnh. Một số lớn Hoa kiều sống tại Hải Ninh, Hải Phòng, Hà Nội, Thanh Hóa.. cũng được vào Nam, cùng một số Hoa Kiều thân cộng, đang do Tư Méo, tức Trương Gia Triều, bí danh Trần Bạch Ðằng chỉ huy, để trà trộn, tuyên truyền gây rối trong cộng đồng người Hoa miền Nam. Ðồng thời con đường mòn giao liên cũ, từ miền bắc vào Liên Khu 5, do đại tá Nguyễn Thông, bí danh của trung tá Nhật Ishitako, mở năm 1947, cũng được đảng giao cho Hai xe ngựa tức đại tá Võ Bẳm nối lại, để trùng tu vào năm 1959. Ðây là con đường chiến lược Liên Việt, tức là đường mòn Trường Sơn hay Hồ Chí Minh, mang bí danh 559A. Sau khi Pham văn Ðồng nhân danh thủ tướng nước VNDCCH, theo chỉ thị của đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, ký xác nhận quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Trung Cộng vào năm 1958, thì Hà Nội được Tàu Cộng, giúp phương tiện mở thêm một đường dây trên biển Ðông với bí danh 559B hay 759, chuyển quân dụng và bộ đội từ bắc vào nam bằng đường thủy. Theo Ðồng văn Cống, từng phụ trách đường dây 559B từ 1959-1968, thì việc tổ chức hai con đường bí mật trên, chỉ có Hồ Chí Minh, Phạm văn Ðồng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Ðức Thọ, Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng và Trần văn Trà, biết mà thôi. Còn những người khác chỉ thừa hành theo lệnh, kể cả Nguyễn Chí Thanh, Trần Ðộ, Trường Chinh..

2- Ðường Mòn Hồ Chí Minh :

            Sự thật, những chuyện đã xảy ra hằng ngày trên đường mòn HCM, tức là hành lang xâm nhập người và quân dụng, từ Bắc vào Nam của cong sản Hà Nội, đối với Hoa Kỳ và VNCH, không phải là huyền thoại hay bí mật ghê gớm, vì những gì xảy ra ở đó, qua phi cơ thám thính và các toán Biệt Kích hoạt động, họ gần như biết đủ. Có chăng là sự lạ lùng, vì ai cũng biết VC là kẻ chủ mưu gây nên cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2, chứ không phải là nội chiến. Ngoài ra cuộc xâm lược qui mô đều phát xuất từ đường mòn Trường Sơn, tiếp diễn liên tục đêm ngày không bao giờ gián đọan. Thế nhưng quân lực Hoa Kỳ, Ðồng Minh và ngay cả VNCH, cũng bị chính phủ Mỹ tại Hoa Thịnh Ðốn, ra lệnh giới hạn trong lúc chiến đấu với VC, theo qui định tại nhiều điểm, được gọi là “ Luật Chiến Ðấu ố Rules of Engagement “.Ngoài ra cũng không được tấn cộng hậu phương miền bắc, để tránh sự đụng độ quân sự với Trung Cộng, như đã xảy ra năm 1950, tại chiến cuộc Cao Ly.

            Năm 1985, sau mười năm chấm dứt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2, Bộ Quốc Phòng Mỹ mới cho phép giảm độ mật, khi cho Congressssional Record phổ biến hạn chế, cái gọi là “ Luật Chiến Ðấu tại VN “ qua 26 trang tóm tắt, trong đó có liên quan tới đường mòn Hồ Chí Minh. Cũng nhờ vậy, ta mới biết được nhiều điều thật vô lý, chỉ có siêu cường Mỹ mới có. Chẳng hạn nhu trong luật chiến đấu, có điều 3 cấm không quân Mỹ giội bom các quân xa VC, nếu chúng ở cách đường mòn HCM 200m. Ðiều này giúp cho quân xa Bắc Việt an toàn khi chúng lái xe trên đường mòn Trường Sơn, lúc nghe máy bay Mỹ oanh tạc, chỉ cần lái x e ra khỏi vị trí 200m, là hết chuyện. Còn điều 6 thì cấm quân Mỹ truy kích VC, nếu chúng rút qua biên giời Lào hay Kampuchia. Biếy vậy, nên hầu hết các căn cứ của Bắc Việt, kể cả cục R đều đươc lập sát hay bên kia biên giới, nên rất an toàn. Do trên các cuộc hành quân vượt biên mang tên Toàn Thắng, vào năm 1970 tại Miên hay hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào, vào thời TT Nixon, đã bị đảng Dân Chủ Mỹ thân cộng, căn cứ vào luật chiến đấu, la ó phản đối dữ dội. Cuối cùng tại Quốc Hội, cũng cái đám nghị sĩ-dân biểu đảng Dân Chủ Hoa Kỳ, ra luật cấm quân lực Hoa Kỳ hành quân vượt biên khỏi Nam VN. Những bí mật nhỏ nhoi trên, chỉ là một trong muôn ngàn điều bật mí sau này, cũng là lý do, khiến cho Mỹ cũng như VNCH, dù đã nỗ lực và hao tốn không biết bao nhiêu tiền bạc, xương máu nhưng cuối cùng vẫn không ngăn nổi cuộc tiến quân của Bắc Việt, trên đường mòn HCM.

            Theo Ðồng Sĩ Nguyên, phụ trách Binh Ðoàn 559A từ tháng 12/1966 tới tháng 4/1975, thì đơn vị này có gần 2000 xe vận tải và 4 binh trạm, với nhiệm vụ tải người và quân dụng từ miền Bắc vào Nam. Quân số của Binh đoàn 559A trên 120.000 người, gồm 10.000 thanh niên xung phong, 1 sư đoàn cao xạ phòng không của Bộ TTM/VC tăng phái và tám sư đoàn vận tải, chiến đấu trực thuộc. Sau ngày ký hiệp định ngưng bắn 1973, cọng sản Bắc Việt bãi bỏ giai đoạn gùi thồ đường đất và binh trạm, mà công khai chuyển quân từ bắc vào nam, mỗi lần cả sư đoàn tới binh đoàn, kể cả tăng-pháo, trước sự bất lực của VNCH khi Hoa Kỳ đã phủi tay về nước. Do trên cuộc hành trình chỉ mất 12 ngày, thay vì 4 tháng như trước, nên VC lúc nào cũng đủ quân số và quân dụng, vì có cả một núi người sẵn sàng “ sinh bắc tử nam “, cũng như các nước xã hội anh em, nhất là Trung Cộng, hết lòng chi viện. Trong lúc đó, VNCH chiến đấu với cả khối cọng sản đệ tam quốc tế trong cô đơn nơi chiến trường, đã vậy còn bị bọn cốt người mà óc khỉ tại hậu phương, công khai đâm hùa trí mạng. Chiến đấu trong hoàn cảnh thê thiết như vậy, không mất nước mới là chuyện lạ ?

A - ÐƯỜNG MÒN TRƯỜNG SƠN :

            Hầu hết con đường chiến lược HCM đều nằm trên rặng Trường Sơn, kể cả tuyến xuất phát tại Vinh (Nghệ An), cho tới đoạn cuối cùng rẽ vào Phước Long. Rặng Trường Sơn là xương sống của Trung phần, khởi đầu từ sông Cả tới sông Bông (Quảng Nam), chạy dọc theo biên giới Việt Lào. Từ bắc vào nam, có nhiều rặng núi cao trên 2500m, như Pu-Sai-Lai-Leng ở Nghệ An cao 2711m, Vụ Quang tại Hà Tĩnh cao 2286m, A Tuất ở Thừa Thiên cao 2550m.. Nhưng nhờ có nhiều đèo như Kéo Nưa trên núi Bà Mụ, đèo Mụ Giạ ở Hà Tỉnh, đèo Lao Bảo trên quốc lộ 9, nên sự thông thương giữa Lào-Việt rất thuận tiện. Từ năm 1960 về sau, Bắc Việt lợi dụng những đường đèo trên, để nối liền nhánh Trường Sơn Ðông ở VN sang Trường Sơn Tây, hoàn toàn nằm trên đất Lào.

            Rặng Trường Sơn từ phía nam sông Bông tới Miền Ðông Nam Phần, được gọi là Cao Nguyên Nam Trung Phần, vì độ cao chỉ còn trung bình 1000m, trừ phía bắc tỉnh Kon Tum, cửa ngỏ của Bắc Việt xâm nhập vào Vùng 2 chiến thuật, lại có nhiều rặng núi cao, rất đồ sộ và hiểm trở như Ngọc Lĩnh (2598m), Movia (2338m), Ngok Krin (2215m). Tại tỉnh Pleiku, cao nguyên Nam Trung Phần, hơi cao ở mạn đông tại ranh giới các tỉnh Phú Bổn, Bình Ðịnh nhưng lại thấp dần ở Miền Ba Biên Giới. Lợi dụng địa thế thiên nhiên vùng này, Hà Nội đã làm một nhánh rẽ, từ Ðức Cơ-Pleime xuống miền duyên hải Trung phần.

            Khởi đầu từ năm 1959, đường mòn HCM do Hai xe ngựa (Võ Bẳm) sáng tạo, thật sự chỉ là một tuyến đường gùi vô cùng bí mật, với “ đi không để dấu, nấu không để khói và nói không thành tiếng “.Sau đó theo thời gian và nhu cầu chiến cuộc, tuyến gùi phát triển dân thành tuyến đường thồ xe đap, rồi đường xe ô tô với đường dây điện thoại cùng hệ thống ống dẫn dầu, chạy song song kế đường mòn. Có thể gọi đây là một Bát Trận Ðồ cũng không ngoa chút nào vì con đường có tới hằng trăm, hằng ngàn nhánh nhỏ, chạy chằng chịt dọc ngang, từ đông sang tây, khắp nam tới bắc, chẳng biết đâu mà mò, kể cả VC, nếu không có giao liên hướng dẫn, vẫn bị lạc chết đói, như Dương Thu Hương đã kể trong tiểu thuyết “ Vô Ðề “.Sau năm 1973 khi hiệp định ngưng bắn ra đời, Kissinger cho phép quân Bắc Việt ở lại VNCH hợp pháp như là một thực thể chính trị, giúp Hà Nội ngang nhiên xây dựng con đường chiến lược trên, thành một xa lộ đất xe cộ xuôi ngược rộn rịp đêm ngày. Năm 1974, chủ tịch cọng sản Cuba là Fidel Castro đã tặng cho Hà Nội, một dàn thiết bị máy móc, làm cầu đường do Nhật chế và còn giúp một đơn vị công binh, tới tận Quảng Trị hướng dẫn công binh Bắc Việt, làm chiếc cầu dây treo Dakrong, nằm trên ngã tư Khe Sanh-Tchépone và đường mòn. Sau đó chính Fidel Castro tới tận chỗ để làm lễ khánh thành cầu, còn được hướng dẫn đi thăm Ðông Hà, mà Bắc Việt khoe là vùng giải phóng, từ sau trận Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972.

            Theo các tài liệu hiện hành của cả mọi phía, có trong thư viện và báo chí VC sau này, thì hệ thống đường mòn HCM, chạy dài từ Trung Lào tới Cam Bốt, sự thật là hoàn toàn nằm trên lãnh thổ Lào-Miên. Con đường này được xâm nhập vào lãnh thổ VNCH bằng năm nhánh rẽ với 21 trục giao liên, có chiều dài tính theo đường đất tổng cộng hơn 12.000 dặm Anh. Con đường được mang nhiều tên và chỉ có đọan trên lãnh thổ Bắc Việt, mới được gọi là đường Hồ Chí Minh. Riêng khúc đường chạy trong lãnh thổ Lào và Nam VN lại có nhiều tên như đường Thống Nhất, Dân Tộc Giải Phóng và Cách Mạng. Còn đoạn cuối trên đất Miên là đường mòn Sihanouk. Ðể bảo toàn bí mật, tất cả hàng hóa, quân dụng, vũ khí và bộ đội xuất phát từ ga Hàng Cỏ (Hà Nội) hay Vinh (Nghệ An), đều được đưa tới cửa ngõ Tân Kỳ (Nghệ An) hay Quán Trại (Ðức Tho-Hà Tĩnh), để vào Quảng Bình và Quảng Trị, rồi từ đó mới xuất tuyến xâm nhập vào Nam. Nhưng đường đi, dù ở trong lãnh thổ Bắc Việt, vẫn vô cùng nguy hiểm, vì bị phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc hằng ngày, nhất là tại thung lũng tử thần Ðồng Lộc. Ở đây, đường chạy giữa hai rặng núi cao, bên này là Rú Mòi, còn phía kia mang tên Sọ Voi. Ðây chính là cửa ngỏ đầu tiên, của đường mòn HCM, nối liền bắc VN tới lãnh thổ Lào. Từ đó đường mòn mang tên Trường Sơn Tây, tiếp tục tới Khâm Muôn (Lào), thì gặp Ðường 20 Quyết Thắng, từ Phọng Nhạ (Quảng Bình) sang. Khúc đường này dài hơn 127 km, chạy len lỏi giữa khu rừng già Kẽ Bàng và miền hoang địa Bulapha của Lào.

            Theo báo Aux Ecoutes du Monte, thì hải cảngVinh (Nghệ An), là yết hầu của đường mòn HCM, vì gần như mọi thứ đều xuất phát ở đây, để xâm nhập vào Nam. Cũng từ đây, đường được phân làm ba nhánh qua Lào, để tránh thiệt hại vì sự oanh tạc của máy bay Mỹ. Riêng tổng hành dinh của Ðoàn 559A, thì đóng rải rác trong khu tam giác các thị trấn Napé, Kamkeut,Kanmon.. nằm dọc theo con sông Nam Pao của Lào. Ðây là một quân chủng đặc biệt của cọng sản Bắc Việt, gồm công binh, vận tải, trách nhiệm bảo trì, sửa chữa con đường, đồng thời phân phối quản trị đoàn dân công, xe tải chuyển vận bộ đội, vũ khí, tiếp liệu từ bắc vào chiến trường miền Nam.

            Tại ngã ba Khâm Muôn, giao điểm của hai nhánh Quyết Thắng 20 và Tân Kỳ, đường mòn HCM, đi vào khu rừng già Hạ Lào, cặp kè với con sông Nam Cà Dinh, chạy tới đỉnh dốc đứng 1001 trên núi Răng Cọp. Từ đây đường mòn đổi tên thành Trường Sơn, sau khi vượt qua vĩ tuyến 17, để tới thị trấn Tchepone (Muang Xepon) nằm trên quốc lộ 9. Ðây cũng là phân nhánh đầu tiên của đường mòn Trường Sơn, xâm nhập lãnh thổ VNCH, để tấn công các căn cứ quân sự Lao Bảo, Khe Sanh, Làng Vei, Cà Lu.. trong tỉnh Quảng Trị. Sau đó, đường mòn vẫn tiếp tục chạy trên đất Lào tới núi Ấp Bia (937m), một địa danh nổi tiếng, trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai (1960-1975), được một ký giả ngoại quốc, chứng kiến tận mắt cảnh hàng ngàn xác bộ đội Bắc Việt, bị banh thây bỏ lại tại chiến trường, vì bom dạn phi pháo, nên đã đặt là Hambuger Hill. Tại đây, đường lại được phân nhánh tới các thung lũng A Lưới, Tà Bạt và A Shau. Ðậy là bàn đạp mà Hà Nội tập trung bộ đội, để tấn công Thừa Thiên và Ðà Nẳng. Sau khi vượt qua cao nguyên Boloven gần ngã ba biên giới Việt-Lào-Miên, đường mòn lại phân thành hai nhánh khác chạy vào lãnh thổ VNCH, một nhánh phát xuất từ Savarane tới Dakto, Tân Cảnh, Kontum.. trước khi ngang qua các trại Lực Lượng Ðặc Biệt Benhet, Dakto.. Nhánh khác từ Attopeu vào Pleiku, ngang qua Trại LLÐB Ðức Cơ, Pleime. Nằm giữa hai nhánh rẽ này vẫn trên đất Lào, là mật khu 609 của Bắc Việt. Kể từ đây, đường mòn Trường Sơn đổi thành đường mòn Sihanouk, với nhiều mật khu như 702,701,740, 203,351,350 và 400. Trên đất Miên, đường mòn có một nhánh rẽ vào Phước Long và phần cuối cùng chạy xuống tận hải cảng Kampong Som (Sihanouk Ville) của Miên. Chính tại đây, Bắc Việt nhận trực tiếp hàng hóa viện trợ của Nga,Tàu và Ðông Âu, tới năm 1970 mới chấm dứt, khi Sihanouk bị Lonnol lật đổ. Nhờ đó Hoa Kỳ và QLVNCH mới được phép hành quân sang đất Miên theo lời yêu câu của chính phủ mới, nên mối tiêu diệt gần như tất cả các mật khu của Bắc Việt tại đây, qua các cuộc hành quân Toàn Thắng và Cửu Long.

            Tóm lại suốt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ hai, ngoài số nạn nhân chết bởi bom đạn, giao tranh, phần lớn bộ đội, cán binh cọng sản miền bắc, được ghi nhận là ngã gục trên đường Trường Sơn, vì trăm ngàn nổi gian lao cực nhọc và bệnh tật, đó là chưa kể tới chết khi đụng trận, bị bom đạn oanh tạc, mìn bẩy. Hàng vạn nấm mồ hoang lạnh, được vùi lập vội vàng, trên con đường dài heo hút, chỉ một thời gian ngắn, đã biến thành phân mục, bón xanh thêm cây lá rừng hoang, như Trần Xuân Lợi, một bộ đội vượt tuyến đã viết :

“ Những hồi mưa ngớt
Tựa nghĩ gốc cây
Nhìn rừng không nói
Nhìn mây chẳng thấy
Chỉ có núi đèo
Kế nhau nối tiếp
Oại là khủng khiếp
Cho cảnh Trường Sơn ..”

Hay : “ Rải rác biên cương mồ viễn xứ, chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, áo bào thay chiếu anh về đất, sông nuí gầm vang khúc độc hành ố Quang Dũng “.Tất cả là sự thật, mà Ðại Tá Võ Ðại Tôn, tức nhà thơ Hoàng Phong Linh, trong cuộc Ðông Tiến bất thành, khi trở về VN để giải phóng quê hương sau năm 1975, đã ghi lại :

“ Ðỉnh núi cao mây vờn,
đá nghìn năm quên tuổi
ta lạc loài như dã thú không tên
qua Tchépone, Boloven
về Hạ Lào thăm thẳm
Atopeu đường xa muôn dặm
Rừng tây nguyên heo hút trong tim ..”

            Con đường có rất nhiều đoạn dài, xuyên giữa rừng già bất tận, phi cơ quan sát hay không ảnh cũng bó tay, ngoại trừ sự xâm nhập của các Toán Biệt Kích, thuộc binh chủng LLDB/VNCH.

            Ðể bảo vệ con đường chiến lược này, Bắc Việt thành lập Ðoàn 559A, gồm nhiều binh trạm, mỗi nơi có quân số tương đượng một trung đoàn tác chiến. Giữa hai khu vực, có các toán giao liên và các kho dã chiến. Vùng nào lo vùng nấy, không ai biết gì tới các khu vực lân cận. Tóm lại, Ðoàn 559A chỉ có trách nhiệm từ vĩ tuyến 17 đổ vào nam mà thôi. Riêng phía bên này vĩ tuyển ra tới Bắc Việt, bổn phận tái tạo và giữ tốt, các tuyến đường giao thông, tiếp vận cho chiến trường, được giao cho hàng vạn thanh niên nam nữ, trong ba tổng đội Thanh Niên Xung Phong. Do trên đã có không biết bao nhiêu người tuổi trẻ, phải gục chết giữa bom đạn, khi bị bắt buộc bám trụ tại chỗ, để mỗi lần phi cơ Mỹ oanh tạc vừa dứt, thì họ với sức người và cuốc xẻng, ào ra chiến trường, để lấp hố bom trên mặt đường vừa bị cầy nát. Bởi thế giao thông không bao giờ bị gián đoạn.

B - CÁN BINH, BỘ ÐỘI BẮC VIỆT TRÊN ÐƯỜNG MÒN HCM :


            Với mục đích lường gạt dư luận thế giới, đánh lận con đen, chối bỏ việc trắng trợn xâm lăng VNCH, nên cọng sản Bắc Việt lúc nào cũng tổ chức cuộc chuyển quân vào Nam, thật bí mật. Thêm vào đó là sự phụ họa rất ăn khớp nhịp nhàng của một số báo chí theo VC tại miền Nam, nên Hà Nội gần như đâm mù cả nhân loại, khiến ai cũng tin là cuộc chiến tại miền nam, là do chính người miền nam vì bất mãn chính phủ độc tài tàn bạo, nên nỗi loạn chống phá, chứ miền bắc không hề can dự. Thời gian đầu cuộc chiến, việc chuyển quân từ bắc vào nam, thật vô cùng khó khăn nguy hiểm. Vì thế chỉ có bộ binh vượt tuyến mà thôi. Còn vũ khí quân dụng, được chuyển vận bằng ghe thuyền tại tuyến đường 559B trên Ðông Hải, do Ðồng văn Cống phụ trách. Trước tết Mậu Thân 1968, bộ đội Bắc Việt vào Nam, được bồi dưỡng và huấn luyện trong thởi gian 8 tháng, với tiêu chuẩn 2 đồng 40 xu tiền Hồ/1 ngày. Trước khi lên đường “ sanh bắc tử nam”, các cán binh bộ đội được cấp 5 ngày phép về thăm gia đình. Vì chủ nghĩa xã hội miền bắc rất công bình, con trốn quân dịch, cha mẹ dù có già 100 tuổi vẫn phải đi thế, ngoài ra tất cả tem phiếu, sổ gia đình đều bị tịch thu. Nên trong một xứ mà tất cả nhu yếu phẩm đều phải bó buộc mua tại cửa hàng quốc doanh, chợ nhà nước, thì đâu có ai dám không đi lính, để vừa khổ thân lại làm liên lụy cho gia đình. Ở Bắc Việt, củng không có chùa, nhà thờ và trường đại học, nên cũng không có chế độ hoãn dịch vì tu xuất hay học hành. Còn du học hay xuất ngoại , thì chỉ dành ưu tiên cho con cái và gia đình cán bự cỡ tổng bộ trưởng và hàng trung ưởng đảng, nên sau khi hết phép, ai nấy đều trở lại để lên đường vào Nam theo lệnh đảng.

            Trên đường tiến quân còn trong lãnh thổ Bắc Việt, các đơn vị chính quy hành quân, vẫn sử dụng quân phục cố hữu bằng vải kaki Nam Ðịnh, với mũ bầu có bọc vải dầu, màu xanh lá cây. . Quân xa sẽ chở bộ đội tới Lào, qua một trong ba tuyến đường chiến lược, nối liền hai nhánh Trường Sơn Ðông và Tây, tại Ðồng Lộc (Hà Tĩnh), Phong Nhạ (Quảng Bình) và Vĩnh Linh (Quãng Trị), để tới biên giới VNCH. Tại đây, bộ đội cọng sản Bắc Việt, sẽ lột xác hoàn toàn thành người “ Giải Phóng Quân “ trong MTGPMN của Anh Tho., chi Bình, chị Ðịnh.Bến Tre lập ra. Tóm lại tất cả những gì có liên hệ tới cọng sản miền Bắc, đều phải hoàn trả hết cho cán bộ chính trị đơn vị. Từ đây bộ đội chính quy miền bắc là giải phóng quân miền nam, dù cả hai đều là đảng ta đó, nên phải mặc đồ bà ba đen, khăn rằn quàng cổ, mang dép râu, đội mũ tai bèo, y chang như VC tại Nam phần đã sắm tuồng từ năm 1960. Cả tới cờ hiệu, cũng phải dùng cờ MTGPMN, nửa xanh nửa đỏ giữa có sao vàng. Còn bài hát thì đã có bản “ Giải phóng miền nam “ của Nguyễn Minh Siêng tức Lưu Hữu Phước.

            Trước khi hiệp định Ba Lê 1973 ký kết, nhằm hợp thức hóa cũng như cho phép bộ đội chính quy Bắc Việt, được công khai đóng ngay trên lãnh thổ VNCH, thì sự di chuyển trên đường mòn HCM rất khó khăn nguy hiểm, kể cả các tuyến giao thông chiến lược, nối Bắc Việt với nhánh Trường Sơn Tây, nằm trong lãnh thổ Trung Lào, vì phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc ngày đêm liên tục. Nên chỉ riêng đoạn đường, từ điểm xuất phát đầu tiên tại Tân Kỳ (Nghệ An), tới thi trấn Tchepone (Hạ Lào), cũng phải mất từ 2 -3 tháng. Sau đó các đơn vị bộ đội chính quy miền bắc, được các toán giao liên hướng dẫn vượt tuyến và xâm nhập các trục vào lãnh thổ VNCH để hoạt động, tuỳ theo nhiệm vụ được đảng giao phó. Sau tháng 2-1973, không quân Hoa Kỳ chính thức rút khỏi cuộc chiến, còn VNCH thì không đủ phương tiện để ngăn chân, nên Bắc Việt gần như công khai hoạt động, không cần che đậy để lừa bịp dư luận như trước. Do trên, con đường mòn được tu bổ thành một xa lộ đất. Dọc đường, thiết lập nhiều khu dưỡng quân, bệnh xá, kho tiếp liệu. Song song là một hệ thống ống dẫn dầu, xăng cùng một đường dây điện thoại cao thế, do Liên Số và các nước Ðông Âu cung cấp viện trợ, bom dầu từ các tàu nhiên liệu cập bến ở Nghệ An. Tại các mật khu cũng như địa điểm trọng yếu, Bắc Việt cho bố trí một mạng lưới phòng không dầy đặc, với đủ loại súng đại bác do Nga Sô, Ðông Ðức viện trợ như súng cao xạ, hỏa tiễn loại 35 và 57 ly. Từ năm 1965 tới 1967, ước chừng 7000 bô đội chính quy xâm nhập miền Nam hằng tháng. Trong đợt tổng công kích Tết Mậu Thân 1968, quân số cọng sản Bắc Việt, có mặt tại lãnh thổ VNCH hơn 100.000 người. Ðể chuyên chở người, quân dụng và vũ khí vào Nam trên đường mòn Trường Sơn, Hà Nội đã huy động một số quân xa, từ 1250 -1700 chiếc. Những quân xa này đều do TRung Cộng, Liên Xô viện trợ, gồm các hiệu Zills, Molotova.. loại 130 bốn bánh và 157 sáu bánh, có trọng tải từ 4-6 tấn. Ngoài ra có một đoàn dân công khổng lồ, thi hành theo cái gọi là “ nghĩa vụ lao động “, từ 16-55 tuổi “, không phân biệt nam nữ, để giữ hộ khẩu và được sống yên trong chế độ công an khu vực. Hàng hóa phần lớn được chuyển vận vào Nam bằng sức người, xe đạp và voi.

            Sau tháng 5-1975 chiến tranh chấm dứt, có rất nhiều bí mật được bất mí, phần lớn nhằm làm sáng tỏ lý do thất bại của Quân Lực Ðồng Minh, Hoa Kỳ và VNCH trong cuộc chiến Ðông Dương, mà nỗ lực chính là ngăn chận và phá vỡ hệ thống đường mòn Trường Sơn, hành lang chính để cán binh bộ đội cọng sản Bắc Việt, xâm lăng Miền Nam. Ðồng thời phơi bày ra ánh sáng, thảm trạng “ Mạng người lá rụng “ vì đường đi không tới, của hằng trăm ngàn người “ sinh bắc tử nam “.Tất cả nạn nhân chiến tranh trên, chẳng có ai vì nhiệt tình cách mang, ngu để phải chết thảm thê vì đụng độ, máy bay oang tạc, hải pháo và bệnh tật không có thuốc men chửa trị. Và dù phía VNCH không đạt được chiến thắng cuối cùng nhưng rõ ràng Họ đã tiêu diệt và phá vỡ gần hết những mật khu quan trọng của Bắc Việt, trên đuờng mòn Trường Sơn, như 604 tại yết hầu Tchépone-Hạ Lào và 611 trong thung lũng Ashau, gồm nhiều binh trạm, hậu cần, ống dẫn dầu cùng các tổng kho tiếp tế. Tác giả Lane Rogers cũng là Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, từng tham dự nhiều trận chiến trên đường mòn, đã viết :” Ðể bảo vệ và hoạt động được liên tục trên hành lang chuyển quân, Bắc Bộ Phủ đã thí quân một cách vô nhân đạo. Ðó là lý do nhiều lần con đường chính và năm nhánh rẽ vào Nam VN, tưởng như đã bị phá vỡ hoàn toàn. Nhưng rồi đoàn kiến người cũng tìm đủ mọi ngõ ngách khác để xâm lăng miền Nam. Riêng Thống Tướng Westmoreland,cựu Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ và Ðồng Minh, chiến đấu tại VN, thì giải thích lý do thất bại của Mỹ, trong nỗ lực hủy diệt con đường này, phần lớn do trở ngại thiên nhiên,là chốn ma thiêng nước độc, gây sự sợ hãi chết chóc nhiều nhất trên thế giới.

3 - Máu Ðẵm Trường Sơn (1960-1975) :

            Hai mươi năm chiên cuộc VN, đã cướp mất đi hằng triệu thanh niên nam nữ hai miền đất nước, cũng như đồng bào vô tội. Sự tủi nhục và đau lòng nhất, riêng chỉ có kẽ trong cuộc và dân chúng xã nghĩa Bắc Việt mới hiểu thấu. Riêng người miền Nam sống tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế, Cần Thơ.. gần hết chỉ hiểu một cách đại khái, mù mờ, qua tài liệu, báo chí và sự tuyên truyền của cả hai phía. Họ đâu có bao giờ biết rằng, trong suốt cuộc chiến, Bắc Việt, Hoa Kỳ và QLVNCH, đã dành giựt từng thước đất trên đỉnh Trường Sơn, vì một bên thì quyết lòng dùng máu xương người để xây huyết lộ, còn phía bên kia cũng lấy mạng sống, bom để phá hủycho tận tuyệt. Nói chung cả hai phía đều sử dụng tối đa mạng sống con người Việt, qua các khẩu hiệu hào nhoáng nhưng mặt thật, cũng chỉ để phục vụ cho quyền lợi riêng tư của họ mà thôi.
           
A-VỀ PHIÁ CỌNG SẢN BẮC VIỆT :

            Sau khi Thủ Tướng Liên Xô Nikita Khrowshchev, phát pháo mở màn cuộc chiến giải phóng toàn cầu vào ngày 6-1-1961, cũng là thời gian khởi đầu cho tới ngày 30-4-1975, Bắc Việt xâm lăng cưỡng chiếm VNCH. Ngoại trừ các chóp bu ngồi tại Bắc Bộ Phủ, không ai có thể biết rõ, đã có bao nhiêu cán binh, dân công và thanh niên xung phong đã bị thương vong vì cuộc chiến. Phần thì cọng sản quen bưng bít sự thật, hơn nửa trong chủ nghĩa thiên đàng, không có chế độ thương binh ngoài mặt trận. Nên tất cả những điều Ðảng tuyên bố, gần như là tuyên truyền láo bịp, nên sự thật đâu biết sao mà mò ? Nhưng chắc chắn có điều, gần hết các trận đánh khốc liệt , đều xảy ra trên hành lang chiến lược Trường Sơn, từ sự hủy diệt bằng bom mìn, hàng rào điện tử, chiến tranh khí tượng, thuốc khai quang, không quân cho tới những đụng độ trực tiếp giữa Bắc Việt với Hoa Kỳ và VNCH, mà cao điểm là cuộc hành quân Lam Sơn 719, tại Hạ Lào-1971.

            Trên lãnh thổ Bắc Việt, trực diện với bom đạn hằng ngày, là những nam nữ thanh niên, trong các Tổng Ðội Thanh Niên Xung Phong. Nhiều người đã bị chết một cách oan khiên tức tưởi, tại ngã ba Ðồng Lộc (Hà Tĩnh), Ðường 20 Quyết Thắng (Quảng Bình), Hưng Hóa (Quảng Trị ).khi bị bắt buộc thi hành các công tác hiểm nguy như giao liên đơn độc giữa rừng núi muôn trùng, làm mốc hướng dẫn đoàn xe đến các địa điểm tránh bom Mỹ.. Trong muôn ngàn thảm kịch, được đưa lên phim quảng cáo, vẫn thảm nhất là cái chết của 10 cô gái TNXP, thuộc Tiểu Ðội 4/Tổng Ðội 53 ố Hà Tĩnh, bị bom đánh sập, chôn sống tập thể tại Ngã Ba Ðồng Lộc, vào sáng ngày 24-7-1968. Hoặc chuyện bốn cặp TNXP và công binh, cũng bị chết ngạt trong một cái hang núi tại Kẽ Bàng (Quảng Bình).. Nhưng đây cũng chỉ là một trong hằng triệu cái chết vô danh của phận người xấu số trong chiến tranh, nếu đem so sánh với những cái chết khác tại các tuyến đường rẽ vào lãnh thổ VNCH.

            Không kể đến sự đụng độ thường xuyên giữa các Toán Biệt Kích Quân cảm tử, thuộc Binh chủng LLDB/VNCH và cán binh Bắc Việt, trên mọi ngõ ngách của đường mòn Trường Sơn, ngay cả trong lãnh thổạ Bắc Việt. Kể từ năm 1965 tới khi có Hiệp định Ba Lê 1973, đã có không biết bao nhiêu trận đánh lớn giữa cọng sản miền bắc và quân lực Ðồng Minh, Hoa Kỳ cũng như QLVNCH. Ðiển hình như các trận PLEIME -1965, giữa Toán A217 biệt kích Mỹ-Việt, TÐ91BCD/LLDB, TD1/TrD45/SD23BB, TD21+22/BDQ,Chi Ðoàn 3 Thiết kỵ/VNCH với 3 Trung Ðoàn 32,33,66 cong sản Bắc Việt. Ngày 27-10-1965, SD1kỵ binh không vận Hoa Kỳ, hành quân tại thung lủng IA-DRANG, Pleiku, bẻ gãy âm mưu tập trung của 3 SD Bắc Việt, nhằm chia cắt VNCH thành hai mãnh. Tháng 12-1965, Bắc Việt lại tấn công 2 Trại LLDB .Tà Bạt, A Lưới (Thừa Thiên), một trận đụng độ đẵm máu giữa cọng và Mỹ+VNCH tại căn cừ Ashau, một tiền đồn ngăn chận cán binh Hà Nội, tràn xuống miền duyên hải.

            Mùa thu năm 1967, Bắc Việt tấn công đồng loạt nhiều tiền đồn VNCH trên đường rẽ vào Chiến khu C (Phước-Bình Long) cũng như Kontum, vì 2 khu vực này là cửa ngõ chiến lược quan trọng nhất trên hành lang xâm lăng VNCH của cọng sản Bắc Việt. Ðể giải tỏa áp lực tại Tiền đồn Dakto, 16 tiểu đoàn thuộc SD4BB +SD.Dù/Hoa Kỳ và Lực lượng Nhảy Dù VN, đã ác chiến với 1 SD.Bắc Việt, thương vong hai phía rất nặng.

            Trên QL9 từ Hạ Lào vào Quảng Trị, có Tiền Ðồn Khe Sanh là căn cứ của Biệt kích quân VNCH, thành lập từ tháng 7-1962. Ðây cũng là điểm xuất phát các Phi Vụ Tiger Hound rải quân xâm nhập đường mòn HCM. Như các căn cứ Cồn Tiên, Gio Linh, Caroll, Cam Lộ.. Khe Sanh là các tiền đồn, đối diện với vùng biên giới phía bắc khu phi quân sự vỹ tuyến 17 lãnh thổ Bắc Việt. Bởi vậy cọng sản luôn tìm mọi cách tiêu diệt cái gai nhọn Khe Sanh, đâm vào yết hầu đường mòn Trường Sơn. Cuối năm1967, trưóc khi mở màn cuộc tấn công đẫm máu Tết Mậu Thân 1968, Võ Nguyên Giáp đã mở một mặt trận Ðiện Biên Phủ thứ 2 tại thung lũng Khe Sanh, với ý muốn dụ quân Mỹ vào rọ để tiêu diệt như đã từng xảy ra vào năm 1954 trên đất bắc. Nhưng Giáp đã tính toán sai, vì Hoa Kỳ mạnh hơn Pháp cả 100 lần, lại có một lực lượng hải pháo không quân hùng hậu, nên cuối cùng Bắc Việt phải chém vè về Hạ L2o, bỏ lại tại Khe Sanh hơn 20.000 xác bộ đội, tỷ lệ 90% quân số tham dự trận chiến. Cũng tại đây, ngoài quân Mỹ, còn có một đơn vị VNCH duy nhất được tăng phái, đó là TD37 Biệt Ðộng Quân. Ðơn vị này dù quân số ít ỏi, lại bị nằm tiền đồn nhưng suốt thời gian chiến cuộc, đã giữ vững được phòng tuyến phía nam của căn cứ Khe Sanh, qua nhiều đợt tấn công biển người của SD304 Bắc Việt.

            Trong cuộc tổn công kích Tết Mậu Thân 1968, cọng sản thất bại hoàn toàn trên chiến trường, nên hầu hết tàn binh đều rút về phía bên kia biên giới Việt-Miên-Lào, trên đường mòn Trường Sơn. Phía VNCH và Hoa Kỳ đã mở nhiều cuộc hành quân truy quét. Tại Vùng 1 chiến thuật, ngày 16-4-1968 SD1ky binh Mỹ + TrD3/SD1BB/VN hành quân Lam Sơn 216-Dela Ware tảo thanh vùng A Lưới. Kế tiếp hành quân Sonerset Plain Lam Sơn 246 của SD101Dù Mỹ + TrD1/SD1BB/VN tại vùng A Lưới, Tà Bạt và mật khu 609. Ðầu năm 1969, SD101Dù + TrÐ9/TQLC/HK + TrD3/SD1BB/VN tảo thanh thung lũng A Shau. Vùng này có một ngọn núi cao trên 1000m, nằm ngay biên giới Lào-Việt, như một bình phong án ngữ các căn cứ A Lưới, Tà Bạt, A Sha. Một trận đụng độ kinh khiếp đã xảy ra tại đây giữa hai phía. Cùng tham chiến, không quân, pháo binh và các pháo đài bay B52, đã giội xuống chiến trường hơn một triệu cân Anh bom các loại, trong số này có 152.000 cân Anh bom lửa, khiến cho đồi núi, cỏ cây, rừng xanh và xác cán binh bộ đội cọng sản Bắc Việt bỏ lại khi chém vè, đều biến thành tro bụi. Cảm thương cho số phận con người vì tem phiếu, hộ khẩu, mà phải sinh bắc tử nam, nên một ký giả Mỹ có mặt tại trận địa, viết bài trên báo, đã ví von đặt tên núi Ấp Bia là Hamburger Hill. Sau này, báo chí VC hãnh diện tuyên truyền với thế giới, vì Mỹ chết nhiều quá, nên mới có cái tên ngộ nghĩnh trên.

            Nhưng một biến cố cực kỳ quan trọng trên, gần như làm đảo lộn chiến lược xâm lăng miền nam của Bắc Việt, cũng như chiến thắng gần kề của VNCH, nếu như Nixon-Kissinger không bán đứng Miền Nam cho Bắc Việt, qua cai gọi là Hiệp định Ba Lê 1973. Ðó là cuộc chính biến trên đất Miên vào năm 1970. Ai cũng biết Kampuchia từ năm 1960, là hậu cứ an toàn của cọng sản Bắc Việt, để nhận trực tiếp hàng hóa quân dụng viện trợ của các nước XHCN, tại hải cảng Sihanouk Ville nằm trong vịnh Thái Lan. Ðây cũng là tổng hành dinh của Cục R, đầu não chỉ huy của đảng bộ cọng sản miền nam, qua ngụy danh MTGPMN. Ngày 18-3-1970, Lonnol lật đổ Sihanouk và theo Mỹ. Quân Miên cũng được lệnh tấn công các mật khu của Bắc Việt trên đất Miên. Chiến tranh đã nổ toàn diện trên đất chùa Tháp. Liên quân Khmer Ðỏ của Polpot và VC phản công và bao vây thủ đô Nam Vang, đồng thời người Miên qua sự xúi ngầm của tân chính phủ Lonnol, đã đồng loạt “ CÁP DUỒNG “ Việt Kiều khắp nơi, gây thảm trạng thương đau cho hằng vạn người dân vô tội, bị vạ lây do Bắc Việt gây ra từ mấy năm trước.

            Ðể cưú đồng bào về nước, đồng thời mượn dịp thanh toán các căn cứ địa và cục R tại biên giới Việt-Miên, theo yêu cầu của Lonnol. Do trên,QLVNCH đã tổ chức cac cuộc hành quân rất qui mô, mang tên Toàn Thắng 41,42,43 do QD3 đảm trách. Song xong QD2 cũng hành quân Bình Tây và QD4 có hành quân Cưu Long. Trừ cuộc hành quân Toàn Thắng 43, do lưc lượng hỗn hợp Việt-Mỹ, gồm SD1 Không vận Hoa Kỳ + Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù và Thiết Ðoàn 2 kỵ binh/VN. Tất cả các cuộc hành quân khác, đều đo QLVNCH đảm trách, đã giúp Lonnol chiếm lại thủ đo Nam Vang, hải cảng Sihanouk Ville, đồng thời phá vỡ gần như toàn diện các mật khu của VC, trong đó có Trung Ương Cục R. Trên biển Ðông, Hải quân Mỹ còn tổ chức cuộc Hành quân Market Timer, để truy đuổi các tàu thuyền của Bắc Việt, trong việc chuyển vận quân trang dụng vào Nam, bằng tuyến đường biển 559B.

            Ðể cứu sống đoàn quân xâm lăng đông đảo, đang có mặt ở miền nam, trong lúc các căn cứ tiếp vận tại Miên vừa bị phá hủy, nên cọng sản Bắc Việt đã gia tăng quân lực, bằng mọi giá giữ vững cho được Huyết lộ HCM trên đất Lào, mà trọng điểm là Thị trấn hoang tàn Tchépone. Ðây cũng lý do mà QLVNCH đã mở cuộc Hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào năm 1971, một trận chiếm đẫm máu nhất trong Ðông Dương thế chiến 2 (1960-1975). Phía VNCH có 17.000 quân tham dự, gồm các SD Nhảy Dù, SD TQLC, SD1BB, Liên Ðoàn 1BDQ và Lữ Ðoàn 1 Thiết Giáp. Về phía cọng sản Bắc Việt có Quân Ðoàn 70B, các SD2, 304,308, SD phòng không.. Quân Mỹ chỉ đóng bên kia biên giới, yểm trợ không vận, hải pháo, pháo binh.. Cuộc hành quân kết thúc ngày 25-4-1971 sau khi Trung Ðoàn2/SD1BB/VNCH tiến vào thị trấn Tchépone. Dù bị thiệt hại rất nặng nhưng QLVNCH đã phần nào đạt được mục tiêu chiên lược, là phá hủy hoàn toàn nhiều căn cứ tiếp liệu của Bắc Việt, tại mật khu 609 và 611 trên đường mòn HCM.

B-VỀ PHÍA VNCH :

            Trong suốt cuộc chiến, hầu như tất cả mọi binh chủng của QLVNCH đều có mặt tại đường mòn Trường Sơn, kể cả Cảnh Sát Dã Chiến, Xây Dựng Nông thôn, DPQ+NQ.. Tuy nhiên đã có một Binh Chủng Ðặc Biệt, từ ngày thành lâp vào năm 1957, tới khi rã ngũ tan hàng, đã đơn độc hoạt động âm thầm trong lòng địch , trên suốt đường mòn HCM từ đông sang tây, ngay cả trong lãnh thổ của Miên và Lào. Họ là những chiến sĩ “ BIỆT KI’CH-BIỆT CÁCH “, không có sự yểm trợ nào của đơn vị bạn và hoàn toàn tụ lực cánh sinh để mà sống trong núi rừng, nhiều nơi chưa hề có dấu chân người.

            Binh chủng LLDB có cấp số sư đoàn, bao gồm các đơn vị như Sở liên lạc, Sở công tác, Sở khai thác địa hình, các liên đoàn tác chiến 31, 77, 81 Biệt cách nhảy dù và Trung tâm Huấn luyện LLDB.Ðông Ba Thìn tại Cam Lâm-Khánh Hòa.

            Như Kinh Kha ngày xưa, các chiến sĩ Biệt Kích ra đi ít khi được trở về. Một số ít đã bị bắt tại Bắc Việt và chịu kiếp tội đồ, tới nay nhiều người vẫn còn chưa được thả. Vì họ chính là kẻ thù không đội trời chung và cũng là khắc tinh của cọng sản, trên suốt đường mòn. Tóm lại nơi nào có VC thì nơi đó có LLDB. Hai bên đã trường kỳ đấu trí trong suốt cuộc chiến , qua đủ mọi hình thức. Nhưng vì lý do bảo mật, nên cả hai phía, đều không muốn nhắc tới.

C-VỀ PHÍA HOA KỲ :

            Từ năm 1961, Lào trở thành một quốc gia trung lập, nên chính phủ Mỹ đã bị Quốc Hội, nhất là tên thượng nghị sĩ đảng dân chủ thân cộng William Fullbright và cái gọi là ủy ban ngoại giao, tìm đủ mọi cách ngăn chận cấm đoán quân Mỹ can thiệp vào đất Lào. Trong lúc đó, cọng sản Bắc Việt không hề đếm xỉa tới cái gọi là hiệp định Genève 1961, tự tác mở con đường Tây Trường Sơn ngay trên đất Lào, để làm hành lang chuyển quân và tiếp vận xâm lăng miền nam. Cũng do Quốc Hội trói buộc, nên từ đời TT Kennedy cho tới Johnson, cả hai đều dè dặt trong quyết định dùng vũ lực tiêu diệt, ngăn chận sự xâm nhập của cán binh bộ đội, trên đường mòn HCM

            Vì không thể sử dụng bộ binh, để tránh né khỏi bị công luận thế giới và quốc hội chỉ trích, người Mỹ đã dùng các phương tiện chiến tranh khác như oanh tạc, khai quang và dùng hàng rào điện tử. Ngay cả việc sử dụng không quân để oanh tạc cũng vô cùng bí mật, lúc đầu đều do các phi công thuê của Thái Lan, Ðài Loan đảm trách. Về sau vì Bắc Việt đã được Liên Xô giúp thiết trí một mạng lưới phòng không dày đặc, với đủ các loại đại bác, hỏa tiễn tối tân 35,57 ly .. làm nhiều thám thính cơ bị bắn hạ. Vì vậy để thích ứng với hoàn cảnh, Hoa Kỳ quyết định xử dụng những phi cơ oanh tạc Thunderchiefs từ Thái Lan, cùng các phi cơ F105, pháo đài bay B52.từ căn cứ Guam, cũng như các Hàng Không Mẫu Hạm bỏ neo trên Thái Bình Dương, để oanh tạc liên tục con đường mòn HCM, trên đất Bắc, Lào-Miên và trong lãnh thổ VNCH. Riêng chủ trương của Tướng Westmoreland, tư lệnh các lực lượng Mỹ và Ðồng Minh tham chiến tại VN, thì luôn muốn dùng bộ binh, để cắt đứt đường mòn HCM ngay trên đất Lào. Nhưng ông đã bị Quốc Hội Mỹ chống đối kịch liệt vì sợ vi phạm hiệp định Geneve 1961. Ngoài ra Mỹ cũng luôn lo sợ va chạm quân sự với Trung Cộng, khi tung quân vào Lào để hủy diệt con đường chiến lược HCM. Ðây cũng là những bí ẩn trong cuộc chiến VN mới được bật mí. Năm 1968 kế hoạch vượt biên đánh sang Lào để hủy diệt đường mòn HCM, mang tên EL-PASO sắp được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn, thì xảy ra trận Tết Mậu Thân 1968 nên chiến dịch trên đã bị hủy diệt.

           
            12 giờ trưa ngày 30-4-1975, nhờ Tổng thống Dương văn Minh với quyền hạn của Vị Tổng Tư lệnh tối cao, ra lệnh cho QLVNCH lúc đó đang còn chiến đấu khắp các mặt trận, buông súng đầu hàng giặc. Nhờ vậy mà đoàn xe tăng của Liên Xô, chở quân cọng sản Bắc Việt, mới bon bon chạy được trên đoạn chót của đường mòn HCM, là đại lộ Thống Nhất-Sài Gòn, rồi ủi sập hai cổng sắt để vào dinh Ðộc Lập, trống trơn không có phòng thủ, lính gác.

            Sài Gòn hai mươi năm dưới chế độ VNCH, gần như lúc nào cũng có biểu tình. Thế nhưng trong ngày “ vinh quang của đảng-bác “, một cơ hội vàng ròng để người miền nam tha hồ xuống đường hoan hô hòa bình, ăn mừng.Tuy nhiên mọi điều xảy ra lại hoàn toàn trái ngược, chứng tỏ người miền nam không phải ai cũng hồ hởi tin hay thân cộng, như một số báo chí thời đó đã xướng. Theo hằng trăm nhà báo ngoại quốc có mặt hôm đó, trong số này có nhiều người thân cộng, cho biết : “ trưa 30-4-1975, khi quân Bắc Việt vào Sài Gòn, đã không có cảnh người thủ đô hàng hàng lớp lớp, túa ra đường, miệng la cờ phất.. như họ từng làm qua nhiều biến cố trong quá khứ. “.Nói chung chỉ có cán bộ đảng và SD304 khăn đỏ tân lập ra chào đón quân ta về, còn dân chúng Sài đô lớp thì chạy trối chết theo chân Mỹ đi ngoại quốc, số khác lo chôm đồ .. nên có ai rãnh để mà biểu tình, xuống đường như đảng mong đợi.

            Sau đó Hà Nội cho thu lượm hài cốt cán binh bộ đội đã chết trên đường mòn, tập trung làm nghĩa trang Trường Sơn, tại xã Gio An, quận Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Còn Tỉnh Uỷ Bình-Trị-Thiên thì tổ chức tour du lịch, để du khách trong và ngoài nước tới thăm mấy cái xác xe tăng Mỹ, cây cầu treo Dakrong do công binh Cu Ba làm tặng và đồi Hambuger Hill.. Riêng đường Trường Sơn tây thì bỏ hoang hoàn toàn và mới đây Lào cho phép Trung Cộng trùng tu, nối liền xa lộ Vân-Nam-Bắc Trung Lào mà tương lai con đường này sẽ thông tới hải cảng Kompong Som của Kampuchia, như năm xưa Bắc Việt đã làm.

            Nay ngồi ngẫm nghĩ , mới thấy nhà văn Xuân Vũ viết “ Ðường đi tới mà không tới “ là đúng sự thật. Bổng thương nhớ biết bao cho bạn bè trong QLVNCH, đã ngã gục ;

            ‘ trăng chiến khu não nùng sầu vạn kỹ
            núi nghìn năm quên tuổi đứng cô đơn
            đoàn quân xưa hào khí ngút mây vờn
            trời quái ác làm vỡ tan tận tuyệt
            .. đây còn có nhiều bạn bè Phan Thiết
            đã vùi thây trong rừng lạnh tây nguyên
            họ bây giờ là những cánh chim đơn
            hót ảo não nơi lũng đèo khe núi.. ’ ’
           
           


Xóm Cồn Hạ Uy Di
Cuối Năm 2013
Mường Giang