Sunday, August 8, 2021

CAO NGUYÊN THÁNG BA 1975

       Vào những tháng cuối của năm 1974, tình hình trên quân đoàn II bắt đầu sôi động, địch quân gia tăng áp lực để chuẩn bị cho những trận đánh lớn sắp đến. Đặc biệt trên vùng này chỉ có hai sư đoàn bộ binh, sư đoàn 22 bảo vệ các tỉnh miền duyên hải, Bình Định, Phú Yên. Sư đoàn 23 chịu trách nhiệm trên vùng cao nguyên, Ban Mê Thuột, Pleiku, v.v...  Tuy nhiên bộ tư lệnh quân đoàn còn có năm liên đoàn Biệt Động Quân, sau đó được bộ Tổng Tham Mưu tăng cường thêm hai liên đoàn 4 và 6 (Tổng Trừ Bị).

      Hai liên đoàn này khi ra đến quân khu II, được tăng phái cho sư đoàn 22 bộ binh, hành quân tại mặt trận Tam Quan, Bng Sơn, phía bắc tỉnh Bình Định. Đến gần cuối năm 74, lo ngại cho mặt trận trên vùng cao nguyên sắp bùng nổ, bộ tư lệnh quân đoàn ra lệnh cho hai liên đoàn Biệt Động Quân 4 và 6 quay trở lại vùng cao nguyên để phòng thủ. Trước khi mặt trận Ban Mê Thuột bắt đầu, các đơn vị Biệt Động Quân trên quân đoàn II được phối trí như sau.

   - Bộ chỉ huy BĐQ/QK II dời lên trên Kontum gọi là bộ tư lệnh chiến trường Kontum.  

   - Liên đoàn 4 BĐQ: Tiểu-đoàn 44 đóng quân gần Pleiku làm thành phần trừ bị. Tiểu đoàn 42

đóng tại Plei Bau Can trên quốc lộ 19, phía đông quốc lộ 14. Tiểu đoàn 43 nằm với bộ tư lệnh sư đoàn 23 BB trong căn cứ Hàm Rồng.

   - Liên đoàn 6 BĐQ: Hai tiểu đoàn 34 và 35 nằm giữ phía đông và đông bắc thành phố Kontum. Tiểu-đoàn 51 tăng phái cho liên đoàn 25 BĐQ trong qun Thanh An, tỉnh Pleiku.

   - Liên đoàn 21 BĐQ: Tiểu đoàn 96 nằm giữ đèo Chu Pao giữa Pleiku và Kontum. Tiểu đoàn 72  nằm trừ bị trong Kontum. Tiểu đoàn 89 tăng phái cho liên đoàn 6 giữ mặt đông nam thành phố Kontum.

   - Liên đoàn 22 BĐQ: Tiểu đoàn 95 đóng tại làng Trung Nghiã phiá tây Kontum. Tiểu đoàn 88  đóng trên núi Ngok Bay tây bắc Kontum và tiểu đoàn 62 đóng quân trong Ngô Trang.

   - Liên đoàn 23 BĐQ: Ba tiểu đoàn 11, 22, 23 đóng quân trên phiá bắc Kontum, dọc theo quốc  lộ 14.

   - Liên đoàn 24 BĐQ: Tiểu đoàn 63 đóng tại Gia Nghiã. Tiểu đoàn 81 đóng quân về phiá nam Kiến Đức. Tiểu đoàn 82 đóng tại Kiến Đức thuộc tỉnh Quảng Đức.

   - Liên đoàn 25 BĐQ: Cả ba tiểu đoàn 67, 76 và 90 nằm trong quận Thanh An tỉnh Pleiku.

        Tóm lại, trước khi mặt trận phiá nam cao nguyên (Ban Mê Thuột, Quảng Đức) bùng nổ, trên Kontum, tỉnh xa nhất trên vùng cao nguyên có gần bốn (4) liên đoàn Biệt Động Quân: 21, 22, 23 và 6. Liên đoàn 24 đã được điều động về bảo vệ tỉnh Quảng Đức nơi phiá nam Ban Mê Thuột. Trong tỉnh Pleiku có hai liên đoàn 4 và 25 Biệt Động Quân.

        Khoảng đầu tháng ba năm 1975, liên đoàn 22 được (biệt phái hành quân) một phi cơ quan sát L-19 bay bao vùng (khu vực hành quân của liên đoàn). Đến gần buổi trưa, bỗng nhiên viên phi công L-19 gọi trung tâm hành quân liên đoàn (22) thông báo “được lệnh bay về Pleiku (ra khỏi hệ thống chỉ huy của liên đoàn BĐQ)” (Thường sĩ quan [ban 3] trực TTHQ sẽ yêu cầu L-19 nán lại một chút để trình lên cấp chỉ huy [Liên đoàn trưởng và trưởng ban 3]… ‘Quân đoàn cho mình xử dụng… bây giờ họ đòi lại, mình phải để chiếc L-19 bay về’). Vài ngày sau, tôi được ra phố chơi, thăm hai người bạn làm nghề dậy học ở Kontum, và được đưa đi ăn cơm trưa (hai ông nhà giáo độc thân, xa nhà, ăn cơm tháng). Hôm đó, bàn bên cạnh có mấy ông phi công trực thăng cũng đang ăn cơm, tôi hỏi thăm và được biết, chiếc L-19 bay bao vùng cho đơn vị tôi mấy hôm trước, thay vì về Pleiku, được lệnh bay thẳng về hướng Ban Mê Thuột điều động các phi tuần phản lực A-37 bắn phá, thả bom đoàn xe chở quân của quân đội Bắc Việt. Hai ông phi công trực thăng nói thêm “mình bắn cháy được khoảng 80 chiếc Molotova của địch!”  

        (Sau này tìm tài liệu nghiên cứu thêm, đó là đoàn xe Molotova chở quân sư đoàn 10 (F10) quân đội Bắc Việt di chuyển từ phiá bắc Kontum, xuống phiá nam Ban Mê Thuột, chuẩn bị đánh quận Đc Lập tỉnh Quảng Đức, cắt quốc lộ 14 nơi hướng nam, cô lập thị xã Ban Mê Thuột. Sư đoàn 320 sẽ di chuyển vào vị trí cắt quốc lộ 14 nơi hướng bắc. Mũi dùi chính đánh vào thị xã Ban Mê Thuột sẽ do sư đoàn 316 (từ miền Bắc vào) đảm trách, được sư đoàn 10 trợ lực. vđh)

        QLVNCH đã khám phá cuộc chuyển quân của địch (sư đoàn 10), ra tay làm cú ngoạn mục bắn cháy 80 xe chở quân Molotova của địch, nhưng đỡ không nổi với ba sư đoàn chính quy Bắc Việt: 320, 316, 10 cùng với hai trung đoàn biệt lập, trung đoàn 25 cắt quốc lộ 21 từ Ban Mê Thuột đi Nha Trang, trung đoàn 95 cùng với sư đoàn 3 Sao Vàng cắt quốc lộ 19 Pleiku – Qui Nhơn. Ban Mê Thuột mất khoảng ngày 10, 11 tháng Ba, bộ tư lệnh quân đoàn II rút liên đoàn 21/BĐQ ra khỏi Kontum đưa về đánh giải tỏa Ban Mê Thuột (liên đoàn 21/BĐQ sau trận Ban Mê Thuột về đến TTHL/BĐQ Dục Mỹ, được bổ sung đưa ra phòng tuyến Khánh Dương và một tiểu đoàn ra Tuy Hòa.)

Sau khi liên đoàn 21/BĐQ rút đi, trên Kontum còn ba liên đoàn BĐQ: 22, 23 và liên đoàn 6. Ngày 14 tháng Ba, Tướng Phú, tư lệnh quân đoàn II bay ra Cam Ranh họp với Tổng Thống Thiệu, Đại Tướng Viên, Đại Tướng Khiêm và Trung Tướng Quang. Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho Tướng Phú đem tất cả các đơn vị “chủ lực” về Nha Trang (để phản công, tái chiếm Ban Mê Thuột? Trên vùng cao nguyên lúc đó sư đoàn 23/BB vẫn còn hai trung đoàn 44 và 45, các liên đoàn BĐQ, lữ đoàn 2 Kỵ Binh… Địa Phương Quân các tiểu khu không được lệnh di tản.)

Để chuẩn bị cho việc di tản, liên đoàn 6/BĐQ được lệnh rút về Pleiku, trên Kontum còn lại hai liên đoàn 22 và 23/BĐQ (liên đoàn 6/BĐQ là đơn vị BĐQ tổng trừ bị trực thuộc bộ Tổng Tham Mưu [4, 6, 7]. Liên đoàn này đi đầu đoàn quân di tản, bảo vệ Công Binh sửa đường, làm cầu). Một hai ngày sau, đến phiên liên đoàn 23/BĐQ rút đi, Kontum chỉ còn liên đoàn 22/BĐQ cô đơn, là đơn vị chủ lực quân duy nhất, cùng với các tiểu đoàn điạ phương quân. Liên đoàn 23/BĐQ (liên đoàn 2 cũ, liên đoàn chủ lực của quân đoàn II) có định mệnh riêng, tôi có mấy người bạn cùng khóa ở đơn vị này. Trên đường di tản, gặp lại bạn chỉ biết đưa tay vẫy mấy cái như chào từ biệt… mạng ai nấy lo… trời gọi ai, người đó dạ! (1)

Trong b chỉ huy hành quân liên đoàn 22/BĐQ, mọi sinh hoạt có bề ngoài bình thường. Có lần, trong bữa cơm chiều (sĩ quan ăn cơm chung), có người nêu lên vấn đề (câu hỏi) “Các liên đoàn BĐQ bạn đã rút đi hết (ra khỏi Kontum về Pleiku), khi nào mới đến đơn vị mình (LĐ22/BĐQ)?” Không một ai có câu trả lời! (hình như có ai đó nói “Không lẽ họ (cấp cao hơn) để mình lại làm con chốt thí!”).

Riêng bản thân tôi “kẹt” hơn nữa, có hai người bạn học cũ đang dậy học trên Kontum. Căn nhà hai ông bạn thuê trở thành “hậu trạm” cho đám BĐQ, đặc biệt mấy sĩ quan trẻ cùng lứa thuộc đại đội 22 Trinh Sát (thường đóng quân bảo vệ BCH/HQ của liên đoàn), đôi khi những người lính cũ tiểu đoàn 95/BĐQ có dịp ra phố đến nhà mấy ông thầy giáo tìm tôi… nhờ vậy hai ông bạn này thoát chết trong những ngày sắp tới, về đến Saigon an lành.

Cuối cùng liên đoàn 22/BĐQ cũng nhận được lệnh rút ra khỏi Kontum. Lệnh cho liên đoàn rất khẩn cấp, không đầy 24 tiếng đồng hồ, cả liên đoàn phải di chuyển. Tất cả các toán tiếp liệu (liên đoàn, ba tiểu đoàn, đại đội trinh sát BĐQ, pháo đội (ĐĐ Pháo Binh BĐQ) phải đem vào vùng hành quân thực phẩm, thêm một cấp số đạn cho tất cả quân nhân trong đơn vị trực thuộc, và phải tiếp tục kể cả khi trời đã tối. (chuyện các toán tiếp liệu ra chợ Kontum thu mua thực phẩm làm cho người dân, kể cả các làng Thượng gần thành phố báo động).

Trong bộ chỉ huy hành quân liên đoàn 22/BĐQ có Th/Úy Trần Thiện Danh K4/72 Thủ Đức và tôi làm việc trong Trung Tâm Hành Quân dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Th/Tá Phước trưởng ban 3. Tôi và Danh rất thân, đi lính cùng lúc (K6/72 là khóa 4/72 rớt lại), cùng gốc tiểu đoàn 95/BĐQ, nên cũng “thân” luôn với hai ông thầy giáo.

Sáng sớm hôm sau, tôi ra phố sớm lại nhà hai ông thầy giáo nói họ chuẩn bị hành trang, những gì gọn gàng có thể đem theo… Lúc đó tôi cũng chẳng biết dặn dò gì thêm, sĩ quan “nhí” như tôi không biết gì hơn… lệnh là lệnh, chỉ biết ra khỏi Kontum, còn đi hành quân nơi đâu hoàn toàn không được biết. Dặn dò hai người bạn xong, tôi chạy vào hậu cứ B-15, căn cứ của Nha Kỹ Thuật (Lôi Hổ), sau khi bàn giao cho LĐ22/BĐQ được đặt tên là trại Đinh Bộ Lĩnh, coi tình hình ra sao?

Bên trong hậu cứ, mọi người đang tập họp nhận lệnh, tôi cũng bước vào đứng trong hàng cuối cùng để nghe Th/Tá Tể chỉ huy hậu cứ ban lệnh “Tôi nói thẳng cho anh em biết, mình bỏ Kontum cho thằng cộng sản… Tất cả đều phải di tản, các anh em không được cho thường dân đi theo, nếu không mình không đủ xe… và sẽ bị bỏ rơi! Sau khi tan hàng, mọi người trở về chuẩn bị di tản, những gì không đem theo được đốt phá hết…”

Tôi nghĩ thầm… Như vậy là “rồi…”, những lần trước, đơn vị đi hành quân ở Pleiku hay những nơi khác, hậu cứ vẫn “dậm chân tại chỗ” là nơi lo chuyện hành chánh, giấy tờ. Theo lệnh của vị sĩ quan chỉ huy hậu cứ, không được cho thường dân đi theo… Đang phân vân lo cho hai ông bạn thầy giáo, đúng lúc mấy chiếc GMC chở đại đội trinh sát về đến hậu cứ. Tôi bước lại đưa tay chào Đ/Úy Đình ĐĐT rồi nói chuyện với Th/Úy Biên ĐĐP, ông này học khóa 7/72 Đồng Đế, cũng có thể nói là quen biết (cùng lứa). Tôi hỏi thăm chuyến ĐĐ/TS 22/BĐQ về Saigon ứng chiến dịp Tết vừa qua, rồi nói cho Biên biết về trường hợp hai ông bạn nhà giáo. Biên rất sốt sắng nói cứ đưa vào, rồi rủ tôi cùng mấy sĩ quan trong đại đội lên một xe Dodge chạy trở vào trong thành phố Kontum (đại đội trinh sát 22/BĐQ có 7, 8 sĩ quan, quân số nhiều hơn một đại đội thường, có mấy ông làm trưởng toán viễn thám).

Thật không ngờ, tôi mới vào trong hậu cứ khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ, quốc lộ 14 từ Kontum đi về hướng nam (Pleiku) chật cứng người tỵ nạn, đàn ông, đàn bà, trẻ con, người gìa xách tay nải, bọc quần áo dắt nhau chạy giặc. Tôi nhìn trong đám đông, nhận ra hai ông nhà giáo Hạnh, Vinh cũng đeo túi Air Việt Nam, bước đi như chạy theo đoàn người … xuôi nam. Tôi nói tài xế ngừng lại, rồi nhẩy xuống xe chạy lại, lôi hai ông thầy giáo đẩy lên xe.

Sau một vòng thăm thành phố Kontum, thực ra chỉ có con đường chính Lê Thánh Tôn có cửa hàng buôn bán, còn lại rất thưa thớt, so với Pleiku, Ban Mê Thuột, Kontum nhỏ hơn và buồn hơn nhiều… Từ Kontum theo quốc lộ 14 lên hướng Bắc sẽ đi ngang qua những điạ danh nổi tiếng trong chiến sử, Charlie nơi cố Đại Tá Nhẩy Dù Nguyễn Đình Bảo hy sinh, rồi trại LLĐB Ben Het (TĐ 95/BĐQ), Tân Cảnh, Dakto nơi Đại Tá Lê Đức Đạt tư lệnh sư đoàn 22 BB hy sinh (chết mất xác năm 1972), Dak Seang (TĐ 90/BĐQ), cuối cùng là căn cứ Dak Pek (TĐ 88/BĐQ), lên nữa sẽ đến quận Ba Tơ tỉnh Quảng Ngãi (vùng I chiến thuật).

Trở vào trong hậu cứ, họ đã bắt đầu di tản, khung cảnh hỗn loạn, không còn lính canh gác cổng. Có mấy người Thượng đẩy xe chở đồ (không có động cơ) vào bên trong lấy đồ… Như đã trình bầy ở phần trên, sau chuyến tái tiếp tế khẩn cấp cho các đơn vị trong liên đoàn 22/BĐQ, người dân Kontum đã biết bị bỏ rơi nên khi trông thấy mấy chiếc GMC chở đại đội trinh sát 22/BĐQ đi ngang qua phố, người dân Kontum bắt đầu bồng bế dắt díu nhau ra đi (đi bộ…), và người Thượng “tự động” đẩy xe chở đồ vào … dọn dẹp.

Lính đại đội trinh sát được lệnh bố trí xung quanh doanh trại, đợi lệnh (đợi bộ chỉ huy liên đoàn và ba tiểu đoàn tác chiến) rồi cùng di chuyển (quân nhân tác chiến khác hơn mấy ông làm việc dưới hậu cứ). Tôi cùng với hai ông giáo Hạnh, Vinh và mấy ông sĩ quan trẻ ĐĐ/TS nói chuyện bàn tán vẫn chưa biết rút đi đâu? Hành quân nơi đâu? chỉ đoán mò “kỳ này tới phiên liên đoàn 22/BĐQ nhẩy vào chiến trường Ban Mê Thuột” Một nguồn dư luận khác cho rằng “mình (VNCH) cắt đất cho cộng sản… nhưng cắt tới đâu, chẳng ai biết!”

Hai ông thầy giáo Hạnh, Vinh thuê nhà cùng dẫy có mấy ông cảnh sát, sĩ quan Điạ Phương Quân tiểu khu Kontum. Hạnh nói với tôi “hàng xóm đã ra đi từ đêm qua, lúc ở nhà đợi tôi … nóng ruột vì nhìn ra cửa thấy người dân bồng bế ra đi liên tục nên cứ đi theo… rồi không ngờ được tôi lôi lên xe, vào trong hậu cứ LĐ 22/BĐQ” Lúc đó Trung Sĩ Nê trung đội phó của tôi ở tiểu đoàn 95, Nê thỉnh thoảng ra Kontum ghé tìm tôi nên cũng quen với hai ông giáo. Tôi hỏi Nê kiếm cho hai ông thầy giáo bộ đồ bông (quân phục BĐQ) để đi chung với BĐQ. Nê cởi áo mình đang mặc đưa cho Hạnh còn mình khoác lên người áo giáp, sau đó một BĐQ đem lại cho tôi cái áo giáp mới toanh và khẩu M-16.

Lúc đó, Trung Sĩ Minh, một BĐQ rất dễ thương, lúc nào cũng cười, dễ hòa hợp với mọi người. Minh thuộc thế hệ đàn em, cũng đi lính năm 1972, thụ huấn khóa Hạ Sĩ Quan cùng với hai “Trung Sĩ trẻ” trong trung đội tôi (2). Minh cũng thường ra nhà hai ông thầy giáo tìm tôi, và sau khi quán cơm tháng đóng cửa (nhiều người dân Kontum di tản trước Tết năm 1975 sợ đánh lớn như Tết Mậu Thân và năm 1972), Minh mua gạo trong đơn vị cho vào ba lô đem lại nhà tiếp tế hai ông thầy giáo. Minh nói vói tôi và hai ông bạn Hạnh, Vinh, có một GMC (chiếc cuối cùng) sắp di chuyển nên đưa Hạnh và Vinh đi theo. Nghe Minh nói rất hợp lý (…đi với ĐĐ/TS thế nào cũng có chuyện… vỡ mặt), tôi nói với Biên, nhắn lại với Danh (ban 3), tôi kẹt hai người bạn (Danh cũng biết), sẽ gặp lại nhau trên đường di tản…

Hậu cứ liên đoàn 22/BĐQ (B-15) chia đôi nằm hai bên quốc lộ 14, hướng tây có nhiều dẫy nhà đặt làm văn phòng cho liên đoàn (cả ba tiểu đoàn), chúng tôi vừa băng qua đường gặp anh chàng Quới (Tôi, Danh và Quới) là ba trung đội trưởng, đại đội 1 tiểu đoàn 95/BĐQ, cũng muốn đi theo tôi. Chiếc xe GMC chở những người lính còn lại (các ban ngành ở hậu cứ), có thêm thường dân (mở hàng quán, tiệm may vá cạnh hậu cứ) và hai ông bạn nhà giáo Hạnh, Vinh. Tôi và Quới leo lên buồng lái ngồi cạnh tài xế.

Xe vừa ra khỏi cổng trại, trên quốc lộ 14 về hướng Pleiku, dân chạy giặc tay sách, tay mang, dắt nhau, bồng bế trẻ con đi bộ hai bên đường thành hai hàng dài như vô tận, có gia đình đánh xe bò chở theo nhiều đồ đạc, hòa nhập vào trong giòng người. Tôi ngồi lặng yên, đoàn người di tản hy vọng tìm gặp người thân ở Pleiku, họ vẫn chưa biết Pleiku cũng di tản, chuyến đi tìm tự do của họ sẽ dài mãi mãi và nhiều người sẽ không bao giờ đến…

Xe tiếp tục chạy trên quốc lộ 14, nhìn trước sau tôi mới biết là có hàng trăm chiếc xe đủ loại, quân lẫn dân sự nối đuôi nhau. Khi đi ngang qua thành phố Pleiku, sắp đến Hàm Rồng, một căn cứ rộng lớn, người Mỹ để lại, (hai sư đoàn bộ binh 22, 23 lên hành quân trên vùng cao nguyên thường đặt bộ tư lệnh tiền phương) đoàn xe bắt đầu đi chậm lại. Tôi nhìn dọc theo lề đường bên phải, một hàng dài Thiếu Sinh Quân (trường Thiếu Sinh Quân Cao Nguyên ở gần Hàm Rồng, tôi nhớ không lầm gần đó có một trại cùi). Các em vẫn quần áo trắng, bí tất trắng cao gần đầu gối, mũ beret đỏ, đeo balô trên lưng gói ghém tất cả hành trang, lặng lẽ đi bộ thành hàng dài. Tôi quay trước, quay sau, nói với chính mình (cả Quới lẫn ông tài xế đều nghe)… “Trường Thiếu Sinh Quân di tản… Cấp chỉ huy nhà trường đâu? [tại] Sao để các em đi bộ?”

Lúc đó bỗng dưng tôi “nổi hứng gió sương” nói với bác tài xế như ra lệnh “Tấp vào lề!” (sau này nghĩ lại, mình không có quyền, chỉ là người đi nhờ xe, còn đem theo hai người bạn… những giòng chữ này thay cho lời xin lỗi muộn màng. vđh). Bác tài nghe lời tôi tấp xe vào lề (có lẽ cũng vì lòng yêu thương các em Thiếu Sinh Quân. Trong cuộc chiến này các em đã mất mát nhiều rồi…). Cả ba người đều nhẩy ra khỏi xe, tôi nói bác tài và Quới thấy xe GMC nào còn trống vẫy lại nhờ (yêu cầu) họ chở giùm các em Thiếu Sinh Quân. Chúng tôi phải đỡ từng đứa, đưa lên xe… Mặt trời sắp lặn, xâm xẩm tối, vẫn còn các em TSQ rảo bước từ phiá xa (có lẽ đã thấm mệt), Quới bước đến bên tôi nói nhỏ “Mình đi… Chuyện ai nấy lo!” Tôi lại nổi nóng “Tao chưa nhận được lệnh [bỏ] chạy!” (cũng là điều không đúng, trong ba ông trung đội trưởng, Quới yếu thế hơn, tôi ở tiểu đoàn 95 trước Danh và Quới, Danh khóa đàn anh nhưng từ trong vùng 3 thuyên chuyển ra. Cả ba là bạn ngang hàng…). Anh chàng Quới chẳng nói gì lặng lẽ ra đón xe, được một chiếc xe Jeep của một đơn vị nào đó, leo lên … biến mất. Bác tài lúc đó bước lại nói nhỏ “Thôi mình đi…” (sau này tôi nghe ai đó trong đơn vị kể lại, xe chở theo Th/Úy Quới, bon chen chạy ẩu (liều mạng) lên trước, bị rớt xuống vực sâu… Âu cũng là số phận. Mong bạn tha thứ cho tôi những lời lẽ “lớn lối” không hay, không đúng! vđh).

Lúc sắp sửa lên xe, tôi được biết có một phụ nữ có con nhỏ, đã qúa mệt mỏi vì trong thùng xe chật chội, nên tôi xách súng, áo giáp leo lên mui xe ngồi nhường chỗ cho mấy mẹ con. Khi chiếc GMC rẽ vào liên tỉnh lộ 7B, con đường đã bị bỏ hoang từ lâu, xe cộ dồn lại chật cứng… cả đoàn xe nhích lên … từng chút. Trời đã tối, đoàn xe đã bật đèn sáng đi thêm một đoạn nữa rồi nằm im, tắt đèn. Mọi người trên xe đã ngủ vì quá mệt mỏi, tất cả đều phải ngủ ngồi (tại chỗ), không một ai dám xuống xe, vì có thể bị xe cán, đường rất xấu, rất hẹp, và đoàn xe có thể di chuyển bất cứ lúc nào, khi nào xe trước nổ máy tiến lên thì xe sau cũng phải tiến theo sau để có chỗ trống cho những xe đi sau nữa… Đoàn xe kéo dài như vô tận, đám đàn ông trên xe cũng thấm mệt, ngồi co ro vì lạnh, tôi khoác chiếc áo giáp vào chống lạnh rồi cũng ngủ gà ngủ gật. Đó là đêm đầu tiên trên liên tỉnh lộ 7B của một xe GMC hậu cứ liên đoàn 22/BĐQ, những chiếc GMC khác của các tiểu đoàn chạy lạc nhau (không ai chỉ huy, không phải đơn vị tác chiến).

Trong khi đó trong thành phố Kontum, dân quân vẫn tiếp tục di tản. Xe Jeep của Trung Tá Bùi Văn Huấn ra đến phố Kontum, cùng với xe của mấy sĩ quan tham mưu, họ chạy một vòng quanh thành phố trước khi vào hậu cứ B-15. Trên hành quân vẫn còn sĩ quan ban 2, Th/Tá Phước trưởng ban 3, và Th/Úy Trần Thiện Danh, cùng mấy người lính truyền tin. Nhóm người này phải ở lại để theo dõi các cuộc rút lui của ba tiểu đoàn Biệt Động Quân trực thuộc sau khi bàn giao cho các đơn vị Điạ Phương Quân tiểu khu Kontum. Chuyện bàn giao phòng tuyến có thể mất cả ngày, nếu không làm gấp, nhanh chóng. Một lần đại đội 4 (đại đội đầu tiên tôi phục vụ, sau đó mới đổi qua đại đội 1) nằm trên đồi Ba Chấm, một vị trí chiến lược nằm về hướng tây thành phố Kontum. Trung đội tôi được lệnh ở lại cuối cùng, chờ một đại đội ĐPQ lên bàn giao, khi họ lên đến nơi mồ hôi nhễ nhại, lúc đó đã hơn hai giờ chiều, Trung Sĩ Cơ còn phải dẫn mấy người lính ĐPQ xuống một cái chốt để thay cho BĐQ, rồi trung đội tôi mới bắt đầu di chuyển ra khỏi khu vực trách nhiệm. Cả trung đội xuống đến chân đồi Ba Chấm còn 1 chiếc GMC duy nhất đang kiên nhẫn chờ trung đội BĐQ, lúc đó hơn 4 giờ chiều… Trên vùng cao nguyên mặt trời đi ngủ sớm.

Sau Đại Đội Trinh Sát 22/BĐQ, pháo đội 22/PB/BĐQ tiếp theo, rồi đến tiểu đoàn 88 ở xa nhất (núi Ngok Bay), tiểu đoàn 62, cuối cùng là tiểu đoàn 95 BĐQ. Khi tiểu đoàn 95 từ làng Trung Nghiã rút ra đến quốc lộ 14 cũng không thấy xe đón, các đại đội tự động cho lính di chuyển dọc theo con đường, súng chỉa ra hai bên, sẵn sàng chiến đấu… và cứ thế lết vào đến phố Kontum. Trong khi đó, đoàn xe chở bộ chỉ huy liên đoàn, ĐĐ/TS, Pháo Đội 22/BĐQ, cùng hai tiểu đoàn 88, 62 BĐQ đã đến đèo Chu Pao. Trong trận Kontum năm 1972, quân cộng sản đóng chốt dầy đặc cắt quốc lộ 14 không cho tiếp tế, để chúng tấn công, dứt điểm thành phố Kontum. BĐQ được lệnh đánh chốt không được lấy xác, chôn tại chỗ (trong đó có Th/Tá Hòa TĐT/TĐ35 liên đoàn 6/BĐQ bị pháo kích chết – sau đó gia đình ông ta lên Kontum tìm xác đem về)

“Chu Pao ai oán hờn trong gió?

Mỗi tấc khăn tang một tấc đường”

Sau khi Thiếu Tá Nguyễn Thanh Vân, TĐT TĐ 95/BĐQ báo cáo cho vị liên đoàn trưởng về tình trạng xe cộ. Trung Tá Bùi Văn Huấn báo cáo lên cho Tướng Tất và được trả lời “trước tình thế này, liên đoàn 22/BĐQ phải tiếp tục di chuyển (đành phải bỏ rơi TĐ 95/BĐQ).” Trung Tá Huấn không chịu bỏ rơi thuộc cấp trả lời Tướng Tất “Tất cả cùng đi hoặc cùng chết”. Ông ra lệnh cho đoàn xe dừng lại, tất cả BĐQ xuống xe bố trí an ninh đơn vị rồi ra lệnh cho một sĩ quan chỉ huy 10 binh sĩ BĐQ bắt 10 tài xế lái xe không quay trở lại Kontum đón TĐ 95 (bắn bỏ tại chỗ nếu không tuân lệnh)… Là đơn vị rút lui cuối cùng, gặp nhiều chuyện rủi ro, rất ít quân nhân Biệt Động Quân liên đoàn 22 về đến miền duyên hải… định mệnh bắt họ nằm xuống trong lòng đất mẹ, nơi một cánh rừng xa xăm trên vùng cao nguyên đất đỏ (3).

Trở lại liên tỉnh lộ 7B, trời đã sáng, đoàn xe vẫn kẹt cứng, không di chuyển được. Con đường được biết đã không xử dụng từ nhiều năm qua, rất xấu, nhiều đoạn bị lở, bong nhựa đường chỉ còn đá xanh, đoạn khác không còn gì trở nên con đường đất cát bụi bậm. Tôi nhìn xung quanh quan sát (tại sao xe cộ kẹt dữ vậy?…), phong cảnh rất đẹp, đồi núi trùng điệp… dân cư thưa thớt nên bảo tồn được thiên nhiên. Con đường rất hẹp, một bên là vực sâu, xuống thung lũng, lái xe không cẩn thận rơi xuống vực là … kể như xong! Dọc theo bìa rừng bên kia đường, tôi nhận ra quân bạn, quân phục rằn ri đã gần như biến thành mầu đất đỏ (bết bụi trường chinh), nhìn biết lính của liên đoàn 23/BĐQ, đơn vị chủ lực, trừ bị của Quân Đoàn 2. Tên cũ là liên đoàn 2/BĐQ, đơn vị này đã tham dự hầu hết các trận đánh lớn trên vùng cao nguyên: Ben Het, Dak To, Plei Me, Dak Sang… Phiá xa có hai Biệt Động Quân và một máy truyền tin PRC-25, có lẽ là một trung đội trưởng, đại đội này (có thể là cả tiểu đoàn) đang rải quân ra giữ an ninh trật tự, bảo vệ một đoạn đường liên tỉnh lộ 7B.

Bất ngờ có tiếng súng bắn chỉ thiên. Mọi cặp mắt nhìn về hướng một người lính BĐQ, một tay cầm súng hướng lên trời, tay kia chỉ vào một xe vận tải đang tìm cách len lỏi đi ngược trở lại. “Bác tài. Ngừng xe lại, không tôi bắn bây giờ!” Bác tài xuống xe, giải thích, phân bua gì đó, người lính BĐQ vẫn phải làm theo lệnh cấp chỉ huy “Đại đội trưởng của tôi ra lệnh, không cho bất cứ một chiếc xe nào quay trở về Pleiku!” Tiếp theo có tiếng còi xe inh ỏi, tôi quay đầu lại nhìn, một chiếc xe Jeep vừa bóp còi xe, vừa lách chạy lên (cũng có thể từ phiá dưới, binh sĩ BĐQ điều khiển trật tự xe cộ, để cho chiếc xe Jeep này quyền ưu tiên chạy lên trước). Người ngồi trước bên cạnh tài xế đeo hai bông mai đen (ngụy trang), người ngồi một mình trên băng ghế sau (quay ngược lại như xe của VIP) nhận ra tôi, cùng lúc tôi cũng nhận ra người bạn cùng khóa 6/72 Th/Úy Lê Quyền, sĩ quan không trợ LĐ 23/BĐQ. Cả hai đưa tay lên vẫy chào nhau, chiếc xe Jeep chạy nhanh vượt xa ra khỏi tầm mắt. (Anh chàng này đô con nên cấp chỉ huy thích có người như anh ta tháp tùng) (4).

Trong tác phẩm “Sự Thật Cuộc Triệt Thoái Quân Đoàn II” tác giả Đổ Sơn, liên đoàn 6/BĐQ rút ra khỏi Kontum trước, về Pleiku để đi đầu đoàn quân triệt thoái, bảo vệ một phần liên tỉnh lộ 7B từ Cheo Reo đến sông Ba cho liên đoàn 20 Công Binh làm đường, sửa chữa cầu cống. Nhóm rút quân đầu tiên này gồm có: liên đoàn 6/BĐQ, thiết đoàn 19 Kỵ Binh và liên đoàn 20 Công Binh rời Pleiku ngày 16 tháng Ba năm 1975.

Nhóm thứ hai rời Pleiku ngày 17 tháng Ba gồm có: bộ tư lệnh hành quân quân đoàn II (triệt thoái - Chuẩn Tướng Trần Văn Cẩm chỉ huy), lữ đoàn 2 Kỵ Binh (Đại Tá Đồng), liên đoàn 23/BĐQ (tăng phái cho lữ đoàn 2 KB), liên đoàn 7/BĐQ (dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Nguyễn Kim Tây vừa được bộ TTM đưa lên quân đoàn II), ba (3) tiểu đoàn Pháo Binh, và hai (2) đại đội cơ giới. Liên đoàn 23/BĐQ bảo vệ thị trấn Cheo Reo (tỉnh Phú Bổn), liên đoàn 7/BĐQ bảo vệ đèo Tu Na.

Nhóm thứ ba, cuối cùng rời Pleiku ngày 18 tháng Ba gồm có: ba(3) liên đoàn BĐQ, 4, 22, và 25 do Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất chỉ huy, thiết đoàn 3 Kỵ Binh, và một đơn vị Pháo Binh. Cả ba liên đoàn BĐQ trong nhóm này đều bị thiệt hại lúc giao tranh với địch trên đường rút theo đoàn quân di tản. (5)

Buổi chiều ngày 17 tháng ba, liên đoàn 22/BĐQ di chuyển vào đến liên tỉnh lộ 7B nhập vào đuôi đoàn xe di tản, cái đuôi tiếp tục kéo dài ra đến ngã ba nối với quốc lộ 14, có hai tiểu đoàn còn lại của liên đoàn 4/BĐQ, và phần còn lại của liên đoàn 25/BĐQ (kẹt trong Thanh An, Pleiku bị địch tấn công, bám sát không cho rút). Đoàn xe dừng lại, mọi người lo chuyện ăn uống, sau hơn một ngày phơi nắng. Người lớn tản mát ra, đi tìm người thân quen, hỏi thăm nhau, bàn tán, lo âu. Trên đường có một xe Jeep để mui trần chạy tới, một Thiếu Tá BĐQ đứng trên xe (không nhớ có phải Th/Tá Khôi trưởng phòng 3 BĐQ/QKII?) dùng loa phát thanh nói lớn ra lệnh “Theo lệnh của Tư Lệnh Chiến Trường Kontum (Chuẩn Tướng Tất), bắn bỏ tại chỗ sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ vô kỷ luật không tuân lệnh cấp chỉ huy!”, sau đó chiếc xe Jeep đi đến đơn vị khác dọc theo con đường ban lệnh của vị tư lệnh chiến trường (6).

Cũng buổi chiều đó, hai ông thầy giáo Hạnh, Vinh gặp lại “băng” nhà giáo ở Pleiku di tản trên một xe hàng chở đồ, biến cải vừa chở đồ, vừa chở người… kinh khủng, cái gì cũng chồng chất bỏ lên xe. Từ phiá dưới đoàn xe, Th/Úy Danh sĩ quan ban 3 liên đoàn 22/BĐQ lững thững đi dọc theo đoàn xe tìm tôi. Gặp lại “bạn hiền” tôi mừng quá, Danh hỏi thăm, nói chuyện với cả hai ông thầy giáo. Danh kể cho tôi nghe, trên đường đi phải dừng lại nhiều lần để đợi đơn vị (rất nhiều xe dân sự đã chen vào các đoàn xe quân sự), Thiếu Úy Sĩ, sĩ quan tiếp liệu một TĐ/ĐPQ thuê nhà cạnh mấy thầy giáo cũng tự động di tản bằng xe Honda, gặp Danh, anh ta mừng qúa ghé lại xin cho ít xăng. Th/Tá Phước (trưởng ban 3 LĐ 22/BĐQ) cũng dễ dãi nói tài xế cho anh ta đầy bình xăng (bình xe Honda ở VN chỉ chứa khoảng 1, 2 lít xăng). Danh nói cứ lo cho hai ông thầy giáo còn mình (bắt buộc không còn chọn lựa) phải đi theo ban 3 liên đoàn. Được biết đã hơn một ngày ba đứa tôi (Hiếu, Hạnh, Vinh) phải ăn cơm ké dân chạy giặc, tối hôm đó, Danh lần mò trong bóng tối tìm tôi, đưa cho mấy lon đồ hộp (tình đồng đội cao qúy, ân tình rất nặng...)

Đêm hôm đó (17 tháng Ba), tiếng súng nổ xung quanh thị trấn Cheo Reo, các đơn vị Bắc Việt thuộc trung đoàn 48, sư đoàn 320 di chuyển vào vị trí tấn công, đụng các chốt của liên đoàn 23/BĐQ đang rải quân ra xung quanh Cheo Reo. Về hướng đông liên tỉnh lộ 7B nơi đèo Tu Na, tiểu đoàn 9, trung đoàn 64, sư đoàn 320 được lệnh di chuyển gấp rút  về hướng liên tỉnh lộ 7B, đóng chốt không cho đoàn xe di tản đi qua. Ở cuối đoàn xe, đường xá bị kẹt, dân chạy giặc lo sợ, nhiều người bỏ xe, bồng bế con nhỏ, dắt dìu nhau đi bộ dọc theo con đường thành hàng dài, các bà mẹ lo nắm tay trẻ con sợ bị lạc. Và cứ thế, đoàn người di tản đi bộ suốt đêm, lúc nào mệt, ngồi lại bên đường nghỉ lấy sức rồi lại tiếp tục. Đàn ông, đàn bà đều thấm mệt, nhìn thẳng về phiá trước, rảo bước. Tôi nghiệp những đưá trẻ cố gắng bước nhanh theo chân mẹ, có lẽ chúng không còn sức để nói “Mẹ ơi! Đi chậm lại…”

Sáng hôm sau, linh cảm sự nguy hiểm đang gần kề, tôi nói hai ông giáo Vinh, Hạnh nên đi trước, theo xe (dân sự) của mấy người bạn đồng nghiệp. Hạnh còn ngần ngừ, tôi khuyên cứ đi trước, tôi sẽ lo liệu (cho bản thân mình) sau. Khi về đến Tuy Hòa, tìm người bạn (cũng bạn học năm xưa) P. Đ. Cường đang làm việc cho ngân hàng Việt Nam Thương Tín (Tuy Hòa), nhờ giúp đỡ (mượn tiền mua vé máy bay về Saigon. Cường rất hiền lành, ăn ở rộng rãi với bạn bè).

Khung cảnh khu vực Cheo Reo buổi sáng hôm đó phải nói là kinh hoàng, đoàn người đi bộ vào đến khu vực, lem luốc vì mồ hôi, bụi đường, nhiều người đi chân đất, họ trải chiếu ngồi tụm lại từng gia đình nghỉ mệt, hoặc cứ ngồi, nằm trong một góc khuất nào đó để tránh bị xe cán. Theo ký giả Nguyễn Tú báo Chính Luận, “chuyện buồn nhất là hàng ngàn người phải đi bộ… Suốt đêm, hàng dài người kéo nhau, lê lết đi bộ đến Cheo Reo. Khi ánh mặt trời lên, sức nóng làm cho họ thấm mệt nhanh chóng…đàn bà, người già và trẻ em không còn một giọt nước để uống.” Ông ký giả sợ rằng nhiều người sẽ chết vì khát. Ký giả Nguyễn Tú đã chứng kiến nhiều cuộc di tản, kể cả cuộc di tản khỏi Quảng Trị trên quốc lộ 1 (đại lộ kinh hoàng năm 1972), nhưng lần di tản trên quân đoàn II này “kinh hoàng” hơn nhiều. (7)

Sau khi một ít xe dân sự qua khỏi đèo Tu Na, phần còn lại của trung đoàn 64 vào đến chiến trường, phối hợp với trung đoàn 48 tấn công  các vị trí liên đoàn 23/BĐQ, lữ đoàn 2 Kỵ Binh. Bộ Tổng Tham Mưu QL/VNCH bắt được công điện của sư đoàn 320 Bắc Việt chuẩn bị tấn công tiêu diệt đoàn quân di tản ở Cheo Reo, vội báo tin cho Tướng Phú. Ông ta bay lên Cheo Reo ra lệnh cho Đại Tá Đồng, xử dụng liên đoàn 7/BĐQ phối hợp với thiết giáp tấn công lên đèo Tu Na. Biệt Động Quân đi trước mở đường cho chiến xa, đoàn xe GMC theo sau, tiến lên đèo. Liên đoàn 7/BĐQ đánh xuyên qua phòng tuyến phá các chốt của tiểu đoàn 9, trung đoàn 64 Bắc Việt dễ dàng để cho đoàn xe tạm thời lưu thông được, băng qua đèo Tu Na đến Cung Sơn. Rồi chuyện xui xẻo đến với liên đoàn 7/BĐQ, mấy phi tuần A-37 bay yểm trợ thả bom lầm vào phòng tuyến BĐQ, gây tổn thất nhiều cho BĐQ trong đó có một vị tiểu đoàn trưởng, Th/Tá Võ Mộng Thủy TĐT 32 liên đoàn 7, cựu TĐT TĐ/30/BĐQ (liên đoàn 32  tên cũ là 5). Th/Tá Thủy tướng tá ngon lành cao lớn, đẹp trai và đen, lúc chết vẫn còn anh hùng nhờ người dân chạy giặc nói với các binh sĩ BĐQ đừng đi tìm ông ta… (lúc đó, có rất nhiều dân chạy giặc trong khu vực giao tranh). Trọng trận giao tranh này, Đại Úy Hiệp, tiểu đoàn phó TĐ 58/BĐQ (tên cũ là 41) liên đoàn 7/BĐQ cũng bị thương.

Sau khi liên đoàn 7/BĐQ đánh xuyên qua các chốt địch trên đèo Tu Na, cho một số xe thiết giáp,  GMC, xe dân sự đi thoát về Cung Sơn, trung đoàn 64 Bắc Việt được lệnh tấn công lên đèo nhưng BĐQ giữ vững phòng tuyến. Trung đoàn này đóng quân dọc theo liên tỉnh lộ 7B, khóa chặt không cho phần còn lại di tản (thoát khỏi Cheo Reo). Trong khi đó, pháo binh Bắc Việt đã sẵn sàng, bắt đầu pháo kích vào thị trấn Cheo Reo, một thị trấn rất nhỏ, kẹt cứng với hàng trăm xe đủ loại, và hàng ngàn thường dân. Hỗn loạn cùng với sự kinh hoàng xẩy ra, nhiều xe bị trúng đạn hư hại, bốc cháy, thường dân lại có dịp dắt nhau, bồng bế trẻ em, bỏ chạy khắp nơi tránh đạn pháo kích. Có những chiếc xe hốt hoảng bỏ chạy cán bừa lên thường dân, đa số đàn bà và trẻ em. Theo ký giả Nguyễn Tú “Tiếng đạn đại bác xé gió bay vào thành phố, tiếng đạn nổ, tiếng súng tiểu liên AK, M-16 (phòng tuyến liên đoàn 23/BĐQ thu nhỏ lại, sát vòng đai thị trấn), tiếng la hét, tiếng than khóc người bị thương, tiếng trẻ em vừa khóc vừa gọi cha mẹ nghe như tiếng gào từ dưới điạ ngục.”

Liên đoàn 23/BĐQ cầm cự đến 5 giờ chiều, rút vào bên trong thị trấn Cheo Reo, chỉ còn lại những túi kháng cự nhỏ. Đến gần 12 giờ đêm, trung đoàn 48, sư đoàn 320 hoàn toàn thanh toán những ổ kháng cự cuối cùng của BĐQ.

Trước đó trung đoàn 9 sư đoàn 320 tấn công phiá cuối đoàn xe trên liên tỉnh lộ 7B. Ba liên đoàn BĐQ đi sau, đã bị tổn thất trước đó, đang trải dài trên con đường là mục tiêu rất tốt cho các loại súng của địch: B-40, AK-47, đại bác không dật, các hỏa tiễn tầm nhiệt chống chiến xa AT-3 Strella. Trong khi pháo binh BĐQ đã xếp càng để kéo đi theo, không thể bắn yểm trợ quân bạn, pháo binh Bắc Việt cùng với các ổ súng cối 61, 82 ly gây tổn thất đáng kể cho BĐQ.

Các tiểu đoàn thuộc liên đoàn 22/BĐQ nằm chịu trận trên đường không liên lạc được. Th/Úy Đỗ Tường Chin (K6/72) sĩ quan truyền tin tiểu đoàn, kiêm ĐĐP Công Vụ kể lại “Tao bị thương, trốn được hai ngày trong rừng mới bị bắt. Tội nghiệp vợ chồng Đại Úy Ngọ tiểu đoàn phó, cả hai ông bà bị trúng miểng đạn pháo kích chết. Vợ ông Ngọ bất ngờ từ Saigon ra thăm chồng, rồi phải đi theo đoàn quân di tản!” Th/Úy “Toàn Mát” một thời là ĐĐP của tôi, thoát được với hơn 10 người lính. Một tay “gangster” của tiểu đoàn là Th/ Úy Sú A Sam, người dân tộc thiểu số, gốc Thiếu Sinh Quân, bị bắt rồi bị lính Bắc Việt bắt cởi đôi giầy để khỏi trốn (đó là một nhược điểm quan trọng). Sam kể cho tôi nghe “lúc phi cơ lên oanh kích, tụi nó lính quýnh… tao dọt luôn!”. Khi về đến Dục Mỹ đôi bàn chân của chàng sưng rất to, chỉ mang đôi bí tất, đi cà nhắc. Một tay súng khác là Th/Úy Sang (K9/72), cầm cái điạ bàn trong sợi dây đeo cổ “Bản đồ hành quân không có… (di tản), tao chỉ còn cái này dắt hơn một chục người lính (đủ các liên đoàn), băng rừng vượt suối về đến Nha Trang.”

Đại đội trinh sát 22/BĐQ chiến đấu rất anh dũng, hy sinh để bảo vệ bộ chỉ huy liên đoàn. Các sĩ quan tham mưu của liên đoàn chạy lạc khắp nơi, kể cả bác sĩ y sĩ trưởng của liên đoàn. Danh chạy cùng với Th/Tá Phước trưởng ban 3. Tháng Ba trên vùng cao nguyên, nắng cháy da người, khát nước khô cổ họng, đôi môi nứt nẻ. Đó là điều ký giả Nguyễn Tú lo sợ, dưới sức nóng của ánh mặt trời, không còn một giọt nước, nhiều người kiệt sức, đặc biệt trẻ em có thể chết. Danh kể lại “Ông Phước đi hết nổi, đã phải uống nước tiểu cho đỡ cơn khát.” Khi đến một khoảng đất trống đủ rộng để trực thăng đáp xuống, hai người ngồi nghỉ mệt, bất chợt nghe tiếng trực thăng bay ngang đầu, Ông Phước cầm tấm panô (một mặt mầu xanh, một mầu cam để cho phi cơ nhận diện) chạy ra giữa khoảng đất trống (lúc đó con người không còn sợ chết nữa). Rồi ba người lính Bắc Việt cầm AK từ trong bìa rừng phía bên kia bước ra khỏi hàng cây… Tao quay trở lại dọt lẹ!”.

Đến chiều ngày 19 tháng Ba, có thể nói trận chiến trên liên tỉnh lộ 7B chấm dứt, trung đoàn 64 sư đoàn 320 thanh toán các ổ kháng cự cuối cùng của BĐQ, làm chủ tình hình khu vực thung lũng Cheo Reo. Không quân chiến thuật trên quân đoàn II được lệnh bắn phá, tiêu hủy các chiến cụ nặng quân đội VNCH bỏ lại trên liên tỉnh lộ “máu và nước mắt”

Bên trong thị trấn Cheo Reo, khu vực xung quanh, thung lũng Cheo Reo đầy xác người, thường dân nhiều vô kể, xác đàn bà trẻ em thường nằm cạnh nhau trông rất thương tâm, mấy xác chết bị xe GMC, xe vận tải cán lên be bét trông phát khiếp. Trên Kontum, bên cạnh nhà hai ông thầy giáo bạn tôi có ba ông dậy trường Nông Lâm Súc Kontum, nên tôi cũng quen biết: Toàn, Hoàng, và Tiền. Lúc bắt đầu di tản, tôi có hỏi ông bạn Hạnh “Còn mấy ông Nông Lâm Súc tính sao?” Hạnh trả lời, mấy ông Nông Lâm Súc quen với một tay làm việc cho tòa lãnh sự (tên Văn), sẽ cho ba ông thầy Nông Lâm Súc đi theo. Cuối cùng họ bị bỏ rơi, phải chạy theo đoàn người di tản đi bộ, và định mệnh đuổi kịp họ trong thung lũng Cheo Reo. Tôi gặp ông tên Tiền ở Nha Trang, vừa khóc vừa kể lại câu chuyện “Thằng Toàn trúng đạn chết tại chỗ, Hoàng bị thương, tôi cũng bị thương nhẹ nơi chân vẫn còn đi được. Tôi cố dìu Hoàng lết đi theo đoàn người, rồi Hoàng kiệt sức, không có thuốc men, băng bông và cũng không có nước uống. Nó nói tôi bỏ nó lại, nó chỉ muốn nằm ngả lưng, đi hết nổi rồi…”

Trong lúc nhiều đơn vị tản mác, các đơn vị BĐQ không phân biệt liên đoàn gom lại từng nhóm nhỏ cố gắng vượt qua đèo Tu Na bằng cách đi vòng. Tôi gặp Th/Úy Sĩ sĩ quan tiếp liệu ĐPQ, lúc đó cũng đã vất bỏ chiếc Honda chạy bộ. Hai chúng tôi đến một xóm làng nhỏ phiá bên kia chân đèo. Cả hai thấm mệt, tôi cởi áo giáp gấp đôi lại làm gối, ngả lưng trên nền đất. Ông bạn Sĩ cũng nằm xuống tâm sự… “BĐQ đi rồi, cả thành phố Kontum vắng tanh… tôi liên lạc với TĐT (ĐPQ) báo cáo, ông ta nói tôi… có chuyện gì, chạy vào (nơi đóng quân của TĐ/ĐPQ) với ông ta…” Theo tài liệu của địch, sư đoàn 968 Bắc Việt (một sư đoàn nhẹ chỉ có hai trung đoàn) cho quân tiến vào tiếp thu hai thành phố Pleiku và Kontum. Họ ra lệnh cho một đơn vị tiền phương tiến nhanh lên cắt quốc lộ 14 đoạn nối Pleiku – Kontum, bắt được viên Tỉnh Trưởng cùng mấy sĩ quan tham mưu của ông ta trên đường đi về Pleiku, sáng ngày 17 tháng Ba.

Anh chàng Sĩ có vẻ chán đời, người miền trung nói giọng Huế (thực sự tôi không rành, không để ý những chuyện nhỏ nhặt đó), có lẽ lo lắng chuyện gia đình… tôi thiếp đi từ lúc nào không biết vì qúa mệt mỏi. Sáng hôm sau, Sĩ đi mất tiêu từ lúc nào không biết. Còn một mình, tôi đi dọc theo bìa rừng, tránh ngôi làng và cứ tiếp tục đi vòng chân núi, hy vọng gặp lại đoàn xe chạy trước. Hôm qua, liên đoàn 7/BĐQ đã đánh xuyên qua các chốt chặn của trung đoàn 64 Bắc Việt cho một số xe quân, dân sự đi thoát qua bên kia đèo Tu Na đến Cung Sơn. Tôi đi đến xế trưa cánh rừng đã thưa ra, không nhiều cây cối như trên lưng đèo, có một con đường đất đỏ, hẹp đủ rộng cho một chiếc xe đi qua (có lẽ dân khai thác gỗ làm cho xe “Be” chạy).

Cảm thấy an toàn, hy vọng liên đoàn 7/BĐQ vẫn còn trấn đóng trên đỉnh đèo Tu Na, tôi đi bộ dọc theo con đường đất được một quãng trông thấy một bà gìa và một cô cháu gái nhỏ chừng 12, 13 tuổi đang dừng chân nơi một con lạch nước (suối) nhỏ, chỉ rộng khoảng 1, 2 thước rất cạn nhìn thấy đáy. Hai bà cháu đã uống nước, dùng một túi (bọc nylon) lấy thêm nước cột lại để đem theo. Thật mừng rỡ, tôi cũng đi lại cúi xuống, lấy hai tay tạt nước vào mặt, lên đầu ướt hết áo. Đã cơn khát, tôi ngước lên nhìn hai bà cháu cũng đang ngừng tay nhìn người lạ (tôi). Nhìn xuống dưới chân họ, cả hai bó hai bàn chân bằng những tấm vải cột lại (trong lúc chạy cho mạng sống, giầy dép vứt bỏ cho nhanh). Thật buồn, tôi cũng chẳng giúp gì được hai bà cháu… cũng không biết mở miệng chào hỏi đôi câu, lặng lẽ bỏ đi.

Tôi vừa đi vừa chạy, trên người tôi chỉ mỗi bộ quần áo, một khẩu súng M-16 và một băng đạn, đủ bảo vệ sinh mạng của mình, chẳng giúp được ai, nhớ lại ánh mắt hai bà cháu nhìn tôi… Tôi cảm thấy xấu hổ, mang mặc cảm tội lỗi, không làm tròn bổn phận của một quân nhân. Được một quãng, tôi thấy có cặp vợ chồng trẻ, người đàn ông mặc quần áo lính xanh (treilli) có lẽ điạ phương quân tiểu khu Phú Bổn, cũng có thể Phú Yên vì Cung Sơn đã thuộc về Phú Yên. Vì đi một mình, tôi băng qua mặt hai vợ chồng trẻ nhanh chóng. Chợt nghe tiếng xe, tôi quay đầu lại trông thấy một xe Jeep Công Binh cũng đang chạy trên con đường đất nhỏ, tôi đưa tay vẫy cho xe ngừng lại. Ở phiá dưới hai vợ chồng trẻ ôm con chạy lên xin qúa giang. Trên xe đã chật, mấy ông sĩ quan Công Binh chỉ cho mình tôi lên xe, còn hai vợ chồng chi cho lên xe được một người. Lúc đó tôi nhìn kỹ, họ bế theo một đưá con sơ sinh quấn trong mấy tấm vải, tã lót. Người chồng mừng rỡ xin cho vợ con đi theo còn mình đi bộ… Nhớ đến đây, tôi cảm thấy xấu hổ, sao mình hèn qúa, chỉ biết lo cho bản thân… Tại sao không nhường chỗ cho người chồng, để cặp vợ chồng trẻ đi chung với nhau?

Xe Jeep đi thêm một đoạn nữa, khoảng bốn giờ chiều gặp lại đoàn xe di tản đã thoát qua khỏi thung lũng tử thần Cheo Reo, và đèo Tu Na. Tài xế ngừng xe, tôi xuống xe rồi bắt đầu đi bộ dọc theo đoàn xe, tìm người quen, mấy chiếc xe GMC chở hậu cứ liên đoàn 22/BĐQ đi trước. Một anh Trung Sĩ phục vụ trong liên đoàn, có lẽ ban 1, TĐ95/BĐQ (nhân viên) nhận ra tôi, hỏi thăm rồi dẫn tôi đến chiếc xe GMC chở mấy quân nhân trong ban truyền tin, và các ban khác trong đơn vị. Chỉ mới hơn một ngày, có lẽ tôi đã “xuống sắc”, anh Trung Sĩ ban 1 đem lại cho tôi một tấm chăn đắp để muỗi không “làm thịt” (có nhiều người trong liên đoàn tôi không biết, ăn ở hiền lành nên được nhiều người biết).  

Trong đoàn xe này rất nhiều xe dân sự, tôi nhận thấy có một toán Lôi Hổ, họ vừa từ chiến trường Ban Mê Thuột về đến Pleiku được biết đơn vị và cả quân đoàn II di tản, lấy xe chữa lửa trong phi trường đi luôn (di tản). Phía trước vẫn còn kẹt đoàn xe lại dậm chân tại chỗ. Không thấy xe hàng dân sự chở mấy ông thầy giáo, tôi mừng thầm hy vọng họ đi thoát.

Bộ tư lệnh chiến dịch (Tây Nguyên) Bắc Việt điều động ba tiểu đoàn địa phương cấp tỉnh (như ĐPQ) từ khu vực hoạt động hướng bắc di chuyển xuống đóng chốt trên liên tỉnh lộ 7B, không cho đoàn xe chạy thoát về Tuy Hòa. Một đơn vị du kích xâm nhập quận Phú Túc, chiếm đóng bộ chỉ huy chi khu đêm 18 tháng Ba. Đêm đó, một đơn vị thuộc liên đoàn 7/BĐQ cũng rút về đó, đợi đến sáng hôm sau (19 tháng Ba) đánh đuổi đám du kích chạy trở vào rừng. Tiểu khu Phú Yên được lệnh đánh giải tỏa mấy chốt VC, nhưng không xong làm cho đoàn xe phải nằm chờ…

Một buổi sáng tôi đứng trên xe GMC nhìn về phiá sau, hàng xe đa số vận tải dân sự dài như vô tận. Bị địch pháo kích, nhiều người bỏ xe dắt gia đình đi bộ lên phiá trước, vào trong xóm làng tránh nắng, tìm nước uống, mua bán, đổi chác lấy thức ăn. Rồi một trực thăng ([có lẽ] chở Tướng Trần Văn Cẩm, tư lệnh phó quân đoàn II) đáp xuống quan sát, hỏi thăm dân tỵ nạn. Được biết có các em thiếu sinh quân trong đoàn người di tản, Tướng Cẩm ra lệnh gom các em lại trong một thửa ruộng cho trực thăng vào bốc. Tôi vẫn đứng trên xe GMC nhìn về phiá sau theo dõi, trông thấy trực thăng thả đồ ăn, đồ hộp quân đội xuống cho dân tỵ nạn. Có trực thăng bay vào bốc thiếu sinh quân được một chuyến, chuyến thứ hai nhiều đàn ông vô kỷ luật, chen lấn cố leo lên trực thăng. Chiếc trực thăng phải cất cánh nhanh chóng (sợ bị tràn ngập), kết qủa nhiều người rơi xuống đất như những bao gạo.

Đến tối, để an toàn phần nào, tôi tìm chỗ ngủ trong một thửa ruộng, sau một bờ đất phân chia giữa hai miếng ruộng, súng đạn sẵn sàng hướng vào trong làng… Trường hợp du kích VC xuất hiện, họ sẽ từ hướng trong làng đi ra. Đằng sau là liên tỉnh lộ 7B, không một ai dám ngủ trên đường vì xe có thể di chuyển bất cứ lúc nào cán chết người. Về phiá bên kia con đường là một đập nước (đập Đồng Cam), chân núi, những thửa ruộng, rồi một xóm làng khác. Đêm hôm đó nằm thao thức, tôi nhìn lên trên núi trông thấy có ánh đèn. Điều này khác thường… kinh nghiệm cho tôi biết, rất có thể địch (du kích VC) khiêng súng, đạn súng cối vào vị trí để bắn phá đoàn xe (lúc đó đa số xe dân sự).

Sáng hôm sau, tôi đang lấy nước từ đập Đồng Cam súc miệng, rửa mặt cho tỉnh táo, chợt nghe tiếng nổ lớn (như tôi thầm nghĩ đêm trước). Theo phản ứng tự nhiên, tôi nhẩy lên xe GMC nhìn về hướng nam nơi phát ra tiếng nổ, đúng lúc một cụm khói, đất cát bốc lên cao nơi đoàn xe, rồi dân tỵ nạn chạy tản mác ra như bầy kiến, sau đó tiếng nổ đạn súng cối của địch mới vọng đến khu vực bọn tôi đang đứng quan sát (tốc độ ánh sáng nhanh hơn tốc độ âm thanh). Bọn chúng bắn thêm mấy qủa nữa trước khi một trực thăng võ trang lên bao vùng, bắn đại liên hỏa tiễn lúc đó mới tạm yên. Cũng trong khu vực phiá sau đoàn xe bị địch pháo kích, mấy xác chết thường dân đã bốc mùi hôi thối, thay vì chôn cất họ khiêng mấy xác chết quăng xuống đập Đồng Cam. Mấy xác chết trôi theo giòng nước đến chỗ hai mực nước phân biệt (cao thấp) từ trên đổ xuống như một thác nước nhỏ. Tất cả đã trương sình, căng lên dưới lớp quần áo, mầu đen bị sức nước từ trên cao xuống nhấn chìm rồi nổi lên, rồi lại chìm xuống… Không ai dám múc nước dưới đập Đồng Cam uống nữa, họ lấy ca nhỏ vớt nước từ những vũng nước bùn để uống.

Một đoàn người thiếu kiên nhẫn, nóng lòng đẩy mấy chiếc Honda lên phiá trước đoàn xe, chở vợ con, vali đựng quần áo… chạy về hướng Tuy Hòa. Không đầy nửa tiếng đồng hồ sau, có tiếng súng nổ… chỉ một phụ nữ chạy trở lại, vừa chạy vừa la hét thất thần “Tụi nó (du kích VC) bắt chồng tôi rồi… Họ bắt chồng tôi tôi rồi…” Tôi la lớn “Nắm bà ta lại!”, hai người lính BĐQ nắm hai tay giữ người đàn bà, trước ngực bà đeo một túi vải đựng đứa con nhỏ (cột vào người cho dễ chạy, hai tay được tự do). Đứa bé bị thương, máu thấm ra ướt tấm vải cột nó dính vào người mẹ, có một người đàn ông mặc quần áo dân sự lại tiếp tay, cởi túi vải lấy đứa bé ra… đã qúa trễ để cứu đứa bé. Người mẹ được dìu ngồi xuống đất khóc lóc lu bu, vẫn chưa biết con mình đã chết… hai chân bà ta cũng như nhiều người đi bộ khác bó nhiều lớp vải (như hai bà cháu tôi đã gặp).

Đoàn xe lại phải chờ thêm một ngày nữa, cuối cùng BĐQ phải gánh trách nhiệm đánh mấy chốt của quân du kích Phú Yên. Như đã nói trong phần đầu, liên đoàn 6/BĐQ đi đầu đoàn quân di tản (thực sự trở thành đoàn dân quân di tản), bảo vệ liên đoàn 20 Công Binh sửa chữa đường xá, cầu cống nên ít bị thiệt hại. Chuẩn Tưóng Tất ra lệnh cho liên đoàn 6/BĐQ (lúc đó Tr/Tá Trương Khánh làm liên đoàn trưởng thay Đại Tá Cao Văn Ủy lên làm phụ tá cho Tướng Tất) và Th/Tá Trịnh Trân TĐT TĐ 34/BĐQ được mấy chiếc M-113 yểm trợ, đưa tiểu đoàn quay trở lại liên tỉnh lộ 7B “nhổ” mấy chốt của địch.

Sáng hôm sau, một chiếc xe Honda chở một người bị thương vào đùi, máu chẩy không cầm được vì không có thuốc men, băng bông… (phải dùng Honda mới luồn lách đi dưới ruộng), chạy dọc theo đoàn xe tìm bác sĩ hay y tá. Người bị thương đã kiệt sức, gục đầu vào lưng người lái xe Honda… Anh ta được chôn cất ngay bên vệ đường, trên ngôi mộ có hai miếng gỗ làm thánh giá ghi tên họ người vắn số, hy vọng sau này thân nhân của anh tìm được. Đến buổi trưa, một đoàn người đi bộ, bồng bế dìu nhau đi lên, có lẽ trung đoàn 64 Bắc Việt tấn công dữ dội vào tuyến phòng thủ liên đoàn 7/BĐQ đang bảo vệ đoạn hậu cho đoàn xe dân quân di tản, nên dân lành phải chạy lên phiá đầu đoàn xe. Họ đi ngang qua đoàn xe nào, người đi trong đoàn xe đó tự động lên xe để khỏi mất chỗ trên xe, và xe phải chuẩn bị di chuyển. Trong đám ruộng ngang chỗ xe GMC của liên đoàn đang đậu có hai người lính Điạ Phương Quân ở lại, một người bị thương nằm khóc biết bạn mình sắp bỏ đi. Đoàn người tỵ nạn tiếp tục đi ngang qua, người lính ĐPQ chưa nỡ bỏ bạn mình vẫn ngồi bên cạnh, và anh kia vẫn nằm than khóc. Trên xe lúc đó có một sĩ quan trợ y BĐQ (tôi không biết thuộc đơn vị nào, cũng vừa ở dưới chạy lên, thấy xe BĐQ nên leo lên) lấy trong balô một mũi morphine (đỡ đau), lại chích cho người lính ĐPQ.

Trong khi đó TĐ 34/BĐQ (liên đoàn 6) vẫn còn đang đánh mấy chốt của địch, đám du kích VC chịu không nổi bỏ chốt chạy về hướng đoàn xe bắn lung tung, làm cho mọi người trên xe nhẩy xuống ruộng (đã khô vì mùa hè, thấp hơn mặt đường) tránh đạn. Đằng trước xe GMC của liên đoàn là một xe Pháo Binh Phòng Không, trên xe có ổ súng đại bác phòng không 40 ly bốn nòng, bất ngờ xe Pháo Binh bỏ chạy, theo phản ứng tự nhiên, tôi nhẩy lên bửng xe GMC, một tay nắm kính chiếu hậu, tay kia thủ khẩu M-16, vừa chỉ tay vào chiếc xe Pháo Binh, hét vào tai bác tài “Chạy theo xe kia!” (tôi tin hỏa lực của bốn khẩu đại bác 40 ly, có thể che chở cho xe mình). Bác tài nghe lời tôi cho xe chạy, ở giữa hai chiếc xe (Pháo Binh và xe BĐQ) là hàng trăm người đàn ông quân lẫn dân chạy bộ. Rồi du kích VC lại bắn ra, đoàn người đang chạy bộ vội nhẩy xuống ruộng, trên liên tỉnh lộ 7B chỉ còn xe cộ tiếp tục chạy. Tôi vẫn chưa thấy một tên du kích nào xung phong vào đoàn xe, nhắm vào những bụi cây bóp cò súng. Khẩu M-16 hết đạn nhanh chóng (tôi chỉ có một khẩu súng và một băng đạn), thực sự cũng không thể ráp đạn được, một tay vẫn phải nắm chắc kính chiếu hậu xe GMC để khỏi rơi xuống xe. Tôi đưa khẩu súng lên trên trên, nói lớn “đưa khẩu súng khác”. Trên xe có Trung Sĩ Sơn chuyền xuống cho tôi khẩu AK-47 và tôi cũng bắn hết đạn cả hai khẩu. (xem hình. Trung Sĩ Sơn là người đeo khẩu AK-47, tôi đội mũ lưỡi chai, trên đùi là áo giáp vừa đỡ đạn vừa làm gối ngủ)

Trên đường, những người chạy bộ đi trước, bị BĐQ chận lại vì có chốt đánh chưa xong. Họ tấp vào một hiên nhà tránh nắng, rồi có tiếng lựu đạn nổ, người chết bị thương nằm lại, ai may mắn không bị gì chạy tản mác ra (đám VC chịu không nổi BĐQ tấn công, truớc khi bỏ chốt, chúng gài lựu đạn, kết qủa như thời xa xưa… chết dân lành vô tội). Tôi thấy bên phải con đường, một trung đội BĐQ đang dàn hàng ngang, chuẩn bị xung phong băng qua liên tỉnh lộ 7B. Một người lính y tá đang cúi đầu chạy dưới ruộng lôi một BĐQ bị trúng đạn đang nằm bên lề đường, xuống dưới ruộng để tránh đạn. Qua khỏi chổ đó đến một khúc đường khác, một trung đội BĐQ khác đã băng qua đường, vào tránh đạn trong một căn nhà. Gần đó một BĐQ khác trúng đạn đang nằm dẫy dụa, một BĐQ đứng trước cửa căn nhà, đưa hai tay xua qua lại làm dấu cho trên xe chúng tôi đừng bắn (trúng quân bạn). Anh ta la lớn chúc mừng “Từ đây ra đến quốc lộ 1 (Tuy Hòa) không còn chốt nào nữa… Hẹn gặp các bạn ở Saigon!”

Chiếc xe GMC chở chúng tôi vẫn tiếp tục theo sát xe của Pháo Binh Phòng Không, qua khỏi đoạn đường TĐ 34/BĐQ đang đánh chốt VC, chúng tôi đến khu vực những người đi xe Honda bị VC chận lại tàn sát trước đó một hai ngày, xe Honda đủ loại nằm ngổn ngang, xăng nhớt đổ tràn ra mặt đường. Những chiếc vali vương vãi khắp nơi, nhiều chiếc bị mở tung ra lục soát, rải rác đó đây là những xác chết trương lên đã biến thành mầu đen, người chết đủ kiểu, đủ tư thế. Đoàn xe không thể nào tránh được, cũng đang chạy lo cho sinh mạng, cán bừa lên những chiếc xe Honda, vali, và cả xác người nữa… Một mùi hôi thối khủng khiếp bốc lên bao trùm cả khu vực.

Đoàn xe đi qua gần đến quốc lộ 1, người dân Tuy Hòa ra vẫy tay chào đón… có bà cụ thắp hương khấn vái như tạ ơn trên đã cứu đoàn xe (còn sót lại). “Đoạn đường chiến binh từ Kontum về đến Tuy Hòa” của một quân nhân liên đoàn 22/BĐQ đến đây có thể nói là kết thúc. Chiều hôm đó, tôi vào đến Tuy Hòa, tìm gặp ông bạn P. Đ. Cường, người được mọi nhân viên làm việc trong ngân hàng Việt Nam Thương Tín chi nhánh Tuy Hòa thương mến. Họ cho tôi ở lại đi với họ về Saigon bằng Air Việt Nam (họ bao nguyên chuyến bay). Tôi cảm ơn nhưng từ chối… Tôi vẫn còn đơn vị, còn bạn bè, vẫn còn chiến hữu ở bên cạnh… sẵn sàng sống chết với tôi.

 Fort Hay State University

Department of Computer Science

Dallas, Texas April 22, 2021

vđh

 Ghi chú:

(1) Th/úy Lê Quyền, tiểu đoàn 11, liên đoàn 23/BĐQ (liên đoàn 2 cũ), khóa 6/72 Thủ Đức, sau khi đi học Không Trợ về làm sĩ quan ban 3 cho liên đoàn. Gặp nhau trên liên tỉnh lộ 7B, tôi đi theo cánh quân liên đoàn 22/BĐQ (đi sát vào nhau vì sợ lạc, lúc đó xe cộ, thường dân đã xen kẽ vào với đoàn xe quân đội, gây trở ngại lớn cho các đơn vị BĐQ trong vấn đề liên lạc, điều quân vào vị trí chiến đấu), Quyền ngồi băng sau xe Jeep của Tr/Tá Lê tất Biên LĐT 23/BĐQ đi ngang qua. Nhận ra nhau, cả hai chỉ biết đưa tay vẫy…

(2) Hai Trung Sĩ trẻ là Bi (Nguyễn Bá Bi) và Khánh. Cả hai ở Saigon, nhà Bi trong xứ An Lạc trên đường Lê Văn Duyệt (quân vụ Thị Trấn SG), tôi có bạn trong xứ đạo này, SVSQ Hoàng Thanh Hiệp lúc đi chiến dịch tháng Giêng năm 1973, bị thương giải ngũ (trong truyện ngắn Anh Đi Chiến Dịch. vđh). Năm 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa là năm khởi đầu cho những chuyện buồn, tiếc thương. Khi nhận trung đội, tôi rất ngạc nhiên khi có hai viên Trung Sĩ rất trẻ chỉ đáng tuổi em trai tôi. Các bạn cùng khóa 6/72 đa số sinh năm1952 đang học năm thứ nhất các phân khoa đại học Saigon, Bi và Khánh kém ba tuổi sinh năm 1955 đang học lớp 10, vừa 17 tuổi (đã trễ 1 năm học), bị động viên học lớp Hạ Sĩ Quan (chưa có bằng Tú Tài). Trung đội có ba Trung Sĩ nữa là Trung Sĩ Nê (nói đến ở phần trên), Trung Sĩ Cơ, ông này thăng tiến từ hàng binh sĩ, và Trung Sĩ Gabriel Pip (Tây lai, có nói đến trong bài viết Nơi Biên Cương. vđh) Sau trận Kon Sơ Lu, giữa tháng ba năm 1974, cả hai Bi và Khánh… mất tích!

(3) Theo lời Th/Tá Nguyễn Thanh Vân kể lại trong dịp về Dallas dự đại hội BĐQ/Dallas năm 2000, và BĐQ/Houston năm 2001. “Tôi phải cám ơn Trung Tá Huấn”

(4) Khoảng năm 2015, tôi có dịp về VN cùng đi với mấy người bạn đồng khóa 6/72 lái xe đi du lịch thăm miền trung, nhân dịp ghé thăm người bạn đồng môn, cùng binh chủng BĐQ Lê Quyền.  Quyền làm ruộng trong một làng nhỏ từ Nha Trang đi lên Tuy Hòa. Nhìn ông bạn gìa hom hem không còn là một sĩ quan trẻ đô con, tôi hơi bị sốc không dè người bạn năm xưa “xuống” dữ vậy! (ôm đứa con trai 6 tuổi. Tôi thuộc loại đàn ông “ế kinh niên!” một năm cô đơn đủ bốn mùa, có con rất trễ…) “Con thương bác Quyền không con? Bố buồn quá! Hồi xưa bác Quyền to con, tướng tá ngon lành” Quyền nói cho tôi biết, sáng hôm gặp nhau trên liên tỉnh lộ 7B, người ngồi trước là Trung Tá Lê Tất Biên, LĐT LĐ/23/BĐQ. Hôm sau nữa liên đoàn 23/BĐQ chiến đấu rất anh dũng, bị thiệt hại nặng. Bộ chỉ huy liên đoàn, cùng với bộ tư lệnh lữ đoàn 2 Kỵ Binh bị địch tràn ngập. Quyền kể tiếp “Tao bị bắt cùng với liên đoàn trưởng và Đại Tá Đồng lữ đoàn 2 Kỵ Binh. Trung Tá liên đoàn phó đi theo cánh Bravo (cánh B, bộ chỉ huy nhẹ) tử trận.”

(5) “Sự Thật Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên”, Đỗ Sơn, trang 69.

(6) Trưởng phòng 3 BĐQ/QKII cùng các sĩ quan phòng 3 đi theo đoàn quân di tản trên bộ để phối hợp các đơn vị, bị địch tấn công (cả đoàn xe kẹt cứng nằm phơi lưng trên liên tỉnh lộ 7B, địch tấn công ai người đó hứng chịu, rất khó di chuyển, điều quân, pháo binh không còn yểm trợ (xếp càng để di chuyển). Theo quyển Mùa Hè 1975, tác giả Jay Veith (vđh dịch thuật), đơn vị địch tấn công khúc cuối đoàn xe di tản là trung đoàn 9 sư đoàn 320 Bắc Việt. Đơn vị địch đang đóng quân gần biên giới hai tỉnh Darlac, Pleiku, được lệnh di chuyển lên hướng bắc tấn công đoạn cuối đoàn xe nơi quốc lộ 14 rẽ vào liên tỉnh lộ 7B.

Khi về đến Nha Trang, phòng 3 BĐQ/QKII không còn sĩ quan, tôi và Danh về trình diện được lệnh Trung Tá Bùi Văn Huấn vào bộ chỉ huy BĐQ/QKII trình diện Th/Tá Hoè (ông này làm trưởng phòng 2, lúc đó phải lo luôn phòng 3…). Tôi được ông Hoè giữ lại làm việc trong trung tâm hành quân với một Đại Úy (thuộc một đơn vị BĐQ nào đó cũng trình diện như tôi) cho đến ngày Nha Trang di tản.

(7) Mùa Hè 1975 (Jay Veith – vđh) trang 96 – 97.

Saturday, August 7, 2021

QUYẾT ĐỊNH VẬN MỆNH QUỐC GIA Theo tác phẩm Black April, tác giả Jay Veith P51

 Việc mất Ban Mê Thuột nẩy sinh ra một loạt quyết định đưa đến sự xụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa. Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH sau này nói rằng, ông ta tin việc tấn công thị xã Ban Mê Thuột thành công của quân cộng sản, ảnh hưởng “như một chất hóa học trong đầu” Tổng Thống Thiệu. Thực ra sự tổn thất nhiều hơn mất đi một thành phố. Quân cộng sản tấn công khắp nơi trên toàn quốc, người Hoa Kỳ không đáp ứng với biện pháp quân sự, và Quốc Hội Hoa Kỳ sẽ từ chối viên trợ them. Tất cả những điều đó thúc đẩy Tổng Thống Thiệu làm những quyết định thiếu suy nghĩ cẩn thận, thay đổi chiến lược căn bản của ông ta.

Từ năm 1973, Tổng Thống Thiệu chiến đấu dựa trên hai điều hứa của Tổng Thống Nixon, trả đũa mãnh liệt và viện trợ dồi dào. Cả hai đều không có, Tổng Thống Thiệu quyết định bỏ chính sách, không nhường đất đai cho cộng sản. Giữ từng tấc đất là một đường lối chính trị, không phải quân sự. Ông ta hy vọng khi quân đội Bắc Việt tấn công các tiền đồn của ông ta (VNCH), thế giới sẽ lên án cộng sản phải hủy hiệp định Paris.

Kế hoạch của Tổng Thống Thiệu thất bại, Miền Bắc đã thành công với bức tranh vẽ Hoa Kỳ và VNCH là những người vi phạm hàng loạt và chịu trách nhiệm với tình thế hiện tại. Mặc dầu quân đội của ông Thiệu có vi phạm trong vài trường hợp nhưng so với quân cộng sản, họ vi phạm hiển nhiên, tất cả mọi điều khoản trong bản hiệp định Paris. Bây giờ, với quân đội của Tướng Giáp đổ vào đường HCM và thế giới quay mặt đi đối với Nam Việt Nam. Tổng Thống Thiệu cho rằng, không còn cách lựa chọn nào khác ngoài bước thêm một bước đi nguy hiểm để cứu đất nước của ông ta.

Buổi sáng hôm 11 tháng Ba, Ông Thiệu mời ba cố vấn quân sự cao cấp vào dinh Độc Lập làm việc và ăn bữa sáng. Có mặt Tướng Viên, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, và Trung Tướng Đặng Văn Quang, cố vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Thiệu. Thủ Tướng Khiêm thâm niên nhất trong bốn người nhưng vẫn đứng trong bóng tối của ông Thiệu. Ông Quang mang tiếng là người tham nhũng nhất. Bốn người sẽ quyết định vận mệnh miền nam Việt Nam.

Sau khi người bồi bàn đã dọn sạch bát điã, Tổng Thống Thiệu lấy trong túi ra một bản đồ Việt Nam nhỏ. Nhìn ba viên tướng, ông ta nói tình hình đất đước. Trong tầm mắt ông ta, miền Nam Việt Nam không thể nào phòng vệ tất cả lãnh thổ. Chỉ có chút hy vọng sự trở lại sức mạnh quân sự của người Hoa Kỳ, một sự củng cố quân đội cùng với vấn đề tiếp liệu có thể là cơ hội tốt nhất để sống sót. Điều đó cho thêm thời gian để chuẩn bị điều ai cũng biết, miền Bắc sẽ làm “cú dứt điểm” (phát súng ân huệ) trong năm 1976. Có chống đối, la làng cũng vậy, thế giới chẳng ai “màng” đến mình, họ phải lo cho vấn đề kinh tế của riêng họ.

Tổng Thống Thiệu lúc đó tin rằng, chính quyền miền Nam cần tái phối trí quân đội, bảo vệ những khu vực đông dân cư, có nền kinh tế lớn trong nước (nam Việt Nam). Những khu vực đó là trọng tâm của miền nam, từ phiá nam của quân đoàn II - một đường thẳng từ Ban Mê Thuột đến Tuy Hòa (Phú Yên) nơi bờ biển - đến mũi Cà Mau, khu vực cuối cùng của đồng bằng sông Cửu Long. Đó là phiên bản lớn hơn của một thời xa xưa duới chế độ thực dân Pháp “Cochin China” (hoàn toàn miền nam). Gần hết tài nhiên thiên nhiên đều nằm trong miền nam, mỏ dầu, kho lúa gạo của quốc gia đều ở trong vùng này. Ông Thiệu sẽ bỏ gần hết lãnh thổ quân khu I, mặc dầu ông muốn giữ Đà Nẵng để trong tương lai có thể phản công lấy lại đất lai. Ông ta cũng muốn giữ thành phố Huế, nhưng khó khăn chống lại mũi tấn công của địch.

Theo bản đồ của Tổng Thống Thiệu, phải lấy lại Ban Mê Thuột, góc tây bắc chia đôi miền nam Việt Nam. Nếu quân cộng sản cố thủ, chiếm giữ thành phố, họ có thể tiến công về Saigon theo ba hướng: từ Đà Lạt theo hướng bắc, Nha Trang theo hướng đông, và Tây Ninh từ hướng tây. Ông Thiệu đã học bài học này từ người Pháp, lấy thủ đô (Ban Mê Thuột) của người Thượng làm căn cứ chính trên vùng cao nguyên. Hơn nữa, ông Thiệu muốn tiêu diệt sư đoàn 320 mà ông ta vẫn nghĩ là đơn vị tấn công Ban Mê Thuột. Cuối cùng, ông Thiệu muốn đưa quân ra khỏi khu vực bị cô lập, dễ bị tấn công trên vùng cao nguyên. Nếu không, “các đơn vị VNCH sẽ bị tiêu diệt vì không còn quân trừ bị để yểm trợ, và không quân không đủ sức tiếp tế cho họ.” Sau khi tái chiếm Ban Mê Thuột, quân đội VNCH có thể đưa quân tấn công lên Pleiku, Kontum. Tổng Thống Thiệu gọi chiến chiến lược mới của ông ta “Nhẹ đầu, nặng phần sau”. Sợ chiến lược mới này lộ ra ngoài, điệp viên… Ông Thiệu chỉ cho một số rất ít người biết quyết định của ông ta. Người Hoa Kỳ không được biết.

Tổng Thống Thiệu chọn (chiến lược) bỏ phần đất đai rộng lớn, là một quyết định chiến lược quan trọng đầu tiên, ở miền Nam trong vòng thập niên chiến tranh. Có nhiều lý thuyết đưa ra giải thích tại sao Tổng Thống Thiệu bất ngờ chọn quyết định này.

Đại sứ Martin và các viên chức cao cấp Hoa Kỳ cho rằng, quyết định của Tổng Thống Thiệu vì thiếu hy vọng nhận được viện trợ trong tương lai. Đại sứ Martin nói với Tiến Sĩ Kissinger và các viên chức khác, sự đón tiếp lạnh nhạt phái đoàn Thượng Nghị Sĩ VNCH trong tháng Hai và sự trở về (Hoa Kỳ) của đoàn dân biểu Hoa Kỳ (thù nghịch với VNCH) đã thuyết phục Tổng Thống Thiệu rằng sẽ không được tiếp tục viện trợ. Sự phân tích của đại sứ Martin chỉ đúng phần nào. Mặc dầu kết qủa chuyến đi của Ngoại Trưởng Lắm và chuyến thăm của phái đoàn dân biểu quốc hội Hoa Kỳ làm thất vọng ông Thiệu, ông ta vẫn tiếp tục xin viện trợ cho đến cuối cuộc chiến. Trên thực tế, Tổng Thống Thiệu đã phải đối diện với những khó khan quân sự trong trận tấn công năm 1972. Thực vậy, năm đó tình thế bết hơn nhiều, An Lộc bị bao vây, Kontum bị cắt đứt (ngay đèo Chu Pao), và Quảng Trị đã mất. Nhưng Tổng Thống Thiệu đã ra lệnh phải giữ các thành phố đó bằng mọi giá, hoặc phản công, tái chiếm. Tại sao bây giờ không làm?

Theo Đại Tướng Cao Văn Viên, quyết định của Tổng Thống Thiệu năm 1972, bảo vệ các thành phố là một quyết định chiến thuật không hay (poor tactical judgement). Tổng thống ra lệnh cho quân đội “giữ vững những nơi đó bởi vì vấn đề chính trị, tâm lý, nếu mất các thành phố đó sẽ hủy diệt miền Nam Việt Nam…Bỏ rơi những vị trí đó sẽ làm cho nền chính trị xụp đổ.. Đó là nhận định rỏ ràng của Tổng Thống Thiệu” Tướng Viên nói thêm rằng, nếu quân đội VNCH bỏ Kontum năm 1972 “cả vùng cao nguyên và tỉnh Bình Định sẽ mất… vấn đề phòng thủ trở nên khó khăn vì xuống tinh thần… miền nam Việt Nam có thể bị cắt làm đôi” đưa đến “thảm họa cho cả nước” (the eventual doom of the country).

Nếu Tổng Thống Thiệu quyết định không rút các đơn vị chính quy ra khỏi khu vực bắc cao nguyên năm 1972, vì như vậy có thể gây hậu qủa “nền chính trị xụp đổ”. Chủ tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn cho rằng quyết định của ông Thiệu “không thể vì tùy hứng, hay là người đàn ông thấm mệt bị khủng hoảng về chuyện mất Ban Mê Thuột. Đó là kết qủa sự thay đổi chiến lược của ông ta và cán cân đã nghiêng về phiá miền Bắc Việt Nam”

Sự khác biệt không phải chỉ vì thiếu viện trợ, mà còn thiếu sự yểm trợ của quân đội Hoa Kỳ. Năm 1972, ông Thiệu có Không quân, Hải quân Hoa Kỳ yểm trợ hỏa lực, chuyển vận. Nhưng bây giờ, ông ta không có cả hai, quân đội của ông ta phải đối mặt với quân đội Bắc Việt, 20 sư đoàn dạn dầy chiến trận, tái phối trí quân đội chỉ bảo vệ những khu vực dễ chống cự là giải pháp duy nhất.

Rút quân trên vùng cao nguyên là điều táo bạo nhất. Tổng Thống Thiệu cố thực hiện cuộc triệt thoái trong khi các đơn vị mạnh mẽ của địch đang ở gần đó, không có sức mạnh của Không Quân Hoa Kỳ chận địch quân lại trường hợp họ tấn công. Nhưng nếu để Kontum, Pleiku trong chiến hào, pháo đài, trong khi quân của Tướng Dũng (BV) tấn công về miền duyên hải, những đơn vị đó (bảo vệ Kontum, Pleiku) sẽ chết lần mòn vì đói (bị cắt đường tiếp tế). Pleiku bị bao vây từ ba phiá, phi trường Cù Hanh bị pháo kích bát ngờ không theo chu kỳ nào.

Đa số sĩ quan cao cấp không đồng ý với quyết định của ông Thiệu. Quyết định của Tổng Thống hiệu có thể có dấu hiệu trước đó. Viên Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ ở Nha Trang, Moncrieff Spear viết trong quan điểm của ông ta về sự xụp đổ của quân đoàn II “Đầu năm 1975, tôi được khuyến cáo bí mật rằng, trong trường hợp một trận tấn công quy mô trong vùng cao nguyên, cấp tối cao trong chính quyền VNCH đã quyết định không phòng thủ Kontum” Trong khi bề ngoài ông Thiệu bác bỏ kế hoạch rút lui.

Không may cho người dân miền nam, quyết định mới được thi hành thiếu sự chuẩn bị. Tổng Thống Thiệu để trống việc rút lui, nhưng chưa hề ra lệnh thảo kế hoạch. Bây giờ, ông Thiệu đổi ý bất ngờ, và ba tướng lãnh cao cấp trong quân đội VNCH cũng nhanh chóng đồng ý với chiến lược mới. Thực ra ông Thiệu đã quyết định và ba viên tướng cố vấn im lặng chấp nhận. Tiếp theo là nhiệm vụ của họ làm sao kế hoạch được thành công (rút quân), mặc dầu khó khăn.

Sau bữa họp, ăn sáng, lệnh từ Tổng Thống Thiệu ban ra, rút sư đoàn Nhẩy Dù từ ngoài vùng I chiến thuật về. Hôm 12 tháng Ba, Tướng Phú báo cáo về Saigon, tất cả mọi kháng cự ở Ban Mê Thuột đã chấm dứt. Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH ra lệnh cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng trả sư đoàn Dù về Saigon. Tướng Trưởng yêu cầu được nói chuyện với Tổng Thống. Ngày hôm sau Tướng Trưởng bay vào Saigon, ông Thiệu giải thích quan niệm của ông ta bảo vệ khu vực thâu gọn lại dễ hơn. Ngoài quân đoàn I, Tướng Tưởng được lệnh bảo vệ Đà Nẵng bằng mọi giá, nhưng được quyền hy sinh những gì khác (thành phố khác…)

Tướng Trưởng ngạc nhiên, tuyên bố rút sư đoàn Dù trong lúc bị đe doạ tấn công có thể thua trận nặng nề. Ông ta sẽ phải bỏ bớt đất đai, di chuyển quân để bao che các vị trí của sư đoàn Dù nơi hướng tây thành phố Đà Nẵng. Tổng Thống Thiệu đồng ý cho Tướng Trưởng trả sư đoàn Dù về Saigon từ từ, từng lữ đoàn, lữ đoàn đầu tiên phải trả về trước ngày 17 tháng Ba. Để thay thề, lữ đoàn TQLC mới thành lập 468 sẽ được gửi ra ngoài vùng I chiến thuật. Ông Thiệu chẳng còn gì để tăng cường cho quân đoàn I, hai liên đoàn BĐQ mới thành lập chưa sẵn sàng tác chiến, liên đoàn 7 BĐQ sẽ lên quân đoàn II (vùng cao nguyên), và lữ đoàn 4 Nhẩy Dù mới thành lập sẽ hoạt động trong khu vực gần Saigon.

Sau khi gặp Tướng Trưởng, Tướng Phú nhận được công điện gặp Tổng Thống Thiệu hôm 14 tháng Ba trong vịnh Cam Ranh.

Sáng ngày 14 tháng Ba, Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Viên và Trung Tướng Quang bay ra Cam Ranh thông báo cho Tướng Phú về kế hoạch mới. Đó là bản thứ hai, đã có sửa chữa chiến lược mới của ông Thiệu. Bỏ cả một vùng đất đai rộng lớn còn nguy hiểm hơn chuyển quân giữa các vùng chiến thuật. Không có biên bản, bản thảo về buổi họp ở Cam Ranh, buổi họp quan trọng nhất trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Chỉ có Tướng Viên cung cấp một bài tóm lược về buổi họp.

Tổng Thống Thiệu bắt đầu hỏi Tướng Phú, sự phân tích của ông ta về tình hình. Tình hình không được tốt, ông Phú nói quốc lộ 19, con đường quan trọng nhất trên vùng cao nguyên bị cắt ở hai chỗ. Các con đường chính yếu khác cũng bị cắt đứt. Ông ta báo cáo, quân ta vừa bắt được một tù binh Bắc Việt thuộc sư đoàn 316 gần Ban Mê Thuột. Tổng Thống Thiệu nghe báo cáo, đã biết trước, sự xuất hiện của sư đoàn tổng trừ bị từ miền Bắc vào đã làm thay đổi cán cân lực lượng.

Khi Tướng Phú nói xong, ông Thiệu hỏi ông ta có thể lấy lại Ban Mê Thuột với lực lượng đang có mặt xung quanh thị xã? Tướng Phú trả lời không! rồi yêu cầu được tăng cường sư đoàn Dù để phản công lấy lại thành phố. Tổng Thống Thiệu từ chối! Quay sang Tướng Viên, ông Thiệu hỏi còn đơn vị tổng trừ bị nào nữa không? Tướng Viên nói rằng Tướng Phú đã nhận được đơn vị tổng trừ bị cuối cùng (từ trong Saigon gửi ra), liên đoàn 7 Biệt Động Quân. Không còn quân trừ bị, Ông Thiệu ra lệnh cho Tướng Phú tái phối trí các đơn vị chính quy trên Pleiku và Kontum để tái chiếm Ban Mê Thuột. Điều quan trọng, không ai được biết kế hoạch, kể cả người Hoa Kỳ. Điạ Phương Quân, Nghĩa Quân người Thượng, và nhân viên hành chính ở Pleiku và Kontum ở lại bảo vệ cơ sở, những gì họ có thể làm được.

Tướng Viên sau này thuật lại chính xác chuyện này như “khúc quanh quan trọng nhất trong suốt cuộc chiến” Nhiều lỗi lầm, khó hiểu vẫn còn, tuy nhiên về độ chính xác lệnh của Ông Thiệu và những gì Tướng Phú hiểu. Phụ tá của Tướng Phú, Phạm Huấn, đang ngồi bên ngoài phòng họp, nói với ông ta là Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho ông ta triệt thoái. Nhiều năm sau, Tướng Viên vẫn cho rằng ông Thiệu không ra lệnh cho Tướng Phú triệt thoái khỏi Pleiku. Trong tháng Chín năm 1975, ông Viên trả lời một phóng viên Hoa Kỳ “vì lẽ nào đó lệnh của Tổng Thống Thiệu được hiểu ‘tương tự’ với triệt thoái, nhưng ông ta chưa hề ra lệnh như vậy. Ông ta nói Tướng Phú, tùy quyền tái phối trí lực lượng để lấy lại Ban Mê Thuột” Trùm văn phòng CIA ở Nha Trang không đồng ý, sau này viết về ông Thiệu “Rõ ràng ra lệnh cho Tướng Phú bỏ rơi Pleiku và Kontum”

Cả hai, Ông Khiêm và ông Quang ngồi nghe, không có ý kiến, sau này nói với Trùm CIA trong Saigon, Thomas Polgar rằng họ không ngờ, ông Thiệu có ý định ra lệnh cho Tướng Phú triệt thoái.

Mặc dầu rất khó khan trong việc tái phối trí một đơn vị lớn trong khi đang bị tấn công, dường như Tướng Phú không cố gắng thuyết phục Tổng Thống Thiệu thay đổi quyết định.

Làm thế nào để cuộc triệt thoái được hoàn tất? Khả năng không vận của Không quân VNCH rất giới hạn, không thể được. Quốc lộ 19 đã bị cắt, địch quân đóng chốt rất chắc chắn, khó khai thong con đường. Trung đoàn 95A tấn công bất ngờ hôm trước, tiêu hủy các thiết vận xa M-113 yểm trợ liên đoàn 4 Biệt Động Quân (đang đánh các chốt VC khai thông quốc lộ 19). Tướng Viên nhắc nhở Tướng Phú, quân Pháp trước đây xừ dụng quốc lộ này đã bị rơi vào ổ phục kích của địch. Quốc lộ 14, dễ bị lộ và phải chiến đấu băng qua phòng tuyến sư đoàn 320 Bắc Việt mới đến Ban Mê Thuột nơi có sẵn hai sư đoàn Bắc Việt đang chờ (316, 10).

Tướng Phú nhận định rằng một cuộc triệt thoái thành công cần yếu tố bất ngờ, do đó ông ta có ý định xử dụng liên tỉnh lộ 7B, con đường duy nhất trên cao nguyên vẫn chưa bị địch cắt. Con đường này tách ra từ quốc lộ 14 nơi phiá nam Pleiku, đi ngang qua thị trấn Cheo Reo thủ phủ tỉnh Phú Bổn, rẽ sang hướng đông đến thành phố ven biển Tuy Hòa, thủ phủ tỉnh Phú Yên. Từ đó quân của Tướng Phú sẽ di chuyẻn vè hướng nam trên quốc lộ 1 đến quốc lộ 21, rẽ về hướng tây đến Ban Mê Thuột. Đoạn đường từ Pleiku đến Tuy Hòa dài 155 dặm, và từ Tuy Hòa đi Ban Mê Thuột thêm 147 dặm nữa. Quân đoàn II phải di chuyển 300 dặm mới đến chiến trường.

Ngoài ra, chỉ một phần liên tỉnh lộ 7B xử dụng được, đoạn đường từ Pleiku đến Cheo Reo, xe chạy tốt. Từ Cheo Reo đi tiếp về miền duyên hải, lộ trình 80 dặm, đường xá hư hỏng, nhỏ hẹp, quanh co qua vùng rừng núi rậm rạp, nhiều giòng suối nhỏ. Có tất cả 17 chiếc cầu từ Cheo Reo về đến Tuy Hòa, tất cả đều yếu không được sửa sang từ lâu. Điều quan trọng, đoàn xe, người di tản phải băng qua giòng sông Ba (có tầm cỡ) hai lần. Chiếc câu đầu tiên khoảng 10 dặm phiá đông nam Cheo Reo, qúa yếu phải làm cầu nổi dài khoảng 50 thước cho chiến xa băng qua. Tiếp theo là đoạn đường xấu dài 55 dặm đến Cung Sơn, tỉnh Phú Yên. Một quận nhỏ Phú Túc nằm giữa Cheo Reo và Cung Sơn, cũng phải vượt qua một giòng suối lớn và chiếc cầu mong manh.

Phần còn lại 15 dặm từ Cung Sơn đi Tuy Hòa, còn rất nhiều mìn bẫy quân đội Đại Hàn để lại. Chỉ có một con đường đi vòng qua khu vực mìn bẫy, tách ra từ tỉnh lộ 7B, qua một chiếc cầu ngang qua sông Ba, đi vào tỉnh lộ 436 đến Tuy Hòa. Chiếc cầu đã bị phá hủy từ lâu, Công Binh phải làm chiếc cầu mới cho đoàn xe băng qua sông Ba. Khúc sông này rộng lớn đến 300 thước.

 

HIỆP ĐẤU THỨ HAI TẠI BAN MÊ THUỘT

Xế chiều ngày 12 tháng Ba, hai tiểu đoàn thuộc trung đoàn 45 được trực thăng vận đến khu vực ngoại ô thị xã Ban Mê Thuột, trấn đóng trên đồi 581, chỉ cách hậu cứ trung đon 53 đang bị địch bao vây một dặm. Trung Tướng Hoàng Minh Thảo (B-3) được báo cáo, đúng như ông đã tiên đoán, quân đội VNCH tăng viện cho mặt trận Ban Mê Thuột bắt buộc phải đổ quân nơi hướng đông thị xã, từ đó tiến vào. Khi đơn vị trinh sát trung đoàn 45 tiến lên bắt tay với đơn vị mẹ (trung đoàn), Tưng Thảo ra lệnh tấn công cả hai nơi.

Hậu cứ trung đoàn 53 cách thị xã khoảng bốn dặm, nằm trên một khu đất trống trải, bằng phẳng giữa quốc lộ 21 và một con đường đi về hướng nam. Trong căn cứ có tiểu đoàn 3/53, đại đội công vụ trung đoàn. Bên ngoài là bẩy lớp hàng rào kẽm gai, sau đó là giao thông hào chống chiến xa, với những pháo đài bố trí súng đại liên. Bên trong còn có thêm vài thiết vận xa M-113, mấy ổ súng cối 60, 81 ly. Căn cứ đã đẩy lui trận tấn công của đặc công sáng hôm 10 tháng Ba. Quân đội Bắc Việt tấn công trở lại ngày hôm sau, 11 tháng Ba, xử dụng trung đoàn 149 sư đoàn 316. Một lần nữa quân trú phòng đẩy lui trận tấn công, nhưng tình hình kéo dài càng bất lợi cho quân trú phòng. Thương binh không được di tản, tiếp liệu, đạn dược cạn dần.

Quân đội Bắc Việt mở trận tấn công mới bằng hai mũi tấn công, một mũi tấn công hậu cứ trung đoàn 53 BB, mũi thứ hai tấn công khu vực xung quanh phi trường Phụng Dực. Như những căn cứ quân sự VNCH, cổng chính làm sơ sài bằng kẽm gai, không có chướng ngại vật vững chắc ngăn cản. Quân đội Bắc Việt tấn công với ba chiến xa đi đầu, theo sau là một tiểu đoàn bộ binh.

Hừng đông ngày 14 tháng Ba, trung đoàn 149, sư đoàn 316 được 6 chiến xa dẫn đầu tấn công. Cánh quân tấn công khu vực xung quanh phi trường khám phá ra, quân đội VNCH đã rút ra khỏi khu vực. Cánh quân tấn công hậu cứ trung đoàn 53 BB gặp trở ngại, một chiến xa đi lạc, hai chiếc kia vào bên trong cổng, rẽ trái bị bắn hạ, tiểu đoàn bộ binh theo sau cũng bị tổn thất. Tớng Thảo (BV) tăng cường thêm 5 chiến xa, đồng thời ra lệnh phải thanh toán mục tiêu ngay trong đêm. Kết qủa không thành công, bị thiệt hại nặng, trung đoàn 149 phải rút lui để củng cố, bổ sung quân số.

Trong khi trung đoàn 53 đẩy lui các trận tấn công của địch, Tướng Thảo (BV) ra lệnh tấn công hai tiểu đoàn thuộc trung đoàn 45 (được xem là trung đoàn hạng nhất của sư đoàn 23 BB) trên đồi 581. Trận tấn công này dễ dàng hơn nhiều, hai tiểu đoàn thuộc trung đoàn 45 vừa được trực thăng vận vào đồi 581, chưa đào công sự phòng thủ chiến đấu, nhiều binh sĩ đào ngũ nhập vào đoàn người chạy giặc đi tìm thân nhân. Trung đoàn 24, sư đoàn 10 (BV) được chiến xa và một tiểu đoàn phòng không đã di chuyển bí mật vào khu vực từ đêm 13 tháng Ba.

Đúng 7:00 giờ sáng ngày 14 tháng Ba, Tướng Phú bay đi Cam Ranh để họp với Tổng Thống Thiệu, quân đội Bắc Việt tấn công. Trên đồi 581, một tiểu đoàn nằm giữ ngọn đồi, tiểu đoàn kia đang tập họp ở phiá bên kia. Hai tiểu đoàn của trung đoàn 45 chỉ có một pháo đội 105 ly yểm trợ, trông thấy chiến xa Bắc Việt cùng bộ binh tiến lên từ dưới chân đồi, binh sĩ VNCH mất tinh thần bỏ chạy. Chiến xa, bộ binh Bắc Việt tràn qua phiá bên kia, “ủi” vào tiểu đoàn bộ binh thứ hai, khẩu đại bác 100 ly trên pháo tháp cùng với đại liên tha hồ nhả đạn. Đến 11:00 giờ sáng, đơn vị hỗn hợp bộ binh Chiến Xa Bắc Việt đổ vào quốc lộ 21.

Đơn vị Bắc Việt đến chiếc cầu đầu tiên có một đại đội Điạ Phương Quân nằm giữ. Khi trông thấy đoàn chiến xa Bắc Việt di chuyển thành hàng dài trên quốc lộ 21, họ phá hủy chiếc cầu rồi rút lui. Công Binh sư đoàn 10 Bắc Việt nhanh chóng xây một cầu chìm, đủ cho chiến xa vượt qua, tiếp tục truy kích. Khi đơn chiến xa Bắc Việt trông thấy một vị trí pháo binh VNCH cách khoảng 500 thước, họ chạy đến tấn công, lấy được bốn khảu 105 ly và hàng trăm viên đạn.

Đơn vị hỗn hợp chiến xa, bộ binh Băc Việt tiếp tục tiến trên quốc lộ 21, đánh tan hàng một tiểu đoàn Điạ Phương Quân đang nằm giữ một làng nhỏ. Đến trưa ngày 14 tháng Ba, sư đoàn 10 Bắc Việt đánh tan hàng ba tiểu đoàn VNCH, giết chết khoảng 200 binh sĩ, bắt sống nhiều tù binh và tịch thâu hàng trăm vũ khí. Trong một trận tấn công chớp nhoáng, trung đoàn thứ hai của sư đoàn 23 bị thiệt hại nặng. lực lượng phản công chính yếu của Tướng Phú bị loại khỏi vòng chiến.

Trong khi đó, tư lệnh sư đoàn 23 Bộ Binh, Chuẩn Tướng Lê Trung Tường ra lệnh cho các nhóm quân thất lạc của trung đoàn 45 chạy về hướng liên đoàn 21 Biệt Động Quân đang trấn giữ một ngôi làng nhỏ Nông Trại trên quốc lộ 21, cách Ban Mê Thuột 12 dặm về hướng đông. Tất cả lệnh lạc đều bị đơn vị kiểm thính Bắc Việt bắt được. Cách quân Phước An 5 dặm về hướng đông, sư đoàn 23 BB thiết lập bộ tư lệnh tiền phương.

Trong khi Tướng Tường cố gắng gom quân thất lạc, kế hoạch chuyển quân của Tướng Phú gặp trở ngại, không đủ trực thăng vận tải Chinook CH-47. Đến xế chiểu ngày 14, chỉ đưa vào vùng hành quân được một tiểu đoàn (còn lại) trung đoàn 45, một tiểu đoàn và bộ chỉ huy trung đoàn 44. Trung đoàn 44 được trao vị trí đóng quân gần Phước An, phần còn lại của trung đoàn phải đợi đến ngày hôm sau.

Quân đội Bắc Việt cắt quốc lộ 21 giữa Phước An và miển duyên hải, tất cả mọi việc tiếp đều phải dùng phương tiện trực thăng. Việc cắt giảm viện trợ làm thiếu nhiên liệu, cơ phận máy bay, do đó số chuyến bay giảm đi rất nhiều, nên Không Quân không đủ để đem chiến cụ nặng như pháo binh chiến xa vào vùng hành quân, ngoài ra bộ binh Bắc Việt được trang bị hỏa tiễn SA-7 chống các loại phi cơ bay chậm như trực thăng, nên sự yểm trợ của Không Quân rất giới hạn. Binh sĩ VNCH chiến đấu chống chiến xa, pháo binh Bắc Việt bằng vũ khi cá nhân có thể đêm theo được, như M-72.

Sau khi trung đoàn 45 bị loại khỏi vòng chiến, Tướng Phú nhận định tình hình Ban Mê Thuột gần như tuyệt vọng, ông ta tìm cách khai thông quốc lộ 21. Hôm 15 tháng Ba, Tướng Phú ra lệnh cho Tướng Tường bỏ qua chuyện phản công, tấn công vị trí bị quân đội Bắc Việt cắt (đánh giải tỏa các chốt, nút chặn trên đường) từ hướng tây, một đơn vị Điạ Phương Quân khác (tiểu khu Khánh Hòa, Nha Trang) sẽ hợp lực tấn công từ hướng đông. Đồng thời Tướng Phú ra lệnh ngừng chuyển quân trung đoàn 44 để xử dụng trực thăng di chuyển bộ tư lệnh tiền phương của ông ta về Nha Trang (trung đoàn 44 di tản bộ trên liên tỉnh lộ 7B cùng với các liên đoàn BĐQ, Thiết Giáp…)

Tướng Hoàng Minh Thảo (B-3) không để cho Tướng Phú gom quân, củng cố đơn vị dễ dàng. Một trung đoàn thuộc sư đoàn 10 (BV) vẫn còn ở Đức Lập được lệnh di chuyển nhanh chóng vào Ban Mê Thuột sáng ngày 15 tháng Ba. Hai trung đoàn khác thuộc sư đoàn 24 và 66 được lệnh tảo thanh khu vực phiá bắc và nam quốc lộ 21, hướng về Nông Trại (quân thất lạc trung đoàn 45). Mũi tấn công chính vào Nông Trại do một tiểu đoàn bộ binh, được tăng cường chiến xa, pháo binh phòng không tiến công trên quốc lộ 21 thẳng vào Nông Trại.

Sáng ngày 16 tháng Ba, sư đoàn 10 tấn công, tràn qua phòng tuyến trung đoàn 45 dễ dàng, chiếm được Nông Trại. Sau đó đơn vị chiến xa tiến về Phước An. Chiến xa Bắc Việt chạy ngang qua vị trí VNCH, binh sĩ tan hàng, bỏ chạy hỗn loạn. Lúc đó trời quang đãng, phi cơ lên oanh kích bắn cháy mấy chiến xa làm địch quân khựng lại, đủ thì giờ cho Phước An di tản.

Cũng trong ngày 16, trong khi bay trực thăng chỉ huy, Tướng Tường bị thương nhẹ nơi mặt do đạn phòng không bắn trúng máy bay. Ông ta bay đến một bệnh viện ở Nha Trang… nhập viện. Tướng Phú nổi giận, cách chức tư lệnh sư đoàn 23 BB, rồi bay lên phòng tuyến VNCH gần Phước An bổ nhiệm Đại Tá Lê Hữu Đức, đứng đầu chương trình bình định quân đoàn II lên trông coi sư đoàn 23 BB đang tan rã. Đến chiều ngày 16 tháng Ba, sư đoàn 10 Bắc Việt hoàn toàn làm chủ tình hình khu vực Phước An.

Trong khi các đơn vị sư đoàn 23 BB, Điạ Phương Quân, liên đoàn 21 BĐQ rút lui, Tướng Phú ra lệnh tiểu khu Khánh Hòa, khai thông quốc lộ 21. Đại Tá Đức (tân tư lệnh sư đoàn 23 BB) quan sát tình trạng đơn vị, ông ta sửng sốt trước tình trạng gần như hoàn toàn xụp đổ sức mạnh của đơn vị, trước hỏa lực của địch và tình trạng đào ngũ đi tìm thân nhân. Liên đoàn 21 (-) BĐQ báo cáo chỉ còn 240 quân (trong tổng số 2 tiểu đoàn 1000 quân). Trung đoàn 45 chỉ còn khoảng 200 quân trong tổng số 2500. Bộ tư lệnh tiền phương sư đoàn có 42 người đa số thuộc các đại đội yểm trợ: truyền tin, vận tải, công binh. Chỉ còn một tiểu đoàn thuộc trung đoàn 44, sư đoàn 23 vẫn còn kỷ luật.

Sau khi đánh tan lực lượng tiếp viện VNCH, Tướng Thảo (BV) ra lệnh thanh toán mục tiêu còn lại, hậu cứ trung đoàn 53 BB. Ông ta tăng cường cho đơn vị tấn công, bốn chiến xa, pháo binh, rút trung đoàn 66, sư đoàn 10 từ Nộng Trại về yểm trợ cho trận tấn công. Cấp chỉ huy quân đội Bắc Việt chia lực lượng tấn công theo hai hướng, Trung đoàn 66 sẽ tấn công từ hướng bắc, trung đoàn 149 sư doàn 316 tấn công từ hướng nam. Địch quân bắt đầu với đợt pháo kích phủ đầu, tiếp theo công binh sẽ dùng bộc phá (Bangalore) làm bung mấy lớp hàng rào kẽm gai, mở đường cho bộ binh tràn vào bên trong căn cứ. Quân trú phòng trung đoàn 53 BB chống trả quyết liệt. Khoảng 8:00 giờ sáng ngày 17 tháng Ba, Đại Tá Võ Ân (được thăng cấp) cùng với khoảng 100 binh sĩ rút ra khỏi căn cứ, chạy về hướng Phước An. Ngày 24 tháng Ba, đoàn quân còn lại của trung đoàn 53 về đến Nha Trang, chỉ còn Đại Tá Ân với khoảng 30 binh sĩ.

Trên quốc lộ 21, vị tư lệnh sư đoàn 10 (BV) họp ban tham mưu bàn kế hoạch tiêu diệt sư đoàn 23 BB, thực ra chỉ còn lại một tiểu đoàn của trung đoàn 44, hai tiểu đoàn kia vẫn còn ở Pleiku và sẽ rút cùng với Biệt Động Quân, Thiết Giáp. Sư đoàn 10 vẫn còn trung đoàn 28 nguyên vẹn vào thay thế trung đoàn 24 làm mũi dùi chính. Ông ta cho một tiểu đoàn bộ binh cùng với chiến xa và phòng không tiến trên quốc lộ 21. Hai tiểu đoàn còn lại sẽ đi vòng ra sau phòng tuyến trung đoàn 44 cắt đường rút lui.

Sáng sớm ngày 17 tháng Ba, trung đoàn 28 bắt đầu tấn công. Trung đoàn 44 có chống cự nhưng không ngăn được địch quân. Quân đội Bắc Việt đánh xuyên qua phòng tuyến VNCH, tiếp tục tiến về hướng đông (Nha Trang). Trong tình thế gấp rút, Tướng Phú đưa trung đoàn 40 sư đoàn 22 Bộ Binh đang nằm trừ bị trong tỉnh Bình Định vào trấn giữ quân Khánh Dương, lập phòng tuyến mới. Sau đó, Tướng Phú gọi Tổng Thống Thiệu, xin thêm quân tăng cường. Lữ đoàn 3 Nhẩy Dù từ ngoài vùng I, trên đường về Saigon bằng tầu Hải Quân, được lệnh đổi hướng vào Nha Trang, ra lập tuyến phòng thủ nơi đèo M’Drak giữa đường từ Khánh Dương tới bờ biển. Đến trưa ngày 18, sư đoàn 10 (BV) đã tiến quân gần đến Khánh Dương, bắt sống hơn 2000 binh sĩ VNCH, sư đoàn 23 Bộ Binh không thể nào phục hồi lại được.

 

CHÚNG TA CÓ THỂ TĂNG TỐC ĐỘ NHANH HƠN KHÔNG?

Trong buổi sáng hôm 11 tháng Ba, bộ Chính Trị họp để duyệt xét kết qủa của những ngày tấn công đầu tiên trong tháng ba. Sau khi Tướng Hoàng Văn Thái thuyết trình, các chiến thắng trên vùng cao nguyên và “Chiến trường Phối hợp”, mọi người hứng thú bàn chuyện kế tiếp. Một điều có thể thực hiện, đánh chiếm Huế và Đà Nẵng. Có người tiên đoán quân đội VNCH sẽ tử thủ Pleiku, người khác cho rằng VNCH sẽ rút bỏ vùng cao nguyên.

Sau khi lắng nghe bàn luận, Lê Dẫn đưa ra một câu hỏi quan trọng “Trước đây, chúng ta đã thảo chiến lược giải phóng miền Nam trong vòng hai năm. Cách đây không lâu, chúng ta lấy đuợc Phước Long, bây giờ Ban Mê Thuột. Chúng ta có thể tăng tốc độ nhanh hơn kh6ng? Có phải Ban Mê Thuột bắt đầu cho một trận tổng tấn công chiến lược?”

Một người nóng nẩy, Lê Duẫn muốn mở một trận tấn công lớn vào Saigon, nhưng ông ta gặp phải chưóng ngại vật. Tầm nhìn xa của vị tướng chiến trường khác với những người đang ngồi ở Hà Nội. Thay vì di chuyển xuống phiá nam, tấn công Saigon như đánh một canh bạc, Tướng Dũng tìm giải pháp khai triển từng bước. Ông ta muốn gia tăng mức độ, rút ngắn thời gian đánh chiếm Darlac và Phú Bổn, sau đó tiến lên hướng bắc tấn công Pleiku, Kontum. Sau khi chiếm được bộ tư lệnh sư đoàn 23 BB, Tướng Dũng gửi một điện văn cho Tướng Giáp, báo cáo và cho biết những mục tiêu mới “Chúng ta đã hoàn toàn kiểm soát Ban Mê Thuột. Tất cả các mục tiêu chính bao gồm: bộ tư lệnh sư đoàn 23 BB, bộ chỉ huy tiểu khu, các căn cứ pháo binh, thiết giáp, phi trường trong thành phố (phi trường L-19). Chúng ta đang lục soát tàn quân địch đang lẩn trốn bên trong thành phố. Sơ khởi, ta bắt được hơn 1000 tù binh… số lượng lớn quân dụng… Dựa trên tinh thần của địch trên vùng Tây Nguyên (cao nguyên) đang suy xụp, yếu dần và bị cô lập. Lực lượng của chúng ta vẫn còn mạnh… chúng tôi có ý định: 1) Bảo vệ Ban Mê Thuột đề phòng địch phản công, đánh lan ra các khu vực khác trong toàn tỉnh Darlac. 2) Tiếp tục tiến công về hướng đông đến Cheo Reo, sau đó quay trở lại tấn công Pleiku, cô lập Kontum. Chúng ta có thể tạm ngừng tiến công về hướng nam.”

Bộ Chính Trị đồng ý với Tướng Dũng tạm hoãn cuộc tiến công về hướng nam (Saigon). Tướng Giáp ra lệnh “Ngay tức khắc đưa quân đến bao vây Cheo Reo, tiêu diệt các đơn vị VNCH trong khu vực. Cho quân bao vây Pleiku, cắt các đường tiếp vận của địch, chuẩn bị đánh chiếm Pleiku. Kontum, chỉ cần cô lập, đánh chiếm sau” Để yểm trợ Tướng Dũng, Thướng Giáp ra lệnh sư đoàn 3 “Sao Vàng”, trung đoàn 95A phát triển trên quốc lộ 19, cô lập khu vực Pleiku-Kontum.

Giữa trưa hôm 12 tháng Ba, Tướng Giáp gửi điện văn cho Tướng Dũng, dựa theo tin tình báo mới nhât (Hà Nội lúc đó nhận được những tin tức tình báo mới nhất, sớm nhất, có lẽ do người điệp viên gài trong văn phòng Tướng Cao Văn Viên), Tướng Giáp vạch rõ chính xác, kế hoạch Tướng Phú trình lên Tổng Thống Thiệu và được chấp thuận tối hôm 10 tháng Ba. “Địch quân có ý định xử dụng những đơn vị chưa bị tiêu diệt, và những tiền đồn còn lại bên ngoài thành phố, cùng với viện binh, không quân yểm trợ, phản công lấy lại Ban Mê Thuột… Với lý do đó, anh phải nhanh chóng tập trung lực lượng tiêu diệt các đơn vị, căn cứ của địch xung quanh thị xã, tấn công quân tiếp viện…”

Ngày 13 tháng Ba, ban tham mưu của Tướng Giáp phân tích những “phương cách” Tướng Phú có thể xử dụng. Họ đặt trường hợp, nếu Tướng Dũng tiêu diệt các đơn vị VNCH xung quanh Ban Mê Thuột, nếu Ban Mê Thuật vẫn nằm trong tay quân đội Bắc Việt và nếu quốc lộ 19 vẫn bị cắt. Tướng Phú chỉ có hai lựa chọn: Rút quân về xung quanh Pleiku, tử thủ, hoặc di tản ra khỏi vùng cao nguyên. Ban tham mưu của Tướng Giáp tin là Tướng Phú sẽ tử thủ. Tướng Giáp lập tức ra lệnh cho Tướng Dũng “làm chấn động” Pleiku với tất cả hỏa lực, kể cả phòng không, cắt đứt đường tiếp vận nơi hướng nam (quốc lộ 14), đồng thời chuẩn bị đánh bại địch quân”

Mặc dầu mới hai ngày sau khi chiếm được Ban Mê Thuột, chiến thắng quá dễ dàng làm cho Tướng Dũng cảm thấy mình nên mở rộng tầm mắt. Theo ông ta, sự tổn thất quân đội Bắc Việt thấp, tiếp vn vẫn còn nhiu. Trước đó, ông báo cho Tướng Giáp biết, ông ta có thể đạt mục đích sơm hơn dự trù. Bây giờ, Tướng Dũng lại nghĩ đến một góc độ lớn hơn, tin rằng mình có thể đạt được mục tiêu cao hơn trong nhiều tháng hay vì cho cả năm 1975. Tướng Dũng tin, không chỉ riêng ba tỉnh Darlac, Quảng Đức, Phú Bổn, lực lượng dưới quyền chỉ huy của ông ta có thể chiếm hoàn toàn vùng cao nguyên và các tỉnh miền duyên hải nữa.

Ngày 15 tháng Ba, ngành quân báo quân đội Bắc Việt báo cáo cho bộ Tổng Tham Mưu (BV) rằng hôm 12 tháng Ba, Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho Tướng Phú phản công lấy lại Ban Mê Thuột bằng mọi giá. Đồng thới Tướng Hoàng Văn Thái được báo cáo, quân đội VNCH đã biết được sự hiện diện của sư đoàn 316 trên vùng cao nguyên, họ (VNCH) đã biết mục tiêu chính của quân đội Bắc Việt đã đưa lữ đoàn 3 Nhẩy Dù lên tăng cường, mở đường quốc lộ 21.

Tướng Giáp gửi điện văn báo cho Tướng Dũng biết những tin tức tình báo mới nhất. Tướng Dũng yêu cầu thay đổi kế hoact nguyên thủy, để cho Mặt Trận B-2 (đông nam bộ, Tướng Trần Văn Trà) thanh toán phần còn lại tỉnh Quảng Đức, để ông ta rảnh tay càn quét khu vực xung quanh Ban Mê Thuột, rồi tiến về Pleiku, Cheo reo.

Sĩ quan cao cấp ban tham mưu quân đội Bắc Việt được biết Tổng Thống Thiệu đã thay đổi chiến lược, thành lập các cứ điểm (enclave) xung quanh Đà Nẵng, Cam Ranh và Saigon. Trong khi đó, đơn vị quân báo của Tướng Dũng để ý các hoạt động khác thường của quân đội VNCH. Khoảng trưa hôm 16 tháng Ba, họ bắt được nhiều điện văn liên lạc ca nhiều phi cơ cất cánh từ phi trường Cù Hanh, Pleiku, xin đáp xuống phi trường Nha Trang. Điều đó làm Tướng Dũng ngạc nhiên vì Phi Trường Cù Hanh chưa bị pháo kích nặng nề. Lúc 3:00 chiều, Tướng Giáp gọi điện thoại, báo cho ông ta biết, bộ tư lệnh quân đoàn II đã di chuyển về Nha Trang. Một tiếng đồng hồ sau, toán trinh sát báo cáo một đoàn quân xa dài từ Pleiku di chuyển trên quốc lộ 14 về hướng nam.

Tướng Dũng lập tức triệu tập ban tham mưu để họp, nhưng không ai có thể giải đoán kế hoạch của quân đoàn II VNCH. Đến 9:00 giờ tối, tin tình báo đổ vào bộ tư lệnh của Tướng Dũng. Kho đạn Pleiku đang phát nổ, có nhiều đám cháy trong thành phố, đoàn xe convoy rời Pleiku được phát giác đi vào liên tỉnh lộ 7B. Quân đoàn II VNCH đang rút ra khỏi Pleiku.

Tướng Dũng nổi điên, gọi điện thoại (đường dây hot line - hỏa tốc) cho vị tư lệnh sư đoàn 320, Đại Tá Kim Tuấn. Hai hôm trước, ông Tuấn đã bảo đảm với Tướng Dũng, liên tỉnh lộ 7B không thể xử dụng được. Bây giờ địch (VNCH) đang rút lui trên con đường đó, mà ông ta không đề phòng, và không có đơn vị Bắc Việt nào ngăn cản họ. Tướng Dũng nhắc nhở Đại Tá Kim Tuấn về quân luật (cấp chỉ huy trực tiếp ngoài chiến trường có quyền…) “Nếu để địch quân chạy thoát, đó là tội lớn, và anh chịu trách nhiệm.”

Sau đó Tướng Dũng ban hành cấp tốc một số lệnh lạc. Sư đoàn 320 phải di chuyển cấp tốc đến Cheo reo, cắt đoàn quân triệt thoái (thành nhiều đoạn). Lúc đó các đơn vị thuộc sư đoàn 320 rải rác trong tỉnh Darlac lên đến ranh giới Pleiku-Darlac, Mặt Trận B-3 phải xử dụng tất cả phương tiện xe cộ, giao cho sư đoàn 320 xử dụng. Sư đoàn 968 được lệnh băng qua các tiền đồn VNCH tấn công thẳng vào Pleiku. Các đơn vị điạ phương (du kích) trong tỉnh Phú Yên phải di chuyển về gần Tuy Hòa, cắt đường nơi đoạn cuối đường di tản (liên tỉnh lộ 7B).

Rồi thì, Tướng Dũng nhớ còn quân bài “tẩy”, tiểu đoàn 9 sư đoàn 320 đang bí mật chờ lệnh tấn công Cheo Reo, từ khi chiến dịch bắt đầu. Lúc 10:30 tối điện thoại đến tiểu đoàn 9 reo vang, giọng nói bên kia đầu dây của đích thân vị tư lệnh sư đoàn, lệnh ban ra ngắn, gọn: Di chuyển ngay lập tức, cắt liên tỉnh lộ 7B nơi phía nam Cheo Reo, ngăn cản không cho địch rút lui.

Trong vòng mười phút, tiểu đoàn 9 di chuyển , nhưng buổi tối, điạ hình rừng núi nên chậm. Đến nửa đêm, cả tiểu đoàn mới đi được một quãng ngắn. Nhìn đồng hồ, vị tiểu đoàn trưởng quyết định, đốt đuốc di chuyển suốt đêm. Đó là một cuộc chạy đua giữa tiểu đoàn 9, sư đoàn 320 “Thép” và đoàn quân triệt thoái. Kẻ thắng trận sẽ “phần nào” quyết định số phận của nền Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam.

(Đại Tá Kim Tuấn tư lệnh sư đoàn 320, sau này lên Tướng, tư lệnh quân quân đoàn đánh qua đất mien trong trận chiến Việt-Miên bắt đầu từ năm 1979. Tướng Kim Tuấn tử trận khi đi thám sát trận điạ, xe Jeep của ông ta cán phải mìn của quân Khmer đỏ.   vđh sưu tầm)

 

Theo tài liệu Black April, tác giả Jay Veith

Dallas, Texas 2/2/2020

vđh