Thursday, August 9, 2012

NHA KỶ THUẬT XÂM NHẬP BẰNG NHAỶ DÙ ĐIỀU KHIỂN (HALO)





Sau khi có Chiến thuật Trực Thăng Vận, binh chủng Nhảy dù không còn xử dụng phương tiện nhảy dù để hành quân. Nhưng Nha Kỷ Thuật và binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt vấn còn xử dụng nhảy dù đêm để đưa các Toán Thám Sát xâm nhập vào các an toàn khu cuả địch nằm sâu trong nội địa Lào, Campuchia với nhiệm vụ khuấy phá, bắt cóc, tìm kiếm Bộ chỉ huy đầu nảo, Trung tâm huấn luyện, nơi giam giữ tù binh, kho hậu cần v.....v  Các Toán hành quân được huấn luỵên nhảy dù đêm tại Trung Tâm Huấn luyện Yên Thế. Để bảo đảm bí mật, sau khi tham dự thuyết trình Toán được đưa vào khu CẤM cách biệt với thế giới bên ngoài cho đến lúc lên đường. Người ta thường dùng máy bay C.123 hoặc C.47, thả ở cao độ thật thấp, để tránh độ dạt quá xa……. Và trong đêm tối, khi ánh đèn sau đuôi máy bay báo hiệu điểm nhảy, từ màu đỏ hoang rợn chuyển qua màu xanh ma quái, những thiên thần Biệt kích như cánh dơi đêm, lao mình mất hút trong khoảng không gian đen tối, chấp nhận những hiểm nguy đang chờ chực dưới đất!
Vào khoảng năm 1970, để tránh những khuyết điểm khi xâm nhập bằng nhảy dù đêm như: Nhân viên trong Tóan thường hay bị thất lạc vì ảnh hưởng của gió, nhảy dù tự động không thể lái dù cùng rơi vào một điểm, máy bay phải bay thật thấp nên thường bi trúng phòng không của địch, tiếng ồn của động cơ máy bay không giữ được yếu tố bí mật v..vNên Bộ Chỉ Huy Nha Kỷ Thuật bắt đầu tổ chức một số Tóan xâm nhập đêm bằng nhảy dù điều khiển(HALO). Có lợi thế là máy bay thả Tóan từ cao độ trên 18.000 bộ, rơi xuống 2000 bộ mới mở dù, có thể dùng các thế rơi để bay gần nhau và lái dù rớt cùng một điểm.
Để chuẩn bị cho các chuyến xâm nhập nói trên, Bộ Chỉ Huy Nha Kỷ Thuật ủy nhiệm cho Sở Liên Lạc phối hợp với cơ quan cố vấn đối nhiệm Special Operation Group mở những khóa học Nhảy dù điều khiển ở Okinawa và Trung Tâm Huấn Luyên Yên Thế. Cuối năm 1970, chuyến xâm nhập đầu tiên bằng nhảy dù HALO do Tóan Hỏa Lôi thuộc Chiến Đòan 2 Lôi Hổ đảm nhận. Chuyến công tác được may mắn không gặp nhiều tổn thất như những chuyến công tác bình thường, nhưng có riêng những đặc thù,ảnh hưởng không ít đến tinh thần của các nhân viên tham dự. Xin kể lại như một minh chứng hùng hồn cho hoạt động của Nha Kỷ Thuật nói riêng, Quân lực VNCH nói chung để đánh tan những luận điệu xuyên tạc về tinh thần chiến đấu của Quân dân miền Nam trong công cuộc chống lại sự xâm lăng của thế giới Cọng Sản.
Một nén hương lòng thương tiếc đến Chuẩn Úy Nguyển Sơn thuộc Chiến Đòan 1 Xung Kích đã tử nạn trong khóa học HALO, Cố Biệt kích Lâm Savel, Cố Biệt kích Nguyển văn Do, Biệt kích Ngô Xuân Mẫn, Tóan Hỏa Lôi đã cùng tôi đảm nhận công tác, Trung Uý Trương Quế Minh P2 Sở Liên lạc theo dỏi, thông dịch, Cố Trung Úy Lưu văn Khiết tiếp vận liên lạc hành quân, Đại Úy Trương văn Ái tiếp nhận khi trở về..v….v
Kính nhớ đến Đại Tá Nguyễn văn Minh, Cựu Chỉ Huy Trưởng Sở Liên lạc, một vị chỉ huy khả kính, hết lòng với những số phận khắc nghiệt, đã theo dỏi,lo lắng, can thiệp yêu cầu phương tiện ứng cứu kịp thời giúp cho những con tốt đen hòan thành sứ mạng.
Được nghỉ xã hơi bốn ngày, sau chuyến công tác khuấy rối vùng đich ở Tây Bắc Khe Sanh, mới lang thang được hai ngày thì Thường vụ Lê Nam kiếm tôi cho biết phải vào Trại để trình diện Trung Tá Chiến Đòan Trưởng gấp. Vừa bước vào văn phòng chưa kịp làm thủ tục trình diện, Trung Tá Nguyễn thế Nhả đã khóat tay ra hiệu cho tôi ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Tôi cảm thấy an lòng khi nhìn thấy nụ cười hiếm hoi trên khuôn mặt khắc khổ của vị Chỉ Huy Trưởng có tiếng là nghiêm khắc. Trầm ngâm vài dây ông cất tiếng:
_Thời gian trên Kông Tum, cậu có lẹo tẹo với cô gái nào không?
_Dạ thưa,không.
_ Cậu có làm gì liên quan đến luật pháp, có đánh lộn với đơn vị nào không?
_Da,thưa không
Sau vài giây im lặng, ông có vẻ ngạc nhiên chép miệng:
_Lạ thật… Tôi vừa nhận lệnh Sài Gòn cho cậu lên trình diện Chiến Đòan 2 gấp, không hiểu tại sao.Tôi cho phép cậu được đi ra ngoài thu xếp những công việc riêng, nhưng tối nay cậu phải vào ngủ trong Trại,sáng mai 5 giờ Hạ Sỉ 1 Duyệt sẽ đưa cậu vào phi trường sớm,cậu nghe rõ chưa?
Tôi khẻ đáp:
Dạ,Trung Tá.
Tôi đứng dậy đưa tay chào định quay ra, thì ông bước đến gần bên, đưa tay bóp nhẹ như vổ về trên vai tôi và nói tiếp:
_Theo tôi nghỉ là trên  Chiến Đòan 2 đang cần cậu đảm trách công tác nào đó, một thời gian ngắn rồi cậu sẽ về lại dưới này.Trong lúc cậu đi vắng, Trung sỉ 1 Tà Cô sẽ tạm thời thay thế cậu coi Tóan , tôi sẽ lưu ý với ban 3 sắp xếp cho Tóan Hải Phong được ở nhà ứng chiến đợi cậu về. Nếu nhu cầu bắt buộc thì tôi sẽ cắt cử một sỉ quan khác tạm thời đưa Tóan đi công tác.
Ông xiết chặt tay tôi với lời cầu chúc may mắn,tôi nhận ra trong ánh mắt lạnh lùng thường nhật của ông một chút thương cảm. Rời văn phòng Chỉ Huy tôi lẩn thẩn bước xuống dãy nhà của Tóan, trong lòng mang nặng nhiều lo nghỉ.Các Tóan hành quân được bổ sung từ Chiến đòan này qua hoạt động khu vực Chiến Đòan khác là chuyện bình thường,nhưng chưa bao giờ có trường hợp biệt phái cá nhân như tôi.Bước vào phòng Tóan Hải Phong,Tà Cô đang ngủ,Biệt kích Mang Lô đang lau nhà.Thấy tôi Ma Lô có vẻ mừng rở, nắm tay tôi kéo ra ngoài với giọng thì thầm:
_Hồi đêm Tà Cô say rượu lảm nhảm chưởi mày cả đêm Thiếu Úy.Tôi hỏi tại sao,nó nói em không biết.Tôi bảo nó đi quanh kiếm Biệt kích Pan,King và A Cươi về cho tôi gặp.
Thật tội nghiệp cho các Biệt Kích người Thượng,quê hương ở xa mù tận Khe sanh, Lao Bảo. Được tuyển mộ vào Biệt Kích biên phòng Làng Vei. Sau khi mất Khe Sanh họ tình nguyện qua Lôi Hổ theo đơn vị về căn cứ Phù Bài rồi chuyển vào Căn cứ Non Nước. Gia đình họ người còn, kẻ mất trôi nổi về định cư ở Mai Lộc, Đông Hà.Lâu lâu họ mới xin phép về thăm làng, thăm bản,đa số họ chỉ thích sống quây quần với nhau trong Trại. Hồi tôi mới về, Tóan Hải Phong bị mất tích, Trung Tá Nhả giao cho tôi thành lập lai Tóan. Đang lúc thiếu nhân sự thì Tà Cô từ Đaị Đội xung kích muốn qua Thám Sát. Tôi và Tà Cô biết nhau hồi còn ở binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt vì cùng học chung khóa Nhảy Dù ở Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù. Khóa hoc này ai cũng biết Tà Cô,vì sau một tuần được huấn luyện các thế té nhào lộn dưới đất thì lên nhảy chuồng cu. Đến phiên Tà Cô nhảy Huấn Luyên viên hô:
_Chuẩn bị..
_Sẳn sàng.
_Go
Tà Cô la lên:
_Dạ khoan đã Thượng Sỉ
Huấn luyện viên hỏi:
_Tai sao không nhảy?
Tà Cô trả lời:
_Dạ thưa.. cái bụng muốn nhảy, mà cái chân không muốn nhảy.
Sau mấy lần như vậy không nhảy được,cuối cùng Tà Cô phải xin HLV thuốc bồi, nhờ vị HLV đạp thât mạnh mới ra khỏi chuồng cu. Cả khóa học ai cũng cười vì những câu nói mộc mạc.
Tà Cô về Tóan Hải Phong mang theo một số Biệt Kích thân tín. Hắn là một người lính can trường,có nhiều kinh nghiêm xương máu trên trận địa, nhưng tính tình quyết đoán, mang mặc cảm là người Thượng bị coi thường, nên hay nổi cơn vì những câu đùa không đúng lúc. Những người theo hắn chỉ biết phục tùng, nên dễ bị hắn sai khiến xúi dục. Đợi tất cả anh em trong Tóan có mặt,tôi đánh thức Tà Cô dậy và hỏi lý do tại sao hắn chưởi tôi, hắn tỏ vẻ bẻn lẻn:
_Có chi mô Thiếu Úy,em say mà.
Tôi nghiêm mặt:
_Tôi có gì không đúng anh nói ra đi.
Sau một lúc bối rối hắn nói:
_Dạ cuộc hành quân vừa rồi, Tóan phục kích, tại sao Thiếu Úy không cho anh em bắn chết, mà chỉ cho bắn bị thương,và tối đó lại bắt anh em phải ngủ đêm trên ghềnh đá nhọn hoắc, thì làm sao ngủ được?
Tôi nhẹ nhàng giải thích cho hắn biết. Tóan vừa nhảy xuống là bị đich phát hiện theo dỏi, khu vực công tác  thì rừng chồi xen kẻ những đồi tranh, đồi lét nên rất khó lẫn trốn. Đây là cửa ngỏ xâm nhập vào miền Nam, nên ngoài những đơn vị cơ hửu , còn có những Tóan được huấn luyện chống biệt kích gián điệp chuyên nghiệp. Sau bốn ngày liên tục tránh né, chúng tôi bị địch tìm thấy dấu vết khi đang leo lên một đỉnh đồi, sau lưng thì địch đang nổ súng báo động tập trung truy đuổi, trước mặt là đồi lét bịt kín, A Cươi đi tiền đạo dù khéo léo cách mấy cũng không tránh khỏi gây những tiếng động nghe răng rắc,buộc lòng tôi phải cho Toán nằm lại, tổ chức một cuộc phục kích cấp thời và ra dấu cho anh em chỉ bắn địch bị thương,mục đích để địch phải băng bó cấp cứu cho nhau làm trì hỏan sự truy đuổi. Sau đó  chúng tôi phải chạy băng qua một đồi  tranh khá cao và chui xuống một đường thông thủy được cỏ tranh phủ kín giữa hai sườn đồi, với vị trí này tương đối kín đáo,có hai sườn núi che chở nếu chận địch, nhưng khó kiếm được một chổ ngồi thỏai mái vì đất đã bị bào mòn qua những cơn mưa, chỉ còn trơ lại ghềnh đá tai mèo lởm chởm, len lỏi đi xuống một đoạn khá xa, tôi cho Toán dừng lại ngủ đêm.
Là một Tóan Thám Sát  nhảy vào lòng địch với nhiệm vị khuấy phá, chúng tôi đã mất yếu tố bí mật, địch đã đề phòng, Bộ Chỉ Huy  hành quân muốn duy trì sự có mặt của chúng tôi càng lâu càng tốt, để khủng bố tinh thần của địch trên đoạn đường xâm nhập đầu tiên. Sau những ngày bi truy đuổi và chạm địch, thần kinh chúng tôi ai  nấy căng thẳng, cơ thể mệt mỏi, nếu kiếm một vị thế bằng phẳng,  chắc chắn không ai có thể cưởng lai cơn buồn ngủ, nếu trong đêm đich bò đến làm sao phát hiện được. Nghe tôi giải thích xong, hắn gải đầu năn nỉ:
_Em xin lổi Thiếu Úy, em đi hành quân nhiều,nhưng chưa bao giờ nhảy Tóan nên em không biết thâm ý của Thiếu Úy, tha tội cho em.
Tôi khuyên nhủ vài câu, để làm cho hắn bớt sự áy náy và thông báo cho mọi người biết tôi phải đi Kông Tum, tôi giao nhiệm vụ cho Tà Cô  chăm sóc anh em như lời Trung Tá Nhả căn dặn. 
Suốt cả đêm tôi không thể nào chợp mắt, nghe tiếng động lạch cạch tôi ngồi dậy thì thấy Ma Lô đang loay hoay nấu nước sôi pha cà phê, Tà Cô phì phà điếu thuốc lá, Pan,King, A Cươi ngồi trùm chăn bất động, không khí như lắng xuống trong giây phút sắp chia tay .Vừa nhắp từng ngum cà phê do Ma Lô mang đến, vừa nhìn từng khuôn mặt chất phát, như cố ghi lại những nét thân quen. Đời lính, hơp tan ,còn mất là chuyện bình thường, nhưng lòng tôi không khỏi chùng xuống khi biết mình phải xa những người lính mà giờ đây tôi biết họ đã đặt hết tin yêu vào tôi.Lý tưởng với những sáo ngữ đối với họ quá xa vời,họ chỉ biết chiến đấu để bảo vệ màu cờ sắc áo và sẳn sàng hy sinh tính mạng vì cấp chỉ huy của họ.
Tôi khóac ba lô lên vai và nói vài lời từ biệt rồi bước đi với cỏi lòng nặng trỉu, A Cươi chạy theo nhét vội gói thuốc Pall Mall vào tay tôi với lời nói chân tình:
_Thiếu Úy, mày lấy gói thuốc mang theo mà hút cho ấm.
Tà Cô cũng nói chen vào:
_Thiếu Úy,mày đi mau mà về với anh em. Nếu mày không về thì mày làm việc ở mô cho anh em đi theo.
Tôi ậm ừ cho xong chuyện,xe bắt đầu chuyển bánh,tôi nắm chặt tay từng người và quay mặt đi, cố đè nén niềm cảm xúc đang dâng trào.Hình bóng những người lính thân yêu khuất lần,tôi cảm thấy thật lạnh,thật cô đơn trong chuyến đi đệnh mệnh.Chiếc máy bay C.123 đã chờ sẳn tự bao giờ,sau vài phút khởi động,máy bay di chuyển ra phi đạo rồi cất cánh lao vút lên cao trong sương mù dày đặc.
Xuống phi trường Kông Tum, một  vị Đại Úy cố vấn  và chiếc xe jeep đang chờ sẳn,ông ta đưa tôi về thẳng gặp trực tiếp Trung Tá Hồ Châu Tuấn, Chiến Đòan Trưởng Chiến Đòan 2,ông cho biết:
_Moa được lệnh Sài gòn tiếp nhận Toa, trước hết Toa xuống liên lạc với Chuẩn Úy Lê Ánh nhận lại Tóan Hỏa Lôi.Trong lúc chờ đợi công tác,Toa huấn luyện chiến thuật và thể lực cho Tóan. Kể từ giờ phút này, Toa sẽ trực tiếp làm việc với vị Cố vấn này. Có điều gì Toa không hiểu hoặc thắc mắc Toa cho Moa biết, Moa sẽ nói lại với phía đối nhiệm.
Tôi khẻ dạ, quay qua nháy mắt với vị cố vấn để làm quen rồi vội vàng đi xuống khu nhà của Tóan.Gặp lại Lê Ánh ngườn bạn thân cũ cùng tất cả anh em biệt kích đã có thời gian hoạt động bên nhau, chúng tôi tay bắt mặt mừng, những âu lo hầu như tan biến trước cuộc hội ngộ bất ngờ.Chúng tôi kéo nhau ra thành phố ăn một bữa cơm họp mặt với niềm vui chất ngất. Đời lính là thế, hợp rồi tan, tan rồi hợp, làm sao biết được ngày mai,nên chúng tôi tạm quên đi những lao đao lận đận,để sống những giây phút ồn ào trong tình đồng đội thân thiết trong ly rươu đắng, bên ly cà phê đậm đặc, thả hồn bay lảng đảng theo làn khói thuốc….
Hơn nữa tháng luyện tập để chờ đợi, tôi được viên Đại Úy thông báo chuẩn bị lên đường,thêm một lần nữa tôi vô cùng ngạc nhiên vì chưa được thuyết trình hành quân, chưa biết nhiệm vụ thì làm sao có thể biết được nhu cầu trang bị mà Tóan phải mang theo.Sáng hôm sau,chúng tôi được đưa ra phi trường,giả từ thành phố Kông Tum heo hút với bao kỷ niệm. Cũng là một chuyến đi như bao chuyến đi khác, nhưng trong tôi dấy lên sự bịn rịn khác thường, những con đường nhựa nghèo nàn, những hàng cây lặng lẻ, giòng suối Dakbla trãi dài uốn khúc như mái tóc của người sơn nử dần dần xa khuất. Tôi cảm nhận một điều gì đó không rỏ nét, tất cả anh em dù không nói ra, nhưng chắc chắn cùng chung một thắc mắc về một chuyến công tác ly kì:
_Không biết mục tiêu hành quân.
_Di chuyển bằng máy bay C.123
_Không biết nhiệm vụ và thời gian công tác ..v…v
Hơn một giờ,máy bay hạ dần cao độ,chúng tôi đã nhìn thấy thành phố Sài Gòn thấp thóang dưới những áng mây và tiếp theo là những mảng rừng cao su hiện ra dưới tầm mắt, chúng tôi đã đóan ra công việc sắp làm khi máy bay đáp xuống phi trường của Trung Tâm Huấn Luyện Yên Thế,Long Thành. Đó là ôn tập lại Nhảy dù điều khiển để đảm nhận công tác đặc biệt nào đó.
Sau hơn một tháng huấn luyện kỷ thuật nhảy đêm, xử dụng máy tìm nhau, chúng tôi được tham dự thuyết trình hành quân, trong phòng thuyết trình ngoài các phần hành chuyên môn cố vấn Mỷ,về phía Việt Nam  có sự hiện diện của Đai Tá Nguyễn văn Minh .Vị Trung Tá cố vấn phụ trách thuyết trình chỉ cho chúng tôi điểm nhảy trên những ô vuông của tấm bản đồ được che kín và cho biết vắn tắt nhiệm vụ, Toán sẽ từ điểm nhảy di chuyển từ hứơng Đông sang hướng Tây nghe ngóng,báo cáo.Nếu nhân viên nào bị thất lạc thì hoạt đông độc lập, sẽ cho lệnh triệt xuất khi Bộ Chỉ Huy đã nhận được những tin tức cần thiết. Đại Tá Minh nói vài câu để khích lệ tinh thần, ông cho biết đây là cuộc hành quân có tính chất đặc biệt mà người Mỷ muốn thử coi khả năng của các Tóan Việt Nam, ông tin rằng với kinh nghiệm sẳn có , chúng tôi sẽ vượt qua những thử thách để hòan thành nhiệm vụ,sau đó ông giới thiệu với chúng tôi Trung Úy Trương quế Minh, sẽ giúp chúng tôi trong mọi vấn đề giao dịch. Các Tóan viên trở về phòng ngủ để chuẩn bị lên đường, riêng tôi được giữ lại để cho biết thêm một vài điều cần thiết.
Cái màn đen che lấp tấm bản đồ được gở xuống, phơi bày những ám hiệu màu đỏ,đánh dấu những vị trí nghi ngờ nơi đóng quân ,hệ thống phòng không của địch.Ông cho biết máy bay do thám kỷ thuật tìm thấy có nhiều làn sóng vô tuyến phát xuất từ khu vực này,nên nghi ngờ nơi đây có thể là Bộ Chỉ Huy hoặc địa điểm trích trử lương thực của địch Ông nói:
_Cách đây gần hai tháng,Chiến Đòan 3 đã cho một Tóan chuẩn bị nhảy xuống khu vực này,nhưng khi trực thăng vừa hạ thấp cao độ thì bị phòng không bắn rơi. Chiến Đoàn 3 tiếp tục cho một Tóan xâm nhập bằng nhảy dù đêm cũng bị thiệt hại, cả hai lần chúng ta bị mất hai Tóan và hai máy bay. Bộ Chỉ Huy quyết định các anh sẽ xâm nhập bằng phương tiện nhảy dù điều khiển, hy vọng với cao độ trên 18.000 bộ máy bay sẽ tránh được phòng không, các anh sẽ rơi xuống 2000 bộ thì mở dù. Thời gian hoạt động tùy thuộc vào các tin tức của các anh gởi về, những chi tiết này chỉ riêng mình anh biết,nếu không có gì thắc mắc thì anh về cho Tóan chuẩn bị, tối nay sẽ lên đường.
Những tin tức vừa được ông cố vấn tiết lộ làm tôi không khỏi chóang váng, nhiệm vụ chỉ quan sát và báo cáo mà phải nhảy bằng dù điều khiển , hai Tóan của Chiến Đòan 3 thiệt hại cùng hai chiếc máy bay báo hiệu mục tiêu khó nuốt, suốt hơn một tháng nhảy ngày nhảy đêm, thần kinh như muốn căng ra, cơ thể nhào lôn giữa không trung làm rêm cả người,Tôi muốn chúng tôi phải có thời gian ổn đinh tinh thần và thể xác trước khi công tác, nhưng mục tiêu đã thuyết trình rất khó trì hỏan, tôi thử liều đề nghị cho chúng tôi được nghỉ hai ngày để dưởng sức .Ông nhìn tôi có vẻ thông cảm, nhưng ông không có quyền, phải có sự chấp thuận của thượng cấp ở Sài Gòn.
Trung Úy Minh thông báo cho biết, đề nghị của tôi đã được chấp thuận. Lẻ ra chúng tôi phải di chuyển vào khu CẤM, nhưng trong khu cấm cũng có mấy Tóan của chương trình Đề Thám(Việt Cọng chiêu hồi) đang chuẩn bị hành quân, nên căn phòng ngủ của chúng tôi trở thành khu cấm tạm thời, nội bất xuất, ngoại bất nhập, có thêm một ông Đại Úy và một ông Trung sỉ xuống sống chung với chúng tôi,Biệt Kich Nguyễn văn Thể và Cao văn Noi bị gảy chân trong lúc huấn luyện sau khi băng bột đã được trả về Kông Tum, chỉ còn lại 4 người. Sau khi suy nghỉ rất kỷ, tôi cho anh em biết những tin tức mà tôi vừa biết, sao phải dấu chứ, khi tình nguyện theo học Halo là chúng tôi đã chấp nhận tất cả, tôi kêu anh em ngồi gần lại và kể hêt sự việc, để không khí bớt ngột ngạt tôi nói nữa thật nữa đùa:
_Lần đi này có thể không trở lại, anh em mình ai có muốn trăn trối điều gì cho vợ con, người yêu thì nói với Trung Úy Minh, ông sẽ chuyển lời lại cho.Chúng ta có hai ngày để dưởng sức rồi lên đường,anh em có ý kiến gì không?
Như gải đúng chổ ngứa của đề tài Ngô Xuân Mẫn châm chọc:
_Lâm Savel có nhắn gì cho cô Hoa thì nói đi, hay là xin phép về một đêm chia tay cho bi đát nảo nùng.
Mẫn trước đây là lính Thiết Giáp, nhưng ưa thích phiêu lưu nên tình nguyện về Lôi Hổ.Hắn có đai đen Thái cực Đạo,xử dụng đỏan côn rất giỏi, nên hắn là nhân vật chính khi Tóan có công tác bắt cóc tù binh. Lâm Savel là người Việt gốc Miên ở vùng 4,gia nhập vào các Tóan Biệt Kích Tiền phong Delta, thuộc Lực Lượng Đặc Biệt, sau được chuyển qua Biệt Kích Lôi Hổ, thân hình to lớn,có sức vóc nên thường phải mang máy truyền tin cho Tóan.Tính chân chất thiệt thà,tin dị đoan và nhất là mê gái nên thường bị anh em trêu chọc.Hắn trả miếng:
_Đ.m mày lo cho cái thân voi của mày đi, nhìn mày tao nghi quá…. chắc chuyến này sẽ là lá vàng phủ kín đời …. anh Mẫn. Giọng hắn khàn khàn kéo dài đời anh Mẫn như ca vọng cổ, rồi cười toe toét đưa hai cái răng vàng sáng chói.
Nguyễn văn Do thọt vào:
_Hình như có điềm báo trước cho hai đứa mày, có cần tao cúng cô hồn giúp chúng mày không vậy?
Biệt Kích Do trước mang cấp Thượng Sỉ, ở binh chủng Nhảy dù,vì bất mản với vị Thiếu Úy Đà Lạt mới ra trường thiếu kinh nghiệm nhưng muốn chỉ huy, nên hắn bỏ qua Lôi Hổ, hắn có gia đình với hai đứa con trai kháu khỉnh, nhưng máu giang hồ vẫn chua nguội lạnh, thích cuộc sống dọc ngang, tính trầm tỉnh , có nhiều sáng kiến để giải quyết trong những lúc hiểm nguy,nên được anh em đặt cho cái biết danh Do Khổng Minh. Câu chuyện chọc phá nhau cứ thế tiếp diễn, những nụ cười bởn cợt vang lên, nhưng tôi biết chỉ là gượng gạo, không thể nào khỏa lấp được những lo nắng đang dâng lên trong lòng mọi người.
Sáng hôm sau Trung Úy Minh xuống cho biết :
_Ngày hôm qua anh Do đề nghị BCH trợ cấp cho anh em một số tiền và hai ngày phép để đi chơi rồi sau đó về đi hành quân, ông Trung tá cố vấn cho biết là sẽ chấp thuận nhưng với điều kiện là sau khi hòan thành nhiệm vụ.
Tôi hết sức ngạc nhiên và tức giận, tôi hiểu đây là một câu nói đùa của Do trong lúc tôi đi đâu đó. Trung Úy Minh vô tình làm nhiệm vụ thông dịch, nhưng trong hòan cảnh này không thể nói đùa một cách vô ý thức, hình như bao nhiêu lo nghỉ, bực dọc dồn nén bấy lâu được dịp bùng phát,tôi trừng mắt nhìn về phía Do:
_Ai cho phép anh đề nghị như vậy? Anh và tôi đối xử với nhau như tình anh em, nhưng anh phải nhớ khi có công việc tôi là cấp chỉ huy của anh, muốn gì anh phải nói cho tôi biết trước… Anh là Biệt kích, tôi là Sỉ quan,nhưng chúng ta đều được yểm trợ qua ngân khỏan viện trợ của Mỷ,nhưng chúng mình không phải là loại lính đánh thuê, chúng mình hảnh diện phục vụ cho một lý tưởng cao đẹp, danh dự và tính mang của người lính không thể đem đánh đổi lấy đồng tiền và một vài ngày buông thả,anh có thể từ chối công tác, tôi sẽ tìm mọi lý do để anh ở nhà. Tóan rất cần anh, nhưng quân đội sẽ không cần những người mang ý tưởng bệnh hoạn như anh.
Quay qua phía Trung Úy Minh tôi hậm hực:
_Còn Trung Úy, đã là một sỉ quan đau có thể chuyện gì Trung Úy cũng phải thông dịch!
Do cúi gầm mặt giải thích:
_Chỉ là câu nói vui, nhưng tôi không ngờ anh Minh lại trình lên trên. Xưa nay anh em mình chưa bao giờ nặng lời với nhau, bây giờ anh đã nói vậy thì tôi xin được ở nhà.
Cơn giận như đã vơi đi,tôi nhỏ nhẹ:
_Vậy thì anh ở nhà, tôi thấy anh còn hai cháu trai rất dễ thương, dành thì giờ săn sóc tụi nó được ngày nào hay ngày đó.
Tôi hỏi tiếp:
_Còn Mẫn, Lâm Savel, anh nào từ chối công tác thì nói luôn đi.
Lâm Savel lí nhí:
_Tôi cũng bị đau cái lưng, không biết có nhảy được không!
_Còn Mẫn thế nào?
Hắn trả lời chắc nịch:
_Anh đi thì tôi đi, anh ở nhà thì tôi sẽ ở nhà.
Tôi kết luận:
_Vậy thì Do và Savel ở nhà, tôi và Mẫn sẽ đi
Tôi nhờ Trung Úy Minh nói với ông Đại Uý cố vấn xin cho Savel và Do được ở nhà vì lí do Savel bị đau lưng và Do bị đau bụng bất ngờ. Vị cố vấn đi lên phòng hành quân một lúc rồi trở lại cho biết là Bộ Chỉ Huy đã chấp thuận và ông còn nói thêm:
_Đi công tác bằng nhảy dù Halo, 4 người là không tốt, 3 người thì tạm được, 2 người là tốt nhất. Thời gian trôi qua thật nhanh, mới đó mà đã hết hai ngày, tối nay chúng tôi sẽ lên đường, có lệnh chuyển Do và Savel vào khu cấm, ở lại đó cho đến khi Tóan hành quân trở về. Đột nhiên Do thay đổi ý định xin đi hành quân:
_Tôi xin lổi anh về chuyện đã xảy ra, tôi không thể nào yên lòng khi để anh và Mẫn lẻ loi đi vào chổ chết, tôi biết tôi không có tài cán gì, nhưng có thêm một tay súng, dù có chuyện gì xảy ra cũng có thể dựa vào nhau để chống đở.
Tôi im lặng suy nghỉ một lúc rồi nói:
_Thôi lở đã trình lên trên rồi, Do yên tâm ở nhà, nói tới nói lui kỳ lắm. Hơn nữa đi là đi, ở nhà là ở nhà, không nên đổi ý s thành điềm không tốt.
Do cố năn nỉ:
_Tôi đã suy nghỉ kỷ rồi,xin anh cho tôi đi. Còn chuyện sống chết là do số trời, nếu lần đi này mà anh với Mẫn có mệnh hệ gì, tôi đành lòng được sao, hơn nữa anh em mình hoạt động trong đơn vị này là phải chấp nhận tất cả,anh hiểu tính tôi mà.
Lâm Savel cũng chen vào:
_Tôi cũng xin đi, đ.m. chết thì chết sống thì sống, sợ cái quái gì chứ.
Mẫn cười trêu chọc:
_Vậy thì mày viết giấy bàn giao cô Hoa lại cho người khác , rồi hắn cao giọng lè nhè kéo dài bài hát:Tao biết..... mi đi.... chẳng trở về!
Mọi người gượng vui cười xòa,trong lòng tôi cũng cảm thấy yên tâm vì dù sao bốn người cũng ấm hơn , có bất trắc cũng dễ xoay xở. Tôi báo cho vị cố vấn biết dù bị bệnh nhưng Do và Savel vẫn cố gắng đi hành quân được, ông mĩm cười đưa một ngón tay cái lên biểu hiện niềm hân hoan một cách đểu cán. Sau này tôi mới biết, những câu chuyện xảy ra giữa chúng tôi hai vị cố vấn này đều biết, vì hai ông hiểu và nói tiếng Việt rất giỏi.
Khỏang 10 giờ tối, chúng tôi nhận đồ trang bị hành quân, người ta đã chuẩn bị đầy đủ thức ăn cho từng người trong ba lô, súng đạn AK, quần áo ka ki vàng, nón tai bèo giả trang, dù lưng, dù bụng v...v  rồi lên xe ra phi trường. Hai ngày được nghỉ thật ra làm đầu óc căng thẳng thêm, chúng tôi dựa lưng thiếp đi trong sự mệt mỏi ở cuối phi đạo, chỉ chợt thức tỉnh khi nghe tiếng rít của máy bay C.130 đáp xuống đường bay. Chúng tôi lên máy bay thì gặp Đại Tá Nguyễn văn Minh và Đại Tá Cố vấn Trưởng, sau những cái bắt tay thật chặt,hỏi han sức khỏe từng người,cửa máy bay được khép kín,chúng tôi đứng chụm lại quanh tấm bản đồ được trãi xuống sàn, để nghe phi hành đòan thuyết trình về lộ trình bay và sự yễm trợ về không lực,tôi nhắc lại cho anh em nhớ ám hiệu nhận nhau và hướng tẩu thóat khi bị thất lạc để máy bay dễ tìm kiếm. Đại Tá Minh đưa cho chúng tôi mỗi người một ổ bánh mì và lon Coca, chúng tôi cố ăn để lấy sức, máy bay gầm gừ thêm một hồi rồi cất cánh.
Tôi cố nhắm mắt để quên những lo nghỉ, nhưng đầu óc tỉnh như sáo. Người thân, bạn bè , em gái hậu phương, thành phố với những ánh đèn rực rở , giờ này có ai biết là chúng tôi sắp lao vào nơi nguy hiểm, đánh đu với tử thần! Máy bay bắt đầu nâng cao độ từ 1000 bộ rồi 12.000 bộ và lên dần,… tôi liếc nhìn đồng hồ là 12giờ 45’,tôi đi đến từng người để chỉnh lại đồng hồ cho giống nhau, kiểm soát lại đồng hồ cao độ, viên Huấn Luyện Viên có nhiệm vụ thả Tóan ra dấu cho chúng tôi mang mặt nạ dưỡng khí. có tiếng chuông báo hiệu ,cửa máy bay phía sau bắt đầu được nâng cao, ngoài trời ánh trăng hơi mờ mờ,gió thổi thốc vào từng cơn,hai vị Đại Tá và các nhân viên trên máy bay thắt dây an tòan,tất cả trong tư thế sẳn sàng.Một hồi chuông nhẹ nhàng vang lên,vị HLV ra dấu cho chúng tôi bỏ mặt nạ đứng dậy, Đại Tá Minh vổ nhẹ trên vai chúng tôi,biểu thị lời chúc may mắn,hồi chuông thứ hai , chúng tôi níu vào nhau đi lần ra phía cửa và hồi chuông thứ ba báo hiệu, ngọn đèn đỏ ghê rợn sau đuôi máy bay chuyển qua màu xanh ma quái, chúng tôi lao ra khỏi máy bay trong tiếng hô lanh lảnh của vị HLV: GO
Vừa ra giữa không trung chưa kịp lấy thế bay, thì cái ba lô đeo lủng lẳng dưới chân giựt mạnh làm tôi bị rơi ngửa, tôi đang lấy lại thăng bằng để lật sấp thì thấy lóang thóang ba bóng   đen rơi qua mặt, tôi co hai chân, xuôi tay thành mũi tên , chúi đầu xuống lao vun vút đuổi theo. Theo kế hoạch tôi nhảy ra trước, sau lưng dù của tôi được xịt lân tinh chiếu sáng làm chuẩn cho các tóan viên bay theo và khi dù mở trên chóp dù của tôi có ngọn đèn màu xanh báo hiệu cho các tóan viên lái dù theo, nhưng tình thế thay đổi, tôi phải cố căng mắt nhìn ba bóng đen phía dưới để bay theo họ. Kim đồng hồ cao độ truột dần, không khí chao động làm bộ áo bay rộng thùng thình bay phừng phực,càng xuống thấp càng bị sức hút của mặt đất độ rơi càng nhanh. Tôi giật cho dù mở ở độ cao 2000, phía dưới ba bóng dù lơ lửng, tôi níu dây thượng thăng quay mặt về cánh dù gần nhất và cho dù lạng theo. Dù từ từ rơi đúng hướng, nhìn xuống mặt đất là một màu đen mù mịt,100… 50….. 10 bộ, tôi lấy thế chuẩn bị, co hai chân khép chặt hạ bộ, dùng hai cánh tay che mặt, đầu cúi gập vào dù bụng, hai mắt nhắm kín, phú thác sinh mạng cho những vật cản dưới đất.
May mắn tôi rớt xuống trong một đám cỏ khá dày,dù phủ trên một tàn cây thấp,tôi nhẹ nhàng đập khóa an tòan,mở bộ đai dù,tháo cây AK bên hông đề phòng, im lặng nghe ngóng…Sau vài phút không nghe tiếng động của địch,tôi mở máy phát tín hiệu,cuốn dù,tháo bỏ những trang cụ không cần thiết cho vào túi dù mò mẩm dấu vào bụi rậm. Thời gian chờ đợi như dài ra,tiếng chíp.. chíp tín hiệu phát ra thật buồn, nghe như tiếng chim sâu lạc đàn, 5 phút,10 phút tôi nghe tiếng lay động của cây cỏ, tôi húyt ám hiệu,có tiếng đáp trả,một bóng đen đang tiến về hướng tôi, nhìn dáng dấp tôi nhận dạng là Nguyễn văn Do, chúng tôi chia nhau bố trí và tiếp tục chờ đợi. Vài phút sau, người tìm đến là Lâm Savel, hắn còn mặc nguyên bộ đồ bay, tay xách cái túi dù trống rổng. Hắn cho biết là dù bị mắc cây cao, gần con đường lớn,  hắn không gở được,tôi và Do phải phụ với hắn để tháo dù xuống đem cất dấu. Theo dự trù thì sau một tiếng đồng hồ chờ đợi, chúng tôi sẽ phải di chuyển, nhưng còn thiếu Ngô Xuân Mẫn, không biết giờ này hắn như thế nào, tôi sợ hắn bị tai nạn bất ngờ, những cành cây vô tri vô giác sẽ làm cho hắn gảy tay! gảy chân! hay dù bị treo lơ lửng trên cành cây cao, hắn không thể nào xuống đất,những tưởng tượng không tốt cứ hiển hiện trong đầu óc. Hơn 2.30 sáng rồi, chúng tôi không thể chờ đợi được nữa, địa điểm chúng tôi rơi xuống tương đối trông trải, phải di chuyển gấp, trời sáng mà chưa ra khỏi chổ này thì tất cả sẽ bị lộ. Tôi phá bỏ máy tín hiệu và dặn nhỏ Do,Savel trên lộ trình đi, quan sát kỷ chung quanh và trên cành cây may ra tìm thấy Mẫn, chúng tôi di chuyển thật chậm vừa nghe ngóng vừa quan sát, khu vực này cây mọc khá thưa,chen lẫn với cỏ voi  cao tới ngực,sương khuya thật lạnh, đôi giày bố ngụy trang đã thấm ướt,, chúng tôi tìm một bụi rậm để nghỉ chân và liên lạc báo cáo về BCH.
Trời sáng dần, có tiếng gà gáy thoang thỏang đâu đây, có nhiều tiếng người nói chuyện, rồi tiếng chuông leng keng văng vẳng rồi lớn dần. Một đàn bò ước lượng hàng ngàn con đang gặm cỏ khắp khu vực, mấy con bò đến gần chổ chúng tôi ẩn trú,ngửi mùi  hôi lạ nhìn sửng chúng tôi và hét lên như báo động, bất chợt tôi thấy một bóng người núp sau lùm cây nhìn chúng tôi chằm chặp, đầu súng CKC nhô hẳn lên khỏi ngon cây, tôi vội khều Lâm Savel nói nhỏ:
_Ê,Vel tụi nó thấy mình rồi kìa, anh dùng tiếng Miên kêu tụi nó lại thử coi.
Lâm SaVel hỏi:
_Đâu?...đâu? Tôi chưa kịp trả lời thì bóng người hụp xuống, chỉ cách nhau chừng 30 thước, tôi lia vội một tràng AK , không thấy tiếng súng bắn trả tôi nói nhanh:
_Chạy Lâm Savel
Cứ thế chúng tôi bương cỏ mà chạy té lên té xuống, mặc cây gai cào rách cả hai tay. Có ba tiếng súng báo động sau lưng, chúng tôi lại càng chạy thục mạng cố né tránh xa những  nhà cửa của địch được làm dưới những tán cây lớn, chợt nghe tiếng súng nổ phía trước, Lâm Savel nhào xuống bắn chống trả, tôi nhào lên bắn yễm trợ ra dấu cho Do đằng sau vừa trờ tới chạy về hướng khác, tôi và Vel vừa rút theo vừa bắn cầm chừng, cũng mất hơn bốn tiếng bôn tẩu, chúng tôi mới thóat khỏi sự truy đuổi, mồ hôi ra như tắm, hơi thở hổn hển, khát nước và mệt quá ba chúng tôi dừng nghỉ bố trí ở gốc cây to ven bờ suối cạn, dù không cảm thấy đói nhưng chúng tôi thay phiên nhau vừa canh địch vừa nhai từng ngụm gạo sấy, uống nước cầm hơi. Chưa đầy 30 phút, một tóan quân địch đi men theo bên kia bờ suối tìm đến,chúng tôi thay phiên nhau vừa chạy vừa bắn chận, nhờ hai bên bờ suối có hai hàng tre gai làm chướng ngại vật, nhờ gốc cây lớn che chở,nhờ những gò mối nằm rải rác giữa rừng giúp chúng tôi có vị thế tác xạ chính xác, nên sự truy duổi của địch bị chậm lại. Đang chạy, đột nhiên Lâm Savel vấp cành cây khô té xuống, không đứng lên nổi:
_Tôi bị trặt giò rồi, không thể chạy được nữa.
Một chút bối rối tôi nói:
_Anh bò chun trốn dưới cỏ, tôi và Do sẽ nhử địch đuổi theo chạy về hướng khác.
Vừa chạy, thỉnh thỏang tôi nổ súng, để cố dụ địch đuổi theo,tiếng súng nổ, tiếng la hét nghe văng vẳng đằng sau, bây giờ không cần phương hướng,tôi và Do cắm đầu cố chạy,thóat được càng xa càng tốt, tiếng súng của địch thưa dần rồi mất hẳn, chúng tôi chạy chậm lại, rồi ngồi bệt xuống cỏ nghỉ một chút lấy sức, nghe ngóng động tỉnh. Rừng cây im lặng đáng sợ, chỉ nghe gió thổi rì rào, chúng tôi tiếp tục hành trình , cẩn thận băng qua một quảng rừng chồi ,trước mặt lai hiện ra một đám rừng thưa đầy cỏ voi chen chúc, thấy cỏ mà ngán, cỏ ngăn bước chân, cỏ để lại dấu vết trước sau gì địch cũng tìm ra tiêu diệt. Tôi quyết định chun dưới cỏ, Do bò trước, tôi bò sau, vừa bò tôi vừa lấp lại dấu vết, cứ một đoạn chúng tôi dừng lại nghe ngóng rồi tiếp tục, được một khỏang khá xa, chúng tôi ẩn trốn cạnh mấy gốc cây. Tôi biết chắc chắn là địch không dễ gì bỏ qua cuộc săn bắt, chúng đang rình mò ở đâu đó, tôi nghỉ là chúng đã bị thương vong ít nhiều, nên bây giờ chúng cẩn thận hơn. Trời đã ngã về chiều, bất chợt chúng tôi nghe tiếng máy bay từ xa vọng lại, tôi mở máy liên lạc, quá mừng rở khi nghe tiếng phát ra từ chiếc máy nhỏ, như mơ hồ từ  cỏi nào đó vọng lại, tôi ra dấu cho Do phòng bị, tôi nằm sát xuống đất,kê sát máy vào tai và miệng,lấy chiếc khăn tam giác bịt kín chổ hở tôi thì thầm:
_Nhạn trắng, nhạn trắng chim sẽ nghe.
Tiếng trong máy la lên như mừng rở :
_anh nghe tôi rõ không trả lời
_Nghe rõ năm trên năm, xin báo để anh biết, một chim sẽ bị lạc đàn khi rời tổ, bị đụng ổ kiến lửa của Manh mẻ lúc 9 gây go, một chim sẽ khác bị gảy cánh lúc 2 gây go, hiện tại còn 2 đang bị bủa lưới. Tình hình khu vực có rất nhiều nhà ở, nhiều bò, nghe có tiếng heo, gà.
_Nhận đủ bạn, tôi sẽ làm việc với bạn sau 15 phú quốc, chúc may mắn.
Tôi tắt máy và nhìn đồng hồ, 4 giờ 45,. 5 giờ tôi sẽ mở máy liên lạc lại, Do nhìn tôi như thầm hỏi, tôi lắc đầu buồn bả, nghe tiếng rột rạt từ xa,chúng tôi biết là địch đang tìm tới, tôi nói với Do:
_Khi nào tụi nó thấy mình mới bắn, còn không thì nín lặng.
Mười lăm phút chờ đợi  trôi qua chậm chạp,mở máy thì đã nghe tiếng gọi của Sỉ quan tiếp vận liên lạc, muốn biết tọa độ hiện tại của chúng tôi, tôi cho tọa độ rồi nói thêm:
_ Số nhà không chính xác, xin vào vùng chúng tôi sẽ hướng dẫn.
Tiếng máy bay mất hút, không còn liên lạc được nửa, tôi biết địch vẫn bao chung quanh, chúng tôi hy vọng máy bay vỏ trang hoặc F5 mở cho chúng tôi một con đường máu để chạy thóat thân, nhưng nhớ đến hệ thống phòng không dày đặc của địch khi thuyết trình hành quân và trời đã ngả về chiều,mọi hy vọng mong manh tắt ngấm, không ai chịu đem một lực lượng hùng hậu để chỉ cứu hai người lính nhỏ bé mà có thể xảy ra nhiều thiệt hại.Thật bất ngờ chúng tôi lại nghe tiếng máy bay, lần này càng lúc càng gần, tiếng của Sỉ quan liên lạc lại vang lên:
_Chim sẽ,, chim sẽ anh hướng dẫn cho tôi đến thăm nhà của anh đi.
Tôi chỉnh hướng theo địa bàn và dùng phương pháp đồng hồ để điều khiển máy bay,tôi lại càng ngạc nhiên hơn khi nghe được cả tiếng trực thăng,niềm hy vọng lại nhen nhúm.Tiếng súng phòng không 12 ly 7 bắt đầu nổ lắp bắp trên bầu trời, tôi lấy tấm Pano vén cỏ trải ra, máy bay thật thấp, tiếng động cơ của máy bay O2 gaò lên lồng lộn, như gà mẹ đang nóng lòng muốn cứu đàn con gặp nạn,tôi nói khẻ: Bingo…bingo báo hiệu là máy bay đang bay ngang qua vị trí.
_Tôi đã nhìn thấy anh, đề phòng bọn kiếng lửa đang ở chung quanh, báo anh mừng là Mặt trời cho phép anh tư tưởng xung phong, anh chuẩn bị tôi sẽ hướng dẫn anh ra bàn bi da.Tiếng nói vừa dứt, máy bay vút lên cao,đánh một vòng tròn rồi lao xuống thả một quả khói và bay xuôi về hướng đông. Bốn chiếc Cobra sà xuống bay theo bắn những tràng Đại liên xối xả chen lẫn những quả rốc két, khói bụi mịt mù, tôi và Do quàng tấm Pano vào cổ chạy theo hướng trực thăng đã dọn đường, ra một khỏang trống,một chiếc trực thăng CH.53 từ đàng sau lướt tới, thả xuống cho chúng tôi chiếc thang dây, tôi và Do đu vào thang, móc khoen chử D vào móc an tòan,máy bay cất cánh lấy cao độ qua hết ngon cây rồi bay thẳng. Ở trên cao tôi mới thấy được tòan cảnh,những đường đi màu đỏ của đạn đạo đan xéo nhau của máy bay bắn xuống, phòng không của địch bắn lên như pháo bông, hai chiếc F.5 đang thay phiên nhau thả bom, tôi thấy lòng phơi phới, có thóat qua những nguy hiểm mới thấy được quý giá của sự sống.
Máy bay đáp xuống phi trường Quảng Lợi,nơi Bộ Chỉ Huy tiền phương của Chiến Đòan 3 trú đóng, vị Đại Úy cố vấn đã chờ sẳn đưa chúng tôi vào hầm trạm xá để giải trình, ông cho biết là Ngô Xuân Mẫn cũng an tòan đang trên đường về ,và Lâm Savel bị gai tre đâm hư một con mắt cũng đựợc máy bay bốc thẳng về bệnh viện. Tôi mừng muốn rơi nước mắt, vậy là anh em còn đủ,niềm vui trở về trọn vẹn. Lát sau Mẫn về đến, chúng tôi ôm chầm lấy nhau, nước mắt đoanh tròngHắn cho biết dù của hắn rơi phủ trên tàn cây, sát nhà của địch, nghe tiếng động tụi nó rọi đèn tìm kiếm, Mẫn chỉ tháo kịp dù và xách súng chạy, sáng ra nghe  tiếng xe,tiếng người nói chuyện thật gần, nên cả ngày hắn núp trốn trong bụi gai,khi nghe tiếng trực thăng đến gần, hắn khóac Pano vào cổ, tìm ra chổ trống và được trực thăng đón về. Sáng ra ,vị cố vấn ra hiệu cho biết máy bay B.52 đã dọn sạch mục tiêu .
Vừa bước lên khỏi hầm, chúng tôi gặp Đại Uý Ái, tính tình vẫn sôi nổi như ngày nào ở binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt
_Ủa mày vừa về hồi đêm hả? Tao đem xe ra đón nhưng tụi Mỷ dành đi đón, tao tưởng là Toán của bên Chiêu Hồi. Chiều hôm qua, hai chiếc H.34 của phi đòan 219 chờ ở đây, chắc là để đón tụi mày về Sài Gòn giải trình , nhưng Mỷ muốn giải trình ở đây, anh em xách tàu không về, có lẻ vì sương mù nên đụng nhau rớt hết rồi, tao vừa cho Tóan đi nhảy lượm xác.
Số mệnh không biết đâu mà lường, Sau mấy chục năm biết bao vật đổi sao dời,biết bao nhiêu kỷ niệm đời lính,biết bao nhiêu lần thóat chết trong đường tỏ kẻ tóc, nhưng chuyến hành quân HALO vẫn là kỷ niệm không bao giờ phai nhạt, mỗi lần chợt nhớ lòng tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những khuôn mặt thân quen giờ đây người còn kẻ mất, mà thương cho số phận mình,  số phận anh em đồng đội.


Hòang như Bá







 Lưu niệm bằng nhảy dù HALO





Nhay Du C17

Tuesday, August 7, 2012

Chuyện Biệt Kích / Đời Nhảy Toán






1-
Tiểu đoàn Phi-Hổ Nùng . Lúc này chỉ còn một đại đội. Người Mỹ đã sa thải một số Biệt-kích-quân không đủ khả năng. Riêng tôi sau chuyến hành quân tập kích vừa qua. Được chấp nhận trong cuộc thi tiếng Anh. Với chức vụ thông ngôn và theo lời tôi yêu cầu...
Cuối năm 1969, tôi thuyên chuyển sang Đại-đội-thám -sát  (Recon
Company)  và nhận thông ngôn Toán Indiana. Toán này đang chờ bổ sung bởi chuyến xâm nhập vừa qua, toán chỉ còn trở về người toán phó Mỹ và hai Biệt-kích-quân.
Thời điểm này, đầu năm 1970. Chương trình Biệt-kích của Nha-kỹ-thuật không còn ở mức quan sát viên như trước. Chuyển qua giai đoạn hành động. Những sĩ quan, hạ sĩ quan đến trại mỗi ngày một đông. Hai toán chờ bổ sung. Indiana và Idaho được chuyển giao cho Nha-kỹ-thuật với tên mới Thăng-Long và Bắc-bình.
Toán chúng tôi, Indiana bổ sung quân số xong, đươc nhận tên mới
Thăng-long. Toán trưởng Thiếu úy Bửu-Chính, toán phó Trung sĩ Lê Nam. Toán được đưa về Trung-tâm-huấn-luyện Long-thành ở thành phố Biên-hòa thụ huấn.
Trở lại trại CCN-Đà-nẵng, cái nắng hầm hập của ngày hè thật khó chịu. Gio biển không đủ để đẩy lùi cái nắng nóng. Cầm tờ phép năm ngày công thêm hai ngàn đồng tạm ứng trên ban lương.Toán tha hồ vung vít ngoài phố. Riêng tôi và Thiếu úy Bửu Chính có chương trình riêng. Ngày đầu về Phước-tường thăm nhà tôi, rồi sáng hôm sau trực chỉ Huế. Xe đến Nam-ô, nhìn ngọn núi cao vợi án ngữ mà khâm phục ông cha ta với công mở cõi. Xe đợi giờ để lên qua đèo. Gio biển hắt thêm cái nóng từ cát trắng và những cụm phi lao thấp tè chẳng che được mát trộn lẫn mùi tanh nồng của biển theo gió hắt lên đi qua cái làng chài bên tay mặt. Chiếc xe gầm gừ leo dốc chậm chạp, mặt đường nhỏ hẹp bên vách đá thẳng đứng và vực thẳm bên này. Dưới chân nước biển xanh ngắt. Ngồi nghỉ trên trạm dừng chân đỉnh đèo, không khí trong lành, cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Bằng cảm nhận giây phút chợt đến, lòng tôi như thoát tục lâng lâng bay bổng, nhẹ tênh cùng cảnh vật. Tiếng ơi ới gọi nhau lên xe làm tôi bừng tỉnh ngất ngây. Bửu Chính sau lưng nắm tay tôi "Làm chi mà đừ người ra rứa, bộ lạ lắm sao..."Trấn tỉnh, tôi cười nói với hắn "Cảnh đẹp quá, tớ đang nghĩ tới Hoàng-thân Tôn-thất-Mỹ, tới được đỉnh đèo ngài tức cảnh sinh tình, cùng phu nhân thoát tục, hì hụp. Kết quả thượng mã phong, để lại tiếng khóc của phu nhân..."Nghe động đến gia tộc của hắn, nhăn mặt miệng chửi thề kéo tôi vào xe x
uống đèo nhưng xe cũng chậm như lúc lên.
2


Ngồi trong xe lắm lúc giật mình, tưởng tượng chỉ cần một sơ sẩy hoặc xe hư là có thể lao thẳng xuống núi tắm biển. Phía tay mặt xuất hiện bên dưới phong cảnh tuyệt vời. Một cái lõm biển chạy vòng dài theo núi, mây lãng đãng dấn trôi, cát trắng mịn leo lên như muốn lấn đá núi, xa xa thấp thoáng vài con tầu cá điểm lồng vào mầu xanh biển cả. Ba ngày vui chơi ở Huế, Bửu Chính đáng mặt thổ địa...Ngạc nhiên đầu khi về tới nhà hắn. Mọi người đều gọi hắn là mụ, mụ Chính. Hàng cây cảnh tuyệt đẹp ngoài sân chạy theo dãy hàng hiên vắng lặng treo những lồng chim. Dưới tàn xanh xum xuê cây Ngọc-lan tỏa mùi thơm ngào ngạt. Cảnh tĩnh lặng như muốn dấu đi hay hắt bỏ mọi cuộc sống náo nhiệt. Ngồi trên sập gụ. Hai mẹ con đối đáp hỏi nhau bằng giọng điệu hết sức nhẹ nhàng, tiết kiêm lời nói và người đàn ông đứng tuổi sau lưng, khi đặt ba tách trà rồi lui đứng đó im lìm. Bà mẹ Bửu Chính quay sang hỏi
chuyện tôi. Trong sự e dè tôi chậm rãi trả lời. Vài cái bánh trong cái dĩa to được đưa lên và những người trong nhà nghe chuyện chạy lại thăm cũng chỉ nói ít, phần đông vòng tay cúi đầu chào, khép nép. Cả buổi chiều dành cho gia đình tôi chứng kiến nhiều phong tục cũng như lễ nghi, phép tắc khác thường. Tỏ ra người lớn Bửu Chính nét mặt luôn trang nghiêm, cử chỉ khiêm tốn. Có những ông bà đã già gặp hắn vẫn phải cúi đầu, gập mình chào hỏi. Bữa cơm tối gia đình, lần đầu tiên tôi mới thưởng thức được cái mùi trong chất gạo ngọt nồng hương lúa, dai, dẻo của gạo đặc sản xứ Huế, gạo De An-cựu. Ăn với chim sẻ quay dòn. Trên chiếc Honda dame xanh. Bửu Chính chở tôi thăm thú kinh thành, lăng tẩm, hồ vọng...Có khi xa tít ngoại thành qua những đồng lúa, ao sen, e ấp quanh hàng cây cao chạy dài xa tận đồi dốc thoải, ngắm mà mê
cả mắt. Bầy chim trắng bay theo đội hình chữ V xa xa một con vẻ già yếu, đang cố theo sau.
Buồi chiều sông Hương vắng lặng, trên bờ thưa thớt, người ta đợi nắng khuất. Đúng như vậy, mọi sinh hoạt đều đổ dồn ra, chả mấy chốc mà náo nhiệt, những đôi gánh đặc trưng bán đồ ăn quà, đến cái thúng đội trên đầu bán hột vịt lộn, mà cô hàng chỉ rao có một tiếng, nghe lầm tưởng đến cái danh vật muôn thủa mà phát ớn, mặt đỏ bừng...Dưới dòng sông đò cũng tấp nập chẳng kém, inh ỏi trao đổi thuê mướn, ngã giá. Tay chỉ bên kia sông nơi sản xuất thứ gạo de nổi tiếng. Trên đồi chùa Thiên-mụ cô đơn lặng lẽ.


3
Hai đứa bước xuống con đò thuê, khá lớn so với đò xung quanh. Ra giữa giòng, đò xuôi về hướng hạ lưu. Không gian êm đềm, sông nước tạo cảnhhữu tình. Trăng đã lên, sao sáng lung linh. Chiếc ghe con cập vào conđò đang neo, mang lỉnh kỉnh những thức ăn cùng hai kiều nữ sông Hương, bạn học của Bửu Chính lúc hắn chưa đi lính. Qua màn giới thiệu, với ánh mắt linh hoạt, nhưng cử chỉ e thẹn nhẹ nhàng...Người đàn ông chủ đò sáp xếp đồ ăn cùng rượu và hai tiểu thư bắt đầu vào cuộc vui đờn hát. Ly rượu đầu trang trọng giao hảo với tiếng cười không ngớt. Bầu không khí nhịp nhàng chuyển động. Bửu Chính tỏ ra thích thú hết cỡ với
những bài hát hò đặc giọng, đôi lúc nhẩy nhổm lên với tiếng mõ đúng điệu nhịp, tay vỗ vẻ suýt soa...Chưa quen với bàn tiệc kiểu này, tôi chỉ biết làm theo và bắt chước. Ngừng tiếng đàn hát hai ả chia nhau tôi và Bửu Chính...Nói cười ngọt lịm chẳng thua tiếng hát...Có lẽ còn dễ nghe và khoan khoái hơn...Rót vào tai êm ả, mê ly...Cùng rượu nồng thi nhau biến hết. Chả mấy chốc,đêm vắng lặng, bóng trăng đã ngả xuyên qua lỗ vách liếp đò...Cả bốn người có vẻ khật khừ, những câu hát chợt nổi, ngắn không bài bản, tuôn ra tùy hứng...Tự nhiên bàn tay sôi nổi đi tìm cảm giác rồi những tiếng cười ré lên "Nhột, mần chi mà nhẽo rứa" Cứ thế, trong đỉnh của sự cợt nhã...Lúc ngối lúc lăn. Ông chủ đò đã mang ra chai rượu thứ hai. Dĩa gà luộc to lớn và chén muối tiêu chanh ngổn ngang như chiến trường tàn cuộc. Cái phao câu gà cứ bị đẩy qua lại tênh hênh một mình như thách thức. Vai đã ghì vai và miệng mặt cũng gần nhau phà hơi thớ nóng chẩy...Thoạt tiên ngần ngại, dần dà
bạo dạn hẳn lên. Ngọn đèn chao đi theo con gió đêm lạnh và đỉnh điểm cuộc vui bày ra trong những cái lắc lư, sóng vỗ mạn đò...Đờn một bên, mõ một nẻo, quấn lấy nhau trong tiếng kêu trầm thống, thịt gọi thịt, da gọi da, nhịp tim gọi nhịp tim hào hển, háo hức, nồng nã. Ngọn đèn gió đã tắt đi từ bao giờ, ngoài kia ánh trăng soi rõ làn sương mù như đang e ấp với giòng sông. Đò đêm nay, lần đầu tiên khám phá mê cung, tôi mất đi cái đáng nhớ cuộc đời... Nhưng dù sao nét lãng mạng, hoành tráng của cuộc chơi đã xóa ngay trong trí những băn khoăn, thẫn thờ...Lăn tùm xuống sông trong nước lạnh giá, tôi khoan khoái tháo bỏ những vết sước trên thân thể. Bơi hai vòng quanh đò, thầm nghĩ đã sạch sẽ. Vào trong khoang nằm vật xuống ngủ lăn như chết.


4
Năm ngày nghỉ phép, tràn đầy những cuộc vui, tâm hồn thoải mái. Toán cũng đã dần tề tựu. Sáng nay thiếu úy Chính được gọi lên phòng hành quân (TOC) Nhận mục tiêu và dự thuyết trình sơ khởi. Chiều đến lên kho lãnh đồ trang bị hành quân. Sau cơm chiều, chiếc xe jeep đưa toán nhập khu cấm (Isolation). Nghĩa là từ giờ phút này cho đến lúc kết thúc hành quân. Toán không được giao tiếp với bên ngoài. Cuộc thuyết trình hành quân chính thức bắt đầu vào lúc tám giờ tối. Thiếu úy Bửu Chính và Trung sĩ Lê Nam dự thuyết trình. Bốn đứa tôi coi TV và tán gẫu chờ đợi. Khoảng hai tiếng sau Chính và Nam trở về thông báo hành quân và phân nhiệm vụ cho mỗi người...Toán chúng tôi sẵn sàng hành quân với thành phần: Hai cán bộ thuộc Nha-kỹ-thuật và bốn Biệt-kích-quân
(Special Commando Unit) SCU. Toán Thăng-long cùng tám chiếc Kingbee H34 vừa mới đến bãi trực thăng trại lên đường bay ra Quảng-trị. Nơi đặt Căn-cứ-xuất-phát nắm trong khu vực Sư-đoàn 101 nhẩy dù Mỹ...Khoảng mười giờ sáng, một Trung sĩ người Mỹ đến thông báo toán trưởng chuẩn bị đi xem bãi đáp xâm nhập.
Thiếu úy Bửu Chính cử tôi đi thay thế. Ngồi trên xe ra phi trường.
Chiếc OV10 đậu sẵn chờ đợi...Lần đàu tiên tận mắt tay sờ...Lòng thán phục nền kỹ thuật tuyệt vời, nét thiết kế mỹ thuật, kiến trúc vững chãi và mọi vật hoàn hảo đến từng chi tiết...Người Đại úy phi công dẫn tôi leo lên buồng lái phía sau, tay chỉ vào cái khoen mầu vàng chữ D ngang,chốt an toàn mầu đỏ bên dưới. Hệ thống cáp cứu này nằm dưới giữa chân ghế của phi công và giảng giải...Mệnh lệnh tôi sẽ truyền cho bạn, hãy nhìn vào gương chiếu hậu trước mặt tôi. Trường hợp khẩn cấp, tiếng báo động reo vang và xin để ý khi nào tôi hô "Emergency...go" bạn hãy rút cái chốt an toàn dưới khoen vàng đồng thời nắm khoen chữ D kéo mạnh lên trên. Đó là ghế thoát hiểm. Rời phi trường chiếc Covey lên cao bỏ lại sau lưng biển xanh. Núi cao trước mặt và dãy đồi xanh ngắt bất chợt dâng lên dãy núi đá loang lổ. Ngọn núi lẻ loi dẫn vào lòng chảo Khe sanh. Không hổ danh là loại trinh sát cơ hiện đại. Từ ghế ngồi, phi công có thể quan sát mọi hướng, kể cả dưới bụng phi cơ. Chính sự thon nhỏ đã lấy hẳn sự che khuất tầm nhìn, đáng nói hơn bao phủ trên đầu hoàn toàn bằng kiếng trong...Đặc biệt không có cửa hông, người phi công phải leo qua thành máy bay đề vào ghế ngồi. Tiếng gọi trong mũ bay,nhìn lên kiếng chiếu hậu phía trước, gương mặt Đại úy phi công nhìn tôi tay chỉ và giọng nói trong mũ bay "Sửa soạn vào mục tiêu thả toán Lôi-hổ" Tôi cười ra dấu hiệu tốt, lòng thích thú vì ở vào vị trí đi Covey thả toán...Nhớ lại buổi chiều khi toán tôi vào khu cấm, cũng là lúc toán của Đại úy Minh, sau này là Chỉ huy trưởng Đoàn 2...Cùng toán phó Trung sĩ Ban (Phạm văn Ban) và bốn Biệt kích quân lên xe ra phi trường. Chiếc Covey
đang vòng trên khu vực bãi đáp. Sáu chiếc trực thăng lộ rõ dần. Tiếng người phi công gọi tôi "Chú ý chuẩn bị, tôi xuống để chĩ điểm bãi đáp" Toàn bộ trực thăng đã ở trên mục tiêu. Covey đang liên lạc với trực thăng và lao nhanh xuống. Tôi nghe thấy tiếng chú ý và tiếng hô Bingo của phi công và trên những chiếc trực thăng nhìn xuống. Covey là điểm còn tiếng Bingo là bãi đáp. Covey lao vút lên và đảo vòng. Dưới kia chiếc Gunship đang bắn dọn bãi. Nhanh và chuẩn cuộc thả toán xâm nhập chỉ trong vòng mười phút



5
Covey và trực thăng đang vòng vòng, chờ báo cáo của toán, tín hiệu tốt đẹp. Sự yên tĩnh dần được trả lại cho bầu trời. Covey đưa tôi đi xem bãi đáp. Bầu trời xanh ngắt, ánh nắng vào trưa chói chang. Dưới kia hiện ra dãy đồi núi đá loang lổ và cây cao thưa thớt. Đó là sườn của ngọn núi đá cao, vách thẳng đứng một bên, phía dưới một mầu xanh rì chạy dài tít mù...Nhìn lên phi công theo tiếng gọi "Hải, bãi đáp là hố bom" theo tay chỉ. Toàn bộ bãi đáp tôi nhận ra ngay...Lác đác xung quanh là những cây cao cạnh cái hố bom rộng."Đại úy, bay lại một lần nữa để xem địa thế". Quan sát với địa thế như vậy, toán phài thật nhanh chóng ẩn mình. Tôi chọn đám bụi rậm chạy dài theo hướng nam để ẩn nấp trước khi lấy lại phương hướng xâm nhập mục tiêu. Trên đường về, cảm giác nhẹ nhõm, tự mãn được trên chiếc Covey. Một dịp hiếm có và hãnh diện vì rất ít mục tiêu phải cần đến bay không thám. Tường trình với toán về bãi đáp, chúng tôi thống nhất cách hành động... Thiếu úy Bửu Chính lúc này mới thổ lộ "Tau không chịu nổi những
cú xuống nhanh và lên gấp của máy bay". Qúa trưa ngày hôm sau Thiếu úy Chính và Trung sĩ Nam lên dự thuyết trình không quân. Sau thuyết trình (Briefing) toán chúng tôi có một tiếng đống hồ chuẩn bị. Mọi người phải thắt đai dây sì líp qua hai háng, móc sắt sẵn sàng trước bụng. Đôi găng tay được phát đề chống cái nóng cọ sát giữa tay nắm và giây tụt. Bốn chiếc UH1 Huey và hai Huey
Gunship trên sân, phi hành đoàn lục tục lên máy bay. Thiếu úy Bửu
Chính và tôi (Nguyễn văn Hải) lên chiếc đầu. Cón lại Trung sĩ Nam (Lê Nam) cùng Sơn (Lê văn Sơn) Mẫn (Đặng văn Mẫn) Phùng (Trần Phùng)...Sơn, Mẫn, Phùng và tôi đều là Biêt-kích-quân...Theo thuyết trình Chính và tôi trên một trực thăng đổ bộ trước, tiếp đến chiếc thứ hai sẽ đổ bốn người còn lại. Dây tụt dài ở mức ba mươi mét. Một Thượng sĩ Mỹ kiểm soát xem móc sắt trước bụng đã được gài vào dây tụt hay chưa...Mọi việc hoàn tất bằng cái dấu hiệu number one của Thiếu-tá Trưởng căn cứ. Đoàn trực thăng cất cánh. Ánh nắng chiều xuyên ngang rọi trực tiếp mầu vàng khè chói lọi vào cứa trực thăng, quang cảnh bên dưới một mầu xanh thẫm chứa dấu bí hiểm.
Quay sang phía cửa bên kia ra dấu hỏi Chính tốt chưa? Ông toán trưởng mới toanh của toán tôi mà cả buổi chiều qua Đại úy Ginh (Trần trung Ginh) Đại đội trưởng Đại đội Thám-sát đặc biệt lưu tâm và truyền thêm nghề "Nhảy Toán"...Đoàn trực thăng và cả Covey đang trên mục tiêu, tôi nhận ra rõ khoảng núi đá thẳng đứng mà bên kia mới là bãi xâm nhập. Chiếc Gunship lao xuống, loạt rocket phóng xuống bãi đáp đồng thời cây đại bác 20ly bên hông khạc ra những loạt lửa dài. Ngưới Thượng sĩ Mỹ ra hiệu. Trưc thăng từ từ đứng trên hố bom. Tay trên tay dưới trong sợi dây tụt, chân chạm càng máy bay, búng người lao xuống mắt hướng về
phía dưới. Tay mặt nhấp siết hai lần dây tụt để giảm bớt lực xuống và rồi theo mắt nhìn dưới đất, ghì sợi dây một lần nữa, chân vừa chạm đất. Đưa tay tháo cái móc sắt khỏi dây tụt. Bên kia Chính cũng vừa xong. Trực thăng kế tiếp và bốn người còn lại xuống đất an toàn...Đúng như dự đoán cách bãi đáp không xa, khu rừng chồi quả là nơi che chắn lý tưởng. Thật nhanh chúng tôi biến vào khu rừng và yên tâm với địa thế hiện tại, nghe ngóng động tĩnh. Tôi báo cáo với Covey toán an toàn và đang di chuyển...Muỗi nhiều, tiếng vo ve săn đuổi. Toán phải dừng lại thoa thuốc muỗi. Tôi nói với Sơn đi đầu quan sát tìm chỗ ngủ.



6
Trung sĩ Nam và Phùng vừa gài xong hai trái mìn Claymore phòng thủ. Trời tối đen như mực, bên một hòn đá lớn, dựa lưng vào ba lô, nghe tiếng nhạc rừng trời đêm. Cảm giác lẻ loi một mình chân bỗng run lên lành lạnh. Dù rằng quanh đây đồng đội luôn phát ra những tiếng cựa quậy, đổi thế nằm. Thiếu úy Chính đang ho vào vặt áo bịt lên miệng, kèm theo hắt hơi đứt quãng, khô trong họng. Hắn đang dị ứng với núi rừng đêm lạnh.
Một vệt ánh sáng mờ vừa chiếu qua, nhỏm người dậy nhìn lên chợt hiểu. Trên đồi bên kia, địch đang truyền tin cho nhau bằng ánh đèn pin. Tiếng ầm ì, ầm ì như mỏng manh trong gió vọng lại có lẽ còn nhỏ hơn nhiều so với cái cựa mình của đồng đội. Ánh đèn pin trên kia vẫn lúc mở lúc tắt theo cái khóa truyền tin. Bầu trời muôn ngàn sao, bất chợt một sao xẹt tạo một vệt ánh sáng đâm xuống hướng nam. Tiếng xe chạy mỗi lúc một rõ dần. Vẻ nặng nề chở nặng hay xe đang lên dốc. Ngọn đèn pha loang loáng có lúc bị che khuất bởi vật cản hay lùm cây bên đường. Ánh đèn pha lúc này rọi thẳng về hướng chúng tôi chỉ cách nhau khoảng một trăm mét...Chúng tôi đang ngủ cạnh con đường. Tiếng động cơ tạo sự rung động lan truyền theo đất và cả không khí âm vang dậy núi rừng. Thấp thoáng bóng người đi bộ theo hai bên xe. Nhờ ánh đèn pha, nhìn kỹ
có người đeo súng quần áo bộ đội xen lẫn đám người ăn mặc thường tay cuốc tay sẻng. Ngang tầm chỗ toán đang ẩn núp. Bốn chiếc xe và đoàn người đột nhiên dừng lại. Đã có lệnh truyền trong cái lao xao tiếng người nhưng chẳng rõ họ đang nói gì ?...Lại gần Thiếu úy Chính, tôi bàn định...Phải di chuyển ngay trong đêm, cứ thẳng hướng mục tiêu. Để trành xa cái con đường nguy hiểm này. Nam và Phùng đã tháo xong hai trái mìn . Toán lên đường mò mẫn trong đêm tối. Ánh sáng lân tinh từ chiếc la bàn của Sơn thi thoảng chợt lên rồi lại tắt...Tiếng gà gáy từ bên dưới núi vang lên, vọng lại xa hơn tiếng thú rừng vẻ buồn tình hay cả hứng tình hú gọi, gầm gừ hoặc vui thú reo vang. Di chuyển trong đêm tối thật vất vả, nhưng nhờ vào địa thế trống trải không phải mở đường, cái khó và mệt trong lúc này chính là độ dốc. Núi mỗi lúc một cao làm trì nặng đôi chân. Một tiếng hú lớn ngân vang, phía trên xa có tiếng
đáp lại, đồng ca với đàn gà gáy dồn dập dưới dốc núi ngụ ý như đón chào ngày mới... Mệt thì nghỉ rồi lại leo... Nhắc Thiếu úy Chính căn hướng đi cho đúng, thầm nghĩ sao mục tiêu cứ ở mãi trên cao...Làn gió lạnh buốt hắt cuộn vào như ôm chặt chúng tôi, kèm theo mây mù giăng giăng trong cái sáng mờ mờ, đầu tiên của một ngày. Ngồi nghỉ lại bên tảng đá lớn quanh gốc cây. Toán chuẩn bị lương thực cho một ngày. Đun nước sôi trong cái ca nhôm, đổ nước vào hai bịch gạo sấy pha cà phê và tận hưởng điếu Capstan...Thèm muốn chết...Bửu Chính đang lo soạn bức điện và định hướng trên bản đồ vị trí con đường đêm qua. Ăn sáng xong
toán bắt đầu di chuyển. Cây rừng không rậm cũng chẳng thưa tạo được tầm nhìn tốt nhưng cũng rất dễ để lộ tung tích...Đành vậy còn hơn khu rừng thưa đêm qua. tiếng ò ò của Covey bao vùng, chiếc O2 (FAC) còn nếu OV10 thì ấm hơn ì ì. Toán dừng lại , tôi bảo Mẫn bật điện đàm...Covey đang gọi tôi trả lời và chuyển ngay bức điện...Tiếp tục di chuyển theo triền dốc thoai thoải, khu rừng này có cái sướng là không có lấy mợt con vắt...Tiếng người ho làm chúng tôi theo tự nhiên ngồi thụp xuống, nhìn vào chỗ phát ra tiếng ho, chả thấy gì?. Lại ho nữa, lần này sặc sụa...



7
Rồi tiếng nói như còn ngái ngủ, chậm rãi  "Ho mãi vậy để tớ ngủ, đắp cái khăn vào cổ đi" Chúng tôi đồng nhìn nhau, tôi tự hỏi chẳng lẽ là ma, mà ma sao nói được... Chợt hiểu tôi lấy tay chỉ chỉ xuống đất và những cái gật đầu đồng tình. Phất tay ra hiệu lẩn trốn, di chuyển trong thế khum khum...Một bóng người chui ra từ đất phía bên kia triền dốc vừa ngáp vừa sững sờ nhìn chúng tôi. Người gần nhất là Trung sĩ Nam. Cây Car 15 cùa hắn nổ khoảng nửa băng, phát một. Bóng người đổ ra sau. Toán lập tức ra sức nhắm chạy theo nhau mau mau thoát càng xa càng tốt...Một địa thế có vẻ thuận lợi cho tác chiến. Tôi gọi mọi người dừng lại, đổi ba lô cho Mẫn rồi bật máy liên lạc với Covey...Ngay tức khắc có tiếng trả lời, tôi báo đụng địch và xin trợ giúp khẩn cấp...Covey trả lời đến ngay. Chúng tôi tiếp tục di chuyển, càng đi dốc càng cao, cây ít nhưng đá thì nhiều. Lúc này Covey đã trên đầu và gọi...
- Zulu Romeo đây Oscar November, cho xin số nhà đi.
Cái ánh nắng buổi sáng bởi những tảng sương mù che khuất nên tôi đành nói với thiếu úy Chính cho một người cầm panel ra khoảng trống mé ngoài phía thung lũng chờ máy bay...Nhớ mật hiệu mầu cam.
- Oscar november, tôi đang ở hướng tám giờ, anh vòng sang phải qua thung lũng, ngay trên núi.
-Oscar november đây Zulu Romeo, cứ tiến tới hướng 11 giờ...12 giờ. Panel mầu cam đang chờ trước mặt.
-Ok thấy rồi bạn nên cố lên phía trên, có những tảng đá cao, ít cây
rất dễ cho không trợ, sẽ có ngay đồ chơi, đang xin cho bạn triệt xuất. - Cám ơn Oscar november, thoát.
Chúng tôi đi thêm 100 mét, quả đúng những tảng đá mọc chen cùng cây thấp. Bãi lý tưởng để câu dây trệt xuất. Lập ngay vị trí phòng thủ. Bời chắc chắn địch sẽ theo chân chúng tôi. Trungsĩ Nam vừa gài xong trái Claymore và hai trái mìn M14... Toán chờ đợi. Trái mìn M14 nổ tung và rồi những tràng đạn tới tấp, sối sả của địch bắn vào. Cây M79 của Phùng nổ ác liệt tạo nên bụi khói che chắn tầm nhìn. Với vị trí lúc này ở vào địa thế cao chơi từ từ lựu đạn là tốt nhất...Một tiếng nổ lớn và rồi loang theo những lửa và sức nóng. Trái B40 của địch nổ tung trên tảng đá lớn. Loạt hơi nóng bao trùm đánh bạt cái lạnh ban sáng. Chúng tôi ở vào vị thế vượt trội và sau màn lựu đạn và M79. Địch có vẻ chững lại, cùng lúc chiến trường yên ắng nặng nề. Liên lạc báo cáo nhanh với Covey. Tôi nhắc Trung sĩ Nam "Coi chừng trái Claymore, tụi nó sắp tấn công". Một tiếng xẹt, vèo ngay trên đầu, cây 79 của Phùng vừa phát hiện tên xạ thủ B40 của địch. Ôm trọn trái 79, rồi tiếng nổ và tên địch gập xuống như ai đó gấp tờ giấy...Không nghe tiếng nổ trái B40 của địch...Có lẽ đang xuống thung lũng. Vẫn cái bấm mìn trước mặt, Trung sĩ Nam đang loay hoay móc thêm lựu đạn. Tiếng
hô xung phong vang dội, đám địch xuất hiện vừa bò vừa bắn dữ dội lên trên. Những cây Car 15 giờ đây mới nổ dòn...Xác người xấp ngửa thấy rõ làn đạn cày sới cùng những co giật thân mình. Lợi thế trên cao quả là tuyệt vời. Qua đi những khói bụi đám đông lố nhố dăng hàng lum khum, tay súng nổ dòn nhào lên. Trái mìn Claymore nổ tung khói lửa bụi mù. Bên này địch vẫn tiếng hô, thét áp đảo. Thiếu úy Chính đứng hẳn lên hô : Chạy lên phía trên mau. Rồi không đợi ai hắn tiến lên trước. Đúng với chiến thuật mìn nổ là lúc mở đường máu...Chạy một đỗi, chiếc Covey đang trên đầu...Xa xa hai chiếc Khu trục A1 Skyraider...Tôi đề nghị với Chính. Lập ngay phòng thủ gài luôn trái mìn của Phùng đ
ang gọi Covey xin không kích. Tôi thấy Phùng từ nơi gài mìn hớt hãi chạy lên, bỗng quay lại nổ một trái 79.


8
Tôi hét vào trong máy.
- Oscar november, tôi đang bị bao vây, địch tấn công . Oanh kích ngay vào trái khói vàng... Tháo trái khói đeo nơi ngực, tôi liệng thẳng xuống hướng địch. Ngay lập tức tấm panel vàng cũng được căng lên giữa toán... Loạt đạn 20 ly phầm phập nổ liên tục. Chiếc A1 như ngừng lại, nhìn thấy cả tia lửa nơi nòng súng...Chiếc thứ hai cũng đang từ từ chúc đầu nổ dòn đạn 20 ly. địa thế quá gần để không thể thả bom chùm... Bên trên chiếc Covey bỗng lao vụt xuống phóng một trái khói. Chiếc A1 đầu tiên lúc này tách ra tấn công vào vị trí Covey mới phát hiện. Tiếng bom nồ đinh tai
không dứt kèm theo bên trận tiếng hô xung phong lanh lảnh...Bỗng chốc địch tràn ngập. Súng nổ ầm vang. Cạnh tôi Phùng thét nghe rợn người, cây M79 văng khỏi tay hắn, lồng ngực thấm đẫm máu...Nằm lăn người qua một bên, tôi quăng vài trái lựu đạn và vội tiếp vào súng băng đạn mới...Cả hai bên cùng nấp vào những phiến đá chơi trò cút bắt. Bên kia Thiếu úy Chính ra dấu Sơn chết rồi. Hai chiếc A1 vẫn tấn công vào mục tiêu. Khẩu phòng không bị Covey phát hiện giờ đây im tiếng. Trong máy Covey đang gọi.
- Zulu Romeo, bạn chuẩn bị triệt xuất di chuyển nhanh lên phía trên 100 mét. A1 sẽ can thiệp phía sau, bỏ lại hai người chết.
Thông báo cho Thiếu úy Chính. Mò tay vào túi bi đông đựng lựu đạn tôi lấy hết số lựu đạn của Phùng, rồi nắm lấy cái bấm mìn chờ lệnh...Những trái bon napalm tạo một vệt lửa chạy dài, cách chúng tôi chỉ vào khoảng 50 mét...A1 đã quen với vị trí mục tiêu...Nhờ vào địa thế và khẩu B40 của địch đã bị diệt, thêm vào sự tham chiến của hai Khu trục cơ. Toán chúng tôi mới giằng co được cho tới lúc này...Sáu trực thăng đã có mặt trong vùng, tạo nên sự sinh đông phấn khởi. Hai chiếc Huey Gunship thế chỗ cho Khu trục cơ.Trên kia Covey dục Toán cố di chuyển...Bằng một hiệu lệnh gật đầu đồng ý. Trái Claymore nổ tung, khói và bụi đất che chắn sau lưng. Toán vội vã chạy lên đỉnh cao hơn. Đành bỏ lại Sơn và Phùng. Hai Gunship thay nhau yểm trợ...Đến được một phiến đá bằng rộng, đường kính khoảng 10 mét. Đưa tấm panel lên làm ám
hiệu, Mẫn đang ngửa cổ nhìn trực thăng...Súng địch tới tấp từ hông của toán...À, tụi này đi vòng mong chiếm đỉnh cao, nhưng sợ máy bay phát hiện...Giật mình nhìn lại ,Mẫn chân vẫn còn quì nhưng người gập xấp trên phiến đá. máu tuôn ra lai láng...Tôi gọi Covey báo cáo, nhưng sao máy câm nín...Hiểu rồi lúc ngã xuống vì bị tấn công, nhớ lại một cái gì như ai đánh vào vai rất mạnh, nhìn qua sau vai, cời bỏ cái ba lô để kiểm soát...Đạn cày nát nắp ba lô tạo một đường rách dài lộ ra phần trên máy truyền tin nát bét...Rút vội cái máy P90 mở làn sóng cấp cứu...Có ngay tiếng hỏi "làn sóng cấp cứu nào lên với tần số"
- Đây Zulu Romeo, máy truyến tin của tôi bị bắn nát. Xin chuyển làn sóng cấp cứu...Thêm một toán viên chết.
- Ok Zulu Romeo nhận rõ, trực thăng sẽ câu bạn lên khi nào tình hình cho phép, chuẩn bị sẵn sàng, móc và đưa người chết về.
- Oscar November, roger that.
Sự can thiệp chính xác vào địch bên hông vị trí toán. Viên phi công
trực thăng đã thấy rõ địch quân bên dưới...Đã ngớt tiếng súng, thi
thoảng thẩy vài trái lựu đạn phòng ngừa, chúng tôi ghìm súng chờ đợi. Chiếc Gunship vừa vút lên cũng là lúc Covey gọi tôi.
- Zulu Romeo, chuẩn bị trực thăng đang xuống bãi.


9
Đưa tấm panel mầu cam về phía trực thăng đang từ từ tiến đến. Ba người đã chuẩn bị cho câu dây. Hai chiếc móc dây đai dù qua háng đã được gài. Trung sĩ Nam gài móc dây cho xác Mẫn đang nằm dài trên phiến đá. Ở bên này theo gió mùi máu tanh hòa lẫn khói thuốc súng tạo cảm giác nôn nao lợm giọng. Chiếc Gunship vụt qua. Khẩu đai liên tự động sáu nòng vãi như mưa đạn xuống bên sườn đồi. Trực thăng đứng trên đầu đang thả xuống bốn sợi dây câu, bỗng chao đi đầu chúc thẳng xuống thung lũng. Tiếng súng lại vang lên pha lẫn tiếng rocket nổ ầm ầm của chiếc Gunship theo sau...Bất giác nhìn xuống thung lũng một đám lửa khói bốc
cao, thầm nghĩ những người chiến sĩ đang đi lên với Thượng-đế...Có tiếng Covey.
- Zulu Romeo, bỏ lại người chết bạn có mười phút để ra khỏi nơi tồi tệ đó. sẽ dùng hỏa lực...Thoát mau đi.
Đứng vội lên tôi nói với Nam và Chính chạy đi mau lên...Băng nhanh vào hàng đá núi, chúng tôi chạy dần lên cao, mặc cho địa thế hiểm trở, nhưng nơi đây nơi lý tưởng cho tác chiến. Phân thành ba góc, Trung sĩ Nam trải ngay tấm panel. Tôi gọi Covey.
- Oscar november địa điểm mới, anh thấy thế nào?.
-Zulu Romeo tốt chuẩn bị triệt xuất.
Một chiếc UH1 Huey đang gần lại chúng tôi. Hỏa lực trên Gunship đạn cày sới tung tóe nhiều nhánh cây chồi gẫy gập. trực thăng đang ở trên đầu, sức gió từ cánh quạt vẹt hẳn hàng cây...Chiếc Gunship thứ hai bắn ra những trái rocket có tiếng nổ phụ...Loại rocket phóng ra những đinh kim để chống biển người, cốt che chắn cho trực thăng. Người Mỹ phụ trách thả, rước toán đang buông dây câu...Rõ như ban ngày, người xạ thủ trực thăng rời tay súng, người gập thẳng vào giá súng, tay soãi lỏng, ngay chỗ tôi đứng chờ dây câu những giọt máu tong tong chảy xuống in đậm vào hàng đá tảng dưới chân. Lập tức trực thăng rú lên cất thẳng lên cao rồi vụt biến. Điên cuồng Gunship lúc này xuống thấp hơn. loạt đại liên và đạn 40 ly tự động tựa mưa rào trút xuống. Cùng lúc tiếng súng của địch bên dưới ầm vang...Vội thẩy mấy trái lựu đạn.
Tiếng Covey gọi tôi.
- Zulu Romeo, bạn hãy cố cầm cự, Gunship sẽ ở cùng bạn, mọi thứ sẽ trở lại ngay...Cố lên.
-Oscar november, nhận rõ xin bạn cố gắng. hỏa lực của tôi đang hết dần. Hai trực thăng vẫn trút xuống thép và lửa nhưng thời gian tác xạ lâu dài hơn không tới tấp như trước...Nó đang câu giờ.
Chiếc Covey O2 sơn mầu rằn ri lao nhanh xuống phía đồi và đang thắng vút lên. Một trái khói trắng bốc cao.Chiếc F100 cũng sơn mầu ràn ri, không biết đến từ lúc nào lao nhanh xuống từ bụng phi cơ ba trái bom được nhả ra ngay trái khói chỉ điểm. Ba tiếng nổ dậy đất ầm vang cột khói bốc cao đen kịt. Tôi còn thấy rõ đường đạn đỏ theo máy bay...Những tiếng nổ tiếp theo sau liên tục. Một cột khói đen như cái nấm khổng lồ, bên trong nhìn rõ ngọn lửa sắc lẻm tung hoành. Chiếc F100 đã đánh trúng mục tiêu, bằng ngay mấy trái bom đầu.


10
Thật ngoạn mục khi chứng kiến cảnh những hòn than lửa bắn nối đuôi nhau vào chiếc F100 đang lao xuống bung ra một lúc ba trái bom mà không thèm bốc lên cao, đang bay gần như sát cụm rừng. Tiếng nổ ầm vang như sấm. Một biển lửa bao phủ mục tiêu. Phi cơ dần vút lên cao, giờ chỉ còn chấm nhỏ rồi mất hẳn trên  bầu trời. .. Trận không kích thành công.
Nơi chúng tôi chận chiến bỗng ngưng hẳn...Một cuộc chơi mới
chăng?...Đã có tiếng trực thăng từ hướng đông vọng lại. Những đốm đen từ bầu trời to dần. Sáu chiếc trực thăng đang bay tới.
- Zulu Romeo, bạn thấy chiếc OV10 chưa? hắn sẽ thay tôi giúp bạn. Tôi chì còn đủ xăng để bay về, tạm biệt.
Ngay sau đó tiếng Covey gọi.
- Zulu Romeo, tôi thấy quả cam của bạn rồi. Chờ dọn bãi, hãy chuẩn bị trực thăng sẽ đến từ thung lũng, ghé vào bốc bạn ra. Không sử dụng dây câu.
- Oscar november. Roger that.
Chiếc Cobra bổ xuống trút những viên đại liên, rồi tiếng nổ của đạn 40 ly(M79). Tiếng súng của địch bên dưới vẫn từng chặp sối sả cặp kè theo chiếc Cobra...Bốn chiếc Kingbee H34, thuộc phi đoàn 219. Không quân Việt Nam Cộng Hòa. Phi đoàn được mệnh danh "Thần Phong" bởi thành tích anh hùng, rất liều mạng trong chuyến thả và rước toán Biệt-kích...Huyền thoại về những phi công được danh xưng Cowboy hay Mustachio được loan truyền và mãi là những hiệp sĩ hào hùng bất diệt. Mặc cho tầng đạn từ Cobra. Bên dưới địch quân vẫn bắn lên như mưa mỗi khi trực thăng xuống tác xạ. Người phi công Cobra như hiều được tình hình và đã quen mục tiêu...Bây giờ họ đổi chiến thuật. Xạ kích từ trên cao rồi quay ngoắt về hướng thung lũng...Tiếng súng chát chúa rồi thấy rõ những vết đạn xoáy tung những hòn đá nhỏ rớt trên đầu và cổ. Nhìn ra hai tên địch vừa bò lên nằm im bất động. Lựu đạn lại được tận dụng...Cũng may loại lựu đạn đặc chế cho Biệt kích là loại nhỏ, nhẹ nên mỗi người chúng tôi có thề mang theo hành quân khoảng ba mươi trái...
- Zulu Romeo, bạn có hai phút chuẩn bị, trực thăng đang đáp.
Chiếc Kingbee bay theo sườn núi phía thung lũng sát những cây chồi rừng. Người xạ thủ đang vãi đạn trên đường hạ xuống. Chỉ còn vài mét nữa, cố chịu sức gió từ cánh quạt, chúng tôi khom lưng lao thẳng về phía cửa trực thăng. Chỉ còn cách trong gang tấc. Bỗng trực thăng nhổm lên, phía sau đuôi kêu ầm ầm...Vội nằm lăn xuống đá...Trực thăng giống như con diều mất gió ngửa bụng lao về hướng thung lũng xoay tròn như con cù...Rớt dần...dần cho đến khi ánh lửa và khói bốc cao...Chứng kiến sự việc, tự dưng ứa nước mắt. Nằm đây mà hồn tôi nao nao. Một nỗi buồn khôn tả ập vào tâm trí. Trong thân thể sức lực gần như chẳng còn...Đành nằm buông xuôi ăn vạ vậy...Đạn và rocket từ Cobra vẫn bốc lên những tầng khói, gió hắt lên bao trùm chiến trường mùi thuốc nổ khét lẹt hòa lẫn cây rừng tỏa hương ngai ngái, nồng nã. Ba chiếc Kingbee còn lại đang quần đảo bên trên chiếc Covey...Họ đang bàn tính gì chăng?. Hai chiếc Cobra vẫn thay nhau kềm mục tiêu. Một Kingbee đang tách đoàn ba chiếc... Từ hướng thung lũng, hạ độ cao ngang tầm sườn núi bay thằng vào chúng tôi. Trực thăng rú lên rồi từ từ hạ xuống ngay sát chỗ toán. Gập người đề tránh sức gió, chỉ còn khoảng một hai mét. nhồm người lên lao nhanh vào bụng máy bay...Qua khung cửa trực thăng đụn mây trắng vun vút đi ngang nhanh đến chóng mặt. Một áp lực nào đó như đè chúng tôi xuống sàn. Bằng vào cái hất ngược, trực thăng quẹo gấp sang trái, thấy cả trời mây và cảm giác trì nặng, thổn thức...Trực thăng đang thẳng xuống thung lũng rồi dần dần bốc lên cao...Một màn bốc toán ngoạn mục, đầy tính oai hùng, sáng tạo và một nét đẹp, tuyệt đẹp trong hành động...Tôi thở phào soài người trên sàn, tứ chi gần như không cảm giác...Trong bụng tiếng sôi eo éo và cơn đói tràn dâng... Miệng ứa nước miếng.





Wednesday, August 1, 2012

FOB

Trong những tháng gần đây, những tin anh Quảng, anh Hội, rồi kế đến Sáu Già từ Việt-nam lần lượt ra đi, khiến những kỷ niệm của tôi với Phú Bài bỗng phút chốc hiện về.  Phải nói thật, tất cả những Tiền Doanh (T/D) thuộc Sở Liên Lạc tôi đều có một thời gian ngắn hoặc dài làm việc ở đấy.  Nhưng nói về những kỷ niệm thì có lẽ Phú Bài là nơi tôi còn nhiều kỷ niệm nhứt.  So với FOB # 2 (sau này là CCC), FOB # 4 (sau này là CCN) và FOB # 5 (sau này là CCS), thì doanh trại của T/D-1 Phú Bài thật nhỏ xíu, được Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa nhường cho một dãy bìa của TTHL, nằm về hướng Bắc của Trung Tâm và cạnh đó là làng Phù Lương.  Nhường cho T/D-1 phần này, TTHL/ĐĐ  khỏi phải lo phòng thủ phía Bắc.  Vì diện tích quá nhỏ và phần doanh trại mà TTHL nhường lại chỉ có 1 dãy nhà, cho nên công binh Mỹ phải xây cất thêm rất nhiều để cung ứng đủ nhu cầu như phòng ăn, phòng ngủ, nhà kho, câu lạc bộ, và TTHQ, v.v... do đó phải nói là thật chật chội.
          Về mặt phòng thủ thì phía Nam là TTHL/ĐĐ và phía Tây là QL-1.  Bên cạnh QL-1 là bãi đất rộng, dùng để trực thăng Kingbee và trực thăng võ trang đậu ứng chiến ban ngày.  Phía Bắc là làng Phù Lương, phía Đông thì có vài đám rẫy và vài căn nhà, do đó vấn đề phòng thủ chỉ là cho có mà thôi.  Chỉ sợ đặc công hay pháo kích, nhưng suốt thời gian tôi  ở T/D-1 đóng tại Phú Bài, hai chuyện này không có xảy ra.

          Năm 1967, T/D-1 có khoảng 15 Toán Thám Sát.  Tại sao lại “có khoảng”, bởi vì có toán bị rụng một ít, hoặc đi đứt cả toán và còn đang chờ bổ sung nên quân số cứ trồi sụt từ 12 đến 15 toán là vậy.  Tiền Doanh 1 và Tiền Doanh 2 lấy tên các Tiểu bang Hoa kỳ như Alaska, Iowa, hay Ohio, v.v… đặt tên cho toán.  Tiền Doanh 5 và Tiền Doanh 6 lấy tên Chisel, Hammer, hay Shovel, v.v… mà đặt tên.  Có điều “luật bất thành văn” là:  Hễ có toán nào bị thiệt hại nặng quá nửa  toán, hay là “đi đoong” hết nguyên toán thì sẽ không dùng lại tên toán đó nữa.  Ngoài Đại Đội Thám Sát có quân số như vừa kể trên , T/D-1 Phú Bài còn có 3 Đại Đội Xung Kích tiếp ứng và 1 Đại Đội An Ninh, chỉ lo phòng thủ và phụ trách cổng chính.  Đ/Đ Xung Kích phần đông là người Nùng , Đ/Đ An Ninh phòng thủ thì đa số là người Hoa
          Tôi phục vụ tại T/D-1 Phú Bài khoảng 1 năm rưỡi, dưới các đời Chỉ-huy-trưởng như:  N/T Ngụy Hiền, N/T Hồ châu Tuấn, N/T Đoàn kim Tuấn, rồi lại N/T Hồ châu Tuấn.  Ông Hồ châu Tuấn làm việc ở T/D-1 Phú Bài hai nhiệm kỳ.  Về phía Cán bộ Việt nam thì gồm các Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan nắm toán, phần cán bộ làm việc ở tham mưu chỉ có vài ba người.  Tổng số cán bộ VN không quá 30 người.  Phía đối nhiệm HK thì quân số nhiều gấp 5 lần!  Thời gian này chưa thành lập toán VN.  Do đó, mỗi toán thường thì có một Toán Trưởng, do SQ hoặc HSQ cán bộ đảm trách.  Tuy nhiên, vì cán bộ VN còn thiếu nên có những toán do Biệt Kích Quân làm Toán Trưởng.  Về phần H/K thì mỗi toán đều có 3 quân nhân Mỹ, và chúng ta có thể thấy ngay tại sao H/K có nhiều quân số hơn phe ta.
          Khoảng cuối năm 1967, một số Chuẩn Úy mới ra trường được bổ xung về làm Toán Trưởng, gồm C/U Nguyễn xuân Tám, C/U Ngọc, C/U Thắng, C/U Tuyền, C/U Bằng mới lần lượt thay các Toán Trưởng BKQ.  Về sau C/U Thắng và C/U Bằng cũng chết.  Sự việc này đã xẩy ra hơn 40 năm về trước nên có thể trí nhớ của tôi cũng không còn đúng lắm, nhưng nếu tôi nhớ không lầm thì Chuẩn úy Nhuận làm Toán Trưởng Alaska, Trung Sĩ Từ - Dakota, Trung Sĩ Thọ (Trắng) - Alabama, Trung Sĩ  Kế - Dakota và Trung Sĩ Thế toán Kansas.  Còn các Trung Sĩ Huỳnh, Trung Sĩ Khâm, v.v... tôi không nhớ nắm toán nào.

          Nghe nói nhóm HSQ Toán Trưởng này phần đông là những HSQ thật xuất sắc ở các binh chủng được tuyển chọn về  cho một chương trình "Nhảy Bắc".  Nhưng sau cuộc cách mạng 1963, chương trình này tạm dẹp bỏ, và bên CIA bàn giao lại cho MAC-SOG nên các  HSQ này chuyển sang OP-35.  Bây giờ kiểm điểm lại số HSQ này đã đền nợ nước gần hết.     Phần Biệt Kích Quân thì 100% đều là tình nguyện, trong số này không dưới 25% là các quân nhân đào ngũ ở các quân binh chủng đăng vào.  Cùng thời đi lính thì tại sao không đi lính thật "Ngầu" chứ ?  Ban tuyển mộ ở trại  biết, nhưng cũng không làm khó dễ gì.  Mà những chàng trai đã tình nguyện vào Biệt Kích rồi thì đâu còn sợ chết nữa.  Trong số này cũng không ít có anh đã đậu bằng Trung học đệ nhứt cấp, hay tú tài I.  Chỉ cần quay lưng trở về là mang lon Trung Sĩ hay Chuẩn Úy tức thì.  Thời gian coi Đại Đội Thám Sát, tôi nhận thấy các Biệt Kích Quân này rất thương yêu, đoàn kết và đùm bọc lẫn nhau như anh em ruột thịt.  Nhứt là khi đã cùng ở chung một toán và cùng nhau sinh tử  - Không bỏ anh em, không bỏ bạn bè.  Khi hành quân có bạn bè bị thương thì với giá nào cũng phải mang được bạn về, không bỏ bạn, ngoại trừ lúc quân số địch đông gấp 5, 7 lần thì mới đành chịu rút lui.  Biết bao nhiêu câu chuyện còn truyền lại, người bị thương nặng bảo bạn bè:  "Tụi bây bỏ tất cả đạn lại đây và rút lui nhanh lên!  Tao sẽ ở lại bắn cản tụi nó..."  Và chuyện gì xảy ra sau đó thì mọi người cũng đoán được rồi.
           Mỗi lần toán hành quân nào chạm địch, bị thiệt hại hoặc mất tích một hai người, hay mất đi cả toán thì không khí trong trại, và nhứt là Đại Đội Thám Sát như không còn sinh khí!  Mọi người đều rút vào phòng nằm yên, câu lạc bộ cũng vắng tanh.  Ngay như khi ở nhà ăn cơm, dọn ra rồi lại dọn trở vào - Không ai màng gì đến ăn uống cả.  Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ.  Bên phía Hoa Kỳ nếu có người ra đi không về thì không khí toàn trại cũng thế.  Tôi nhớ lần Trung Úy Hùng (Râu) Kingbee bị rớt trực thăng, trong đêm từ Khâm Đức về Phú Bài rồi mất tích.  Hôm sau, mọi người đều ngồi bên ngoài Trung Tâm Hành Quân hồi hộp, chờ được biết tin phi cơ đang bay tìm trực thăng rớt.  Nhưng tìm kiếm cả tuần cũng không thấy khiến mọi người đều đau buồn, nhứt là các toán.  Với "Hùng Râu Kẽm" thì bất chấp hỏa lực địch như thế nào cũng lao vào đón toán.  Các phi hành đoàn trực thăng võ trang Cobra yểm trợ hành quân đều xem Hùng Râu là "thần tượng".  Nhứt là lần các anh bên 219 gồm các anh Hiệp, anh Lĩnh và anh Châu bị bắn rớt ở bên biên giới Lào, gần A-Shao, A-Lưới.  Không khí ở trại mấy ngày sau đó như trong nhà đang có tang!  Tôi nhớ ngày hôm đó trực thăng vào vùng để bốc toán, nhưng bị bắn quá nên đành phải quay về.  Cả 2 lần đều như thế.  Phòng không địch mạnh đến nỗi trực thăng võ trang Cobra cũng không dám vào vùng, chỉ có các phi công anh hùng của Kingbee mới liều mạng bay vào.  Tôi cũng linh tính chắc sẽ có chuyện thì qủa nhiên chuyện không may đã xảy ra.  Ba (3) anh đã vĩnh viễn nằm lại bên kia biên giới.  Anh Hiệp đã có 2 chứng chỉ Cử Nhân, nhưng vì mê Không Quân, và mê những cảm giác mạnh nên tình nguyện vào phi đoàn cảm tử này.  Mà những "Anh Hùng" này từ giã bạn bè, bỏ lại anh em trong lúc không anh nào tuổi đời qúa 30 cả.
Nói đến các toán mà bỏ quên thành phần "Thông Dịch Viên" thì thật là thiếu sót.  Mỗi toán đều có 1 thông dịch viên.  Dù Toán Trưởng nào thông thạo tiếng Anh thì cấp số toán cũng bổ xung 1 thông dịch viên đầy đủ.  Ở trại mỗi lần có lệnh hành quân thì thông dịch viên bận rộn liên lạc với Ban 4, nhận lãnh những trang bị theo nhu cầu của chuyến công tác đó.  Còn vào rừng rồi thì ngoài nhiệm vụ thông dịch cho các cố vấn và những thành viên trong toán, thông dịch viên cũng trở thành một tay súng như những toán viên khác mà thôi.  Tôi chưa từng nghe  nói có một thông dịch viên nào "gà chết" trong lúc hành quân cả.
Tôi còn nhớ tên những anh như:  Hiệp Mù, Tuấn, hiện đang sống tại Dallas, Chung Ghẻ, Hưng, Hải Móm còn ở lại VN.  Bên Mỹ thì có Đỗ Vinh, Khánh,Thái, và Cường Đất thì mới chết vài năm trước tại Mỹ.  Còn những anh em khác tôi không nhớ tên, nhưng hy vọng họ đã qua được bến bờ tự do rồi.  Nói về những chiến công và thành qủa của Tiền Doanh 1 đạt được thì tôi nghĩ chỉ có tại BCH Sở, hay Nha, cùng bên phía đối nhiệm Hoa kỳ biết thôi.  Sau khi được giải trình từ những chuyến công tác trở về, Sĩ Quan Tình Báo Việt nam và Hoa Kỳ mới bắt đầu giải đoán để đánh giá mức độ tin tức đã thu lượm được, cùng quyết định những phương án có tính cách chiến lược.  Trong ý niệm chiến lược, nhiệm vụ của Biệt Kích Lôi Hổ không phải là giết một vài tên địch, hay thu lượm một vài khẩu súng!
           Thông thường thì dân chúng gọi chung là Biệt Kích Mỹ, và cũng có một số ít người thường dị ứng với lính Biệt Kích này.  Nhưng thật ra Biệt Kích có nhiều nhóm:  Biệt kích CIDG (Civil Irregular Defense Group - Dân Sự Chiến Đấu), đóng ở các Trại A-LLĐB.  Biệt Kích Mike Force, cũng của LLĐB nhưng là lực lượng tiếp ứng.  Biệt Kích Tỉnh PRU.  Còn thành phần Biệt Kích NKT mình gọi là SCU (Special Commando Unit).  Nhìn tổng quát các thành phần Biệt Kích nói trên thì mọi người đều gọi chung là Biệt Kích Mỹ.  Nhưng ở đây tôi chỉ nói đến Biệt Kích NKT của mình thôi.  Nhìn chung thì lính BK của phe ta, về quân phong quân kỷ thì hơi kém thật.  Quần áo ăn mặc thì đủ loại.  Đồ biệt kích, đồ beo, đồ dù...  Khi tập hợp chung thì không đồng nhất, tóc tai thì dài.  Tóm lại nhìn không đúng là người lính gương mẫu.  Nhưng bù lại đánh giặc giỏi, và hành quân đạt được nhiều thành tích.  Trong suốt thời gian tôi coi đại đội Thám Sát chưa từng bị người dân ở Phú Bài, Phù Lương, hay ngoài thành phố Huế thưa kiện lính BK làm bậy.  Thời gian này một người lính BK được lãnh hơn 9000 ngàn đồng một tháng, hơn lương Trung Úy độc thân có bằng nhảy dù!  Ăn cơm ngày 3 bữa "free".  Lúc đi hành quân thì mỗi ngày ở trong rừng được thêm tiền công tác 150 đồng.  Phần thông dịch viên được huởng lương bậc 1 cũng trên 15 ngàn, đúng là lính Mỹ có khác!
           Mỗi toán đều có mướn một cô để dọn phòng, giặt giũ và ủi quần áo.  Chi phí này nghe nói là Cố Vấn toán trả riêng.  Nhưng tôi thấy mỗi tháng các cô cũng lên Ban 1 ký lãnh tiền.  Tiền bạc rủng rỉnh như thế nên BK Phú Bài tội gì mà phải ăn quịt, hay ăn chạy chi cho mang tiếng.  Tôi thấy vài ba tên mướn nhà ngoài làng Phù Lương ở với bồ.  Con gái Huế khó khăn, dễ gì tán tỉnh.  Thế mà cuối tuần, thỉnh thoảng tôi cũng bắt gặp vài tên nón đỏ cặp tay các em ra vào tiệm kem hay rạp chiếu bóng.  Còn về phần ngủ đò thì  gần như mỗi toán đều hùn tiền mướn hẳn một con đò vào đêm thứ Bảy cuối tuần.  Bận hành quân không ra phố ngủ đò được thì vẫn trả tiền như thường!  Bởi vậy hồi Tết Mậu thân có mấy tên ngủ đò bị Việt Cộng giết.  Đến đây, tôi cũng nêu lên một tật xấu của BK Phú Bài là đánh lộn.  Không cuối tuần nào không xảy ra đánh lộn giữa BK Phú Bài với lính của Sư Đoàn 1, Đại Đội Hắc Báo và Biệt Động Quân.  Nhiều khi làm náo loạn cả thành phố Huế!  Tuy hai ngày cuối tuần đều có xe tuần tiễu của trại chạy ra canh chừng quanh các khu phố lớn, nhưng cũng xảy ra đánh lộn hoài.  Mặc dù có xe tuần tiễu nhưng trại lại ở quá xa, gặp chuyện là phải giải quyết ngay, nên tôi hình như tuần nào cũng phải có mặt dưới phố.  Coi Đại Đội Thám Sát chi cho khổ thế này?  Mà gặp chuyện gì lớn, hay có nổ súng là ông Ngụy Hiền cũng đẩy tôi ra chịu trận.  Cũng may là Ông Thiếu Tá Cần, Quân Trấn Trưởng là người Bến Tre cùng quê với tôi.  Hồi nhỏ, tôi là bạn học với em ông.  Mỗi lần có toán viên nào đánh lộn, bị Quân Cảnh bắt là tôi nhào vô xin ông thả ngay, có lập biên bản gì tôi cũng kêu ông bỏ hết!  Tôi chỉ cười trừ khi ông mắng:  "Tụi mày không kiểm soát lính tráng, mỗi lần lính tụi mày đánh lộn, bắn lộn là ông Tư Lệnh gọi tao vào chửi gần tắt bếp luôn."
          Một lần khác, toán Lôi Hổ bắn lộn với lính Hắc Báo, và có người bị thương.  Tôi biết lần này chắc lớn chuyện rồi nên vọt vào gặp ông Tư Lệnh để nói trước phần phải về mình, nên chuyện dữ rồi cũng hóa lành luôn.  Còn câu chuyện này tôi chỉ nghe nói lại thôi, nhưng anh em  nào có ở Phú Bài chắc hẳn không quên.  Hôm đó, một Tiểu Đoàn BĐQ di chuyển ngang qua trại.  Không biết bên nào gây hấn trước, nhưng cuối cùng 2 bên nổ súng bắn nhau!  Bên BĐQ bắn cả súng cối vào trại khiến Cố Vấn trại phải gọi trực thăng và xe thiết giáp của TQLC Mỹ đóng gần đó đến yểm trợ.  Kết quả bên phía mình Đại Úy Thạnh và Trung Úy Cẩm bị phạt, và bị đổi về Sàigòn.
Các Sĩ Quan Tham Mưu của trại thường phê bình tôi là quá thân mật với lính, sẽ khó làm việc...  Tôi thấy nhận xét đó sai nhưng cũng không cãi lại.  Mỗi ngày, toàn thời giờ rảnh tôi đều ở dưới phòng các toán.  Lâu ngày tôi biết rõ tính tình và hoàn cảnh của mỗi toán viên.  Nếu nhìn một toán viên nào đó xâm trên lưng những câu như "Xa quê hương nhớ Mẹ hiền", hoặc "Lãng tử xa quê buồn nhớ Mẹ", hay những câu "Mai tôi chết ai người xây nấm mộ - Nén hương nào sưởi ấm lòng tôi" rồi dị ứng, cho là những tên này chắc có quá khứ không tốt, rồi đâm ra nghi ngờ, không cảm tình với những người này.  Nhưng nghĩ như thế là qúa cố chấp!  Sau này, tôi được biết những anh này thường là dân mồ côi, có anh đã từng ở cô nhi viện.  Lớn lên, họ trở thành những tay anh chị ở vùng Tôn Đản, hay Cây Da Xà, v.v...  Họ tuy thiếu mái ấm gia đình lúc tuổi thơ, nhưng sống rất thủy chung, cũng dạt dào tình cảm và nhứt là trọng chữ tín, sống chết không bỏ nhau.  Đôi khi tôi cũng có ý nghĩ ngộ nghĩnh là:  Những người lính BK này như những anh hùng Lương Sơn Bạc trong chuyện Thùy Hử ngày xưa vậy.
          Ở Phú Bài mùa Hè thì gió Lào thổi về nóng cháy da cháy thịt, nóng có lúc như thở không được.  Còn mùa Đông thì lạnh cắt da, mưa rỉ rả suốt ngày và gió lạnh thổi vào người nhức nhối như kim đâm vào da thịt, trời lúc nào cũng xám xịt một mầu chì.  Thời tiết xấu đến nỗi có khi cả tuần, cả tháng trực thăng không xâm nhập được.  Tuy nhiên, không có Tiền Doanh nào giống Phú bài ở mục này, là tất cả nhà cầu trong trại đều là dã chiến.  Nghĩa là đi tiêu vào trong thùng phuy đã được cắt đôi và đổ dầu cặn vào.  Mỗi ngày đem thùng phuy đem ra đốt, mùi hôi và khét thật khó chịu!
          Hôm nay ngồi nhớ lại chuyện xưa, không biết những người năm cũ bây giờ đang ở đâu?  Các Niên Trưởng Hồ châu Tuấn, N/T Ngụy Hiền, N/T Thạnh và Hy Râu, không biết sau khi rời khỏi chốn ta bà này rồi đi đâu?  Thiên Đàng hay Cõi Tịnh Độ?  Còn những người còn sống, Cán Bộ cũng như Biệt Kích Quân đang sống tự do ở nước ngoài, hay vẫn còn sống khổ sở nơi quê nhà?  Cho tôi gửi lời cầu chúc gia đình nhiều sức khoẻ, thỉnh thoảng bỏ vài phút tuởng nhớ lại những ngày xưa thân ái ở Phú Bài./.

MạnhMẽĐốngĐa

HAI TOÁN BIỆT KÍCH SOG

        Đây là những điều ghi nhận về hai toán biệt kích, nói thẳng ra là đang lâm nguy, trông thấy cái chết trước mắt. Toán biệt kích Colorado, với Pat Mitchel làm trưởng toán (1-0), Lyn St. Laurent là toán phó (1-1), và David “Lurch” Mixter là nhân viên truyền tin (1-2). Toán biệt kích Colorado có tám người, ba Hoa Kỳ và năm biệt kích người Thượng. Toán thứ hai là Hawaii với Les Dover là trưởng toán (1-0), Regis Gmitter toán phó (1-1) và John Justice (1-2).
        Toán biệt kích Colorado đang chạy lấy thân, tìm đường sống. Toán Hawaii cố gắng tử thủ. Cả hai toán biệt kích đều báo cáo tín hiệu khẩn cấp “Prairie Fire” trên đất Lào gần hệ thống đường mòn HCM. Khu vực hành quân xâm nhập cho hai toán cách nhau khoảng mười dặm. Toán biệt kích bị một trung đội (hơn) khoảng 40 lính Bắc Việt tấn công, nhất quyết “xóa sổ” toán biệt kích, biến mất trên mặt đất.
        Khi toán Colorado báo tín hiệu cấp cứu “Prairie Fire”, David Mixter đã chết, cứu mạng trưởng toán Mitchel, xô anh ta qua một bên, nổ súng cùng lúc với một người lính Bắc Việt và cả hai cùng ngã xuống chết. Khi một toán biệt kích SOG trong hành quân Prairie Fire gửi tín hiệu cấp cứu “Prairie Fire”, một trong ba điều có thể hoặc đang xẩy ra: Đang chiến đấu với một đơn vị địch đông đảo hơn gấp bội. Bị địch quân bao vậy hoặc sắp bị bao vây. Hết đường thoát, nhìn thấy sự chết trước mắt.
        Có hai loại (hạng thấp hơn) khẩn cấp khác: “Chiến Thuật”, toán biệt kích chạm súng với địch, nhưng vẫn còn khả năng chiến đấu. Điều này có thể nâng lên “Prairie Fire” nếu tình thế không sáng sủa hơn, có vài người bị thương. Loại còn lại, khi có người trong toán biệt kích bị đau ốm bất ngờ, hoặc bị thương.
        Tất cả các phi công lái trực thăng võ trang (gunship), thả/bốc toán biệt kích (slick), khu trục cơ hoặc phản lực đều được lệnh rõ ràng. Họ sẽ phải làm gì khi nghe phi công lái máy bay thám thính, điều không tiền tuyến (FAC, Forward Air Controller) gửi đi tín hiệu khẩn cấp “Prairie Fire” trên hệ thống truyền tin. Theo luật, khi nhận được tín hiệu, họ phải tạm ngưng việc đang làm, bay đến cứu toán biệt kích SOG đang lâm nguy.
        Trong buổi chiều hôm đó, John “Plastic Man” Plaster là người thuộc đơn vị SOG, ngồi ghế sau trên chiếc FAC “Covey”, và đại úy Mike Cryer là phi công lái chiếc FAC, OV-10 Bronco. Họ vừa cất cánh rời Pleiku sau bữa ăn trưa và bay lên hành quân Prairie Fire trên đất Lào. Trên không phận hành quân Prairie Fire lúc đó chiếc Cessna của quân đội do Ken “Shoe Box” Carpenter ngồi ghế phi công. Trên đường bay qua Lào, phi công Cryer và Plaster để ý bầu trời rất trong sáng, một ngày rất đẹp trời trong tháng Giêng. Khi họ bay ngang qua trại LLĐB Ben Het, Cryer mở máy truyền tin để liên lạc với phi cơ Cessna (Carpenter), và trong vòng 35 phút kế tiếp, họ nghe được những lời cầu cứu của hai toán biệt kích trên mặt đất.
         Trên phi cơ thám thính FAC và trực thăng được trang bị máy vô tuyến để liên lạc hàng ngang với nhau. Tất cả mọi phi công đều nghe được lời đối thoại của những người khác và có thể chen vào nói chuyện, ngoại trừ toán biệt kích ở dưới đất. Trong những năm đầu, toán biệt kích chỉ được trang bị máy truyền tin PRC-25, tiêu chuẩn cho các đơn vị Bộ Binh. và mỗi người trong toán biệt kích được đem theo máy gửi tín hiệu khẩn URC-10 trong trường hợp khẩn cấp, toán biệt kích bị phân tán, thất lạc, v.v... Sau này các toán biệt kích SOG được trang bị máy truyền tin PRC-77 mạnh hơn, có thể bắt được làn sóng phi cơ bao vùng và liên lạc trực tiếp.
        Những lời cầu cứu đầu tiên nhận được trên “tần số” Prairie Fire phát ra từ người toán phó biệt kích (1-1) Hawaii, Regis Gmitter. Toán biệt kích ném qủa khói mầu đánh dấu vị trí, rồi tiếng John Plaster phát ra trên hệ thống truyền tin. (Người ngồi ghế sau trên chiếc FAC, thường là một biệt kích SOG, có nhiều kinh nghiệm, để liên lạc, hướng dẫn toán biệt kích). “Tôi đã nhìn thấy qủa khói của ông bạn (vị trí toán biệt kích). Bây giờ anh muốn “hỏa lực” (bom, đạn, hỏa tiễn) nện vào đâu?”. 
        Tiếp theo là tiếng gọi khẩn cấp, cắt ngang của trưởng toán (1-0) biệt kích Colorado, Pat Mitchel  “Chúng tôi chỉ còn có hai người. Mixter (nhân viên truyền tin) vừa mới trúng đạn chết vài phút. Mấy biệt kích quân Thượng đã chạy lạc mất, không còn ai. Chỉ còn hai đứa tôi (Pat Mitchel và Lyn St. Laurent). Địch quân bao vây xung quanh!”.
        Chuyện xẩy ra dưới đất, thực sự “bết” hơn nhiều. Toán biệt kích Colorado chỉ còn lại hai người, và Mitchel phải cõng người toán phó Lyn St. Laurent , đã bị thương nặng... Để ý, nghe những âm thanh đằng sau (background noises), tiếng gầm thét của trực thăng võ trang, cùng tiếng súng đại liên...

Dallas, TX.
vđh