Saturday, August 7, 2021

GIỌT NƯỚC MẮT CHO PHƯỚC LONG (Trích trong tác phẩm Black April tác giả Jay Veith) P12

Trong khi các trận đánh xẩy ra trên quân đoàn III trong mùa xuân năm 1974, chiến tranh gần như “bỏ quên” ngoài vùng I chiến thuật, mấy tỉnh nơi phiá bắc, miền nam Việt Nam. Địch quân chiếm đóng trong những khu vực phòng thủ chắc chắn. Chính quyền miền Nam kiểm soát dưới chân núi và miền duyên hải trung phần. Quân cộng sản chiếm khu vực rừng núi về hương tây. Mặc dầu có vài trận đánh xẩy ra nhưng có thể nói là yên tĩnh. Vùng I chiến thuật bao gồm năm tỉnh kéo dài từ bắc xuống nam. Tỉnh xa nhất là Quảng Trị, bao gồm khu vực phi quân sự. Kế tiếp là Thừa Thiên có kinh thành xưa trong thành phố Huế. Kế đến là Quảng Nam có thành phố Đà Nẵng, lớn thứ hai trong miền nam Việt Nam. Cuối cùng là hai tỉnh Quáng Tín và Quảng Ngãi.

Trung Tướng Ngô Quang Trưởng lên nắm quyền tư lệnh quân đoàn I ngày 3 tháng Năm, 1972. Ông ta sinh tháng Mười Hai năm 1929 trong tỉnh Kiến Hòa dưới đồng bằng sông Cửu Long. Ông ta theo học một trường Pháp trong tỉnh Mỹ Tho, sau đó gia nhập quân đội và tốt nghiệp trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức năm 1954. Sau đó Tướng Trưởng theo học khóa nhẩy dù và phục vụ trong tiểu đoàn 5 Nhẩy Dù, sau khi tiểu đoàn này bị mất trong trận Điện Biên Phủ (gây dựng lại tiểu đoàn 5 ND). Đến năm 1963, ông ta lên chức tiểu đoàn trưởng, rồi lữ đoàn trưởng. Trong tháng Tư năm 1966, ông được đề bạt lên chức tư lệnh sư đoàn 1 Bộ Binh. Năm 1970, Tướng Trưởng được trao quyền tư lệnh quân đoàn IV, sau khi Tướng Nguyễn Viết Thanh rơi trực thăng chết. Tướng Trưởng chứng tỏ là một lựa chon xứng đáng, ông ta được cả VNCH lẫn người Hoa Kỳ khen ngợi là cấp chỉ huy tài giỏi nhất. Khi trận tấn công lễ Phục Sinh năm 1972 (Mùa Hè Đỏ Lửa) lên đến cực điểm, Tướng Trưởng được điều ra miền trung làm tư lệnh quân đoàn I.

Tướng Trưởng chỉ huy năm sư đoàn ngoài vùng I chiến thuật, ba sư đoàn nơi phiá bắc đèo Hải Vân, một điểm then chốt quan trọng trên quốc lộ 1 giữa Huế và Đà Nẵng, biên giới giữa hai tỉnh Thừa Thiên (Huế) và Quảng Nam (Đà Nẵng). Về điạ dư, hai tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên như bị tách ra nơi đèo Hải Vân, gần miền Bắc Việt Nam, Tướng Trưởng thành lập bộ tư lệnh Tiền Phương Quân Đoàn I, dưới quyền Trung Tướng Lâm Quang Thi. Ba sư đoàn nơi phiá bắc đèo Hải Vân gồm có: sư đoàn 1 Bộ Binh, được xem như sư đoàn giỏi nhất trong các sư đoàn bộ binh VNCH, hai sư đoàn tổng trừ bị là sư đoàn Dù và Thủy Quân Lục Chiến.

Tướng Thi sinh ra trong một gia đình điạ chủ trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, ngày 7 tháng Năm 1932 và gia nhập Quân Đội Quốc Gia năm 1950. Ông là gốc sĩ quan Pháo Binh, sau làm tư lệnh sư đoàn 9 Bộ Binh VNCH trong thời gian Tết Mậu Thân năm 1968. Sau đó, Tướng Thi làm Chỉ Huy Trưởng trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam ở Đà Lạt. Ông ta ra quân đoàn I trong tháng Tư năm 1972 và ở đó cho đến khi mất quân đoàn I.

Phiá nam đèo Hải Vân có hai sư đoàn 2 và 3 Bộ Binh VNCH. Sư đoàn 3 BB trấn đóng nơi hướng tây và nam thành phố Đà Nẵng. Thành lập năm 1971, sư đoàn 3 BB bị tan hàng trong thời gian đầu trận tấn công lễ Phục Sinh, và được đưa vào Đà Nẵng trong tháng Năm 1972 chấn chỉnh lại đơn vị (bổ sung, tái trang bị, huấn luyện). Đến giữa năm 1972, Chuẩn Tướng Nguyễn Duy Hinh được đề cử làm tư lệnh sư đoàn, chấn chỉnh lại sư đoàn 3 BB. Trong tháng Mười năm 1972, sư đoàn 3 đảm nhận nhiệm vụ mới, bảo vệ khu vực xung quanh thành phố Đà Nẵng. Tướng Hinh rất thành công, sau khi ngừng bắn (hiệp định Paris), vùng trách nhiệm sư đoàn 3 BB nới rộng bao gồm toàn tỉnh Quảng Nam và phiá bắc tỉnh Quảng Tín. Tướng Hinh được gắn thêm một sao, vị tư lệnh sư đoàn duy nhất được thăng cấp năm 1973.

Phiá nam vùng trách nhiệm sư đoàn 3 BB là sư đoàn 2 BB, dưới quyèn chỉ huy Chuẩn Tướng Trần Văn Nhựt. Ông ta là tỉnh trưởng Bình Long trận An Lộc năm 1972, được thăng cấp Tướng và nắm quyền tư lệnh sư đoàn 2 Bộ Binh. Ngoài năm sư đoàn tác chiến, quân đoàn I có lữ đoàn 1 Kỵ Binh, sư đoàn 1 Không Quân và bốn liên đoàn Biệt Động Quân (11, 12, 14, 15), 50 tiểu đoàn Điạ Phương Quân và lực lượng Hải Quân.

Vì gần miền Bắc Việt Nam, quân đoàn I là nơi có những trận đánh lớn từ năm 1965 đến năm 1972. Điạ thế rừng núi nơi phiá tây, bờ biển dài và hẹp rất khó cho việc phòng thủ. Quân đoàn I dưới quyền Tướng Trưởng đóng quân trong hộp hình chữ nhât, dài, hẹp. Trên cùng là khu vực phi quân sự và miền Bắc Việt Nam. Quốc lộ 1 chạy xuyên qua hình chữ nhật, như con rắn uốn mình dọc theo bờ biển đến Đà Nẵng. Trong thời gian chiến tranh với người Pháp, quốc lộ 1 nơi hướng bắc thành phố Huê có tên gọi là “Xa Lộ Buồn Thiu”, trong trận Mùa Hè năm 1972, có tên là “Xa Lộ Tử Thần” (Đại Lộ Kinh Hoàng).

Đèo Hải Vân được phòng thủ rất chặt chẽ, cấp chỉ huy quân đội Bắc Việt phải tìm một khu vực khác, đi vòng tuyến phòng thủ quân đội VNCH nơi phiá bắc đèo Hải Vân. Nếu quân đội miền Bắc cắt đứt quốc lộ 1, họ sẽ cô lập thành phố Huế và ba sư đoàn tinh nhuệ VNCH. Tướng Trưởng đặc biệt để ý khu vực đồi núi giữa thành phố Huế và đèo Hải Vân. Đó là một chuỗi những ngọn đồi nhìn xuống quốc lộ 1, kéo dài khoảng 10 dặm nơi hướng đông nam thành phố Huế và phi trường Phú Bài. Không thể nào (đủ quân) để phòng thủ tất cả các ngọn đồi, và quân đội Bắc Việt có thể chia cắt phòng tuyến VNCH ra làm nhều mảnh.

Nhận ra được tình hình, trong cuối tháng Mười Hai năm 1973, Thiếu Tướng Murray yêu cầu tăng thêm số tầu chuyển vận LST, để có thể cứu nguy hay tiếp tế cho hàng ngàn binh sĩ bị bao vây (nơi hướng bắc đèo Hải Vân). Tướng Murray nghĩ rằng, nếu quân đội Bắc Việt cắt đứt quôc lộ 1 giữa Huế và đèo Hải Vân, Tướng Trưởng sẽ phải đối phó với một vụ Dunkirk mà không có tầu vào cứu. (Dunkirk 1939, liên quân Anh Pháp rút ra biển để được tầu chuyên chở đón đưa sang Anh). Hải quân Việt Nam lúc đó có 9 tầu chuyên chở LST, Tướng Murray cho rằng cần thêm 6 chiếc nữa. Ngoài ra ông ta muốn vét bùn từ cửa biển Thuận An đến hải cảng nhỏ Tân Mỹ, hướng tây thành phố Huế ngay cửa sông Hương. Hải cảng có quá lượng bùn lầy, tầu vận tải lớn của Hải Quân LST không cập bến được. Ngũ Giác Đài (bộ Quốc Phòng, bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Hoa Kỳ) từ chối, viện  lẽ vi phạm hiệp định Paris. Trong tháng Mười năm 1974, Đại Sứ Hoa Kỳ, Martin yêu cầu thêm lần nữa nhưng cũng bị bác bỏ.

May mắn cho Tướng Trưởng, cấp chỉ huy quân đội Bắc Việt trong vùng I chiến thuật, đã rút các đơn vị về những mật khu (để dưỡng quân) thay vì phân tán cùng với quân đội VNCH như trong vùng III, IV chiến thuật. My sư đoàn Bắc Việt bị thiệt hại nặng được rút về Bắc trong năm 1973 để chấn chỉnh. Nhưng sau khi các đơn vị Bắc Việt / Việt Cộng dưới đồng bằng sông Cửu Long tạo được chiến thắng. Tướng Giáp cho rằng sự thụ động của các đơn vị Bắc Việt nơi phiá bắc miền Nam Việt Nam (vùng I chiến thuật) là một sai lầm lớn, ông ta ra lệnh tấn công giới hạn một số mục tiêu nhưng mạnh mẽ trong năm 1974.

Trong tháng Năm 1974, quân đội Bắc Việt mở trận tấn công lớn trong vùng I chiến thuật, mục tiêu là quân Tiên Phước, cách thị trấn Tam Kỳ, thủ phủ tỉnh Quảng Tín 25 dặm về hướng tây. Tiên Phước là một căn cứ Điạ Phương Quân quan trọng, bảo vệ quốc lộ 1 và thị trấn Tam Kỳ. Trước áp lực nặng của địch lên Tiên Phước, Chuẩn Tướng Nhựt phải di chuyển gần hết sư đoàn (sđ 2BB) của ông ta từ Quảng Ngãi lên bảo vệ Quảng Tín. Quân cộng sản thừa thế tấn công tỉnh Quảng Ngãi, và Tướng Trưởng xử dụng hai liên đoàn Biệt Động Quân (trừ bị cho quân đoàn I) bảo vệ Quảng Ngãi. Quân đội VNCH đứng vững nhưng tổn thất cả hai bên lên cao.

Sau trận Tiên Phước, quân đội Bắc Việt mở trận tấn công lớn khác bắt đầu từ ngày 18 tháng Bẩy. Sau hai tuần lễ tấn công, một trung đoàn thuộc sư đoàn 324 Bắc Việt tràn ngập quân lỵ Nông Sơn, và khu vực mỏ than nằm sâu trong núi. Sau đó sư đoàn 324 di chuyển về hướng đông tấn công quận Thường Đức, một quận nhỏ nơi đầu thung lũng đi vào thành phố Đà Nẵng. Trong quận Thường Đức có một tiẻu đoàn Biệt Động Quân chống cự mãnh liệt, đẩy lui nhiều đợt tấn công của địch. Quân đội Bắc Việt xử dụng đại bác phòng không 37 ly bắn trực xạ vào phòng tuyến BĐQ, phá hủy công sự phòng thủ làm cho tiểu đoàn BĐQ phải rút lui.

Tướng Trưởng đưa vào chiến trường một liên đoàn Biệt Động Quân, một trung đoàn thuộc sư đoàn 1 Bộ Binh. Sư đoàn 324 Bắc Việt xử dụng thêm một trung đoàn tấn công. Thiếu Tướng Hinh, tư lệnh sư đoàn 3 BB được tăng cường, chặn đứng tận tấn công của quân đội Bắc Việt, nhưng cũng không tiến xa được, địch quân đào công sự phòng thủ trên những ngọn đồi xung quanh, tử thủ.

Tổng quát, trận tấn công Thường Đức rất khốc liệt, hơn 4,700 quân VNCH tử trận hoặc bị thương. Riêng sư đoàn 3 BB tổn thất 3,500 quân, một phần tư quân số tác chiến của sư đoàn. Theo Tướng Hinh “sự tổn thất không được bổ sung đầy đủ… khả năng tác chiến của đơn vị giảm xuống” Vấn đề cắt giảm đạn dược là một trở ngại lớn cho Tướng Hinh phản công lấy lại quận Thường Đức. Mỗi ngày Pháo Binh chỉ được bắn 6 qủa 105 ly, và 4 qủa 175 ly cho mỗi khẩu súng đại bác. Nhiên liệu, xăng nhớt cũng là vấn đề phải giới hạn, trực thăng chỉ huy của ông ta chỉ đủ xăng để bay chỉ huy hành quân 4 tiếng đồng hồ, mỗi tuần.

Sauk hi Tướng Trưởng đã xử dụng đơn vị trừ bị, quân đội Bắc Việt bắt đầu đưa quân vào khu vực đồi núi giữa Huế và đèo Hải Vân. Tình hình khu vực Thường Đức tạm yên, Tướng Trưởng rút liên đoàn Biệt Động Quân và trung đoàn thuộc sư đoàn 1 BB về Đà Nẵng. Quân đội Bắc Việt nhanh chóng quay trở lại chiếm ngọn đồi cao có tên là đồi 1062, cách quận Thường Đức 3 dặm về hướng đông bắc. Chiếm được khu vực này, thành phố Đà Nẵng nằm trong tầm tác xạ của đại bác 130 ly Bắc Việt. Tướng Trưởng rút hai lữ đoàn 1 và 3 Nhẩy Dù ra khỏi tỉnh Thừa Thiên, ra lệnh cho Tướng Lê Quang Lưỡng, tư lệnh sư đoàn Dù tấn công lấy lại đồi 1062.

Sự xuất hiện của “Thiên Thần Mũ Đỏ” làm cho Hà Nội để ý. Tướng Văn Tiến Dũng ra lệnh triệu hồi tư lệnh quân đoàn 2 (Bắc Việt) ra Hà Nội nhận lệnh. Việc bảo vệ Thường Đức rất quan trọng, Tướng Dũng đích thân ra lệnh “Anh phải giữ (đồi 1062) càng lâu càng tốt, cho đến mùa xuân năm 1975, để các khu vực khác có thể hoạt động. Anh sẽ nhận được đầy đủ tiếp liệu, đạn dược, và bổ sung quân số.”

Quân Nhẩy Dù tấn công, chiếm được đồi 1062 hôm 18 tháng Chín, nhưng địch tấn công lấy lại ngọn đồi ngày hôm sau. Số tổn thất quân đội Bắc Việt lên cao, một trung đoàn thuộc sư đoàn 304 vào thay cho trung đoàn thuộc sư đoàn 324 đã bị tổn thất nặng, tham chiến từ lúc đầu. Sau khi vào khu vực hành quân đồi 1062, trung đoàn Bắc Việt (sư đoàn 304) đào hầm hố, công sự phòng thủ, đợi quân Nhẩy Dù VNCH trở lại.

Quân Nhẩy Dù thảo kế hoạch tấn công kỹ càng, bất ngờ tấn công hôm 2 tháng Mười, chiếm được ngọn đồi, loại khỏi vòng chiến 400 lính CSBV (Cộng Sản Bắc Việt). Sư đoàn 304 Bắc Việt đưa vào chiến trường một trung đoàn khác. Tổn thất lên cao nhưng quân đội Bắc Việt vẫn tiếp tục tấn công. Trong vòng hai tuần lễ kế tiếp, quân Nhẩy Dù đẩy lui nhiều đợt tấn công của địch nhằm chiếm lại đồi 1062. Tướng Dũng ngoài Hà Nội vẫn thúc đẩy, đích thân vị tư lệnh phó quân đoàn 2 (Bắc Việt), Tướng Hoàng Đan vào trực tiếp chỉ huy. Ông ta đem vào trận điạ trung đoàn còn lại của sư đoàn 304, hai tiểu đoàn Công Binh, cùng với 4,000 viên đạn pháo binh, súng cối.

Để khích động tinh thần binh sĩ, pháo binh Bắc Việt bắn phá liên tục hai ngày làm cho quân Nhẩy Dù không ngóc đầu lên được. Ngày 1 tháng Mười Một, Tướng Hoàng Đan ra lệnh tấn công, chiếm lại đồi 1062, đẩy lùi quân Nhẩy Dù. Nhất quyết giữ ngọn đồi chiến lược, Tướng Đan ra lệnh cho Công Binh xây tuyến phòng thủ vững chắc, chờ quân Nhẩy Dù quay trở lại. Mấy ngày sau, được không quân yểm trợ, Tướng Lưỡng ra lệnh phản công và lấy lại ngọn đồi 1062. Đó là trận đánh cuối cùng trên đồi 1062, cả hai bên đều bị tổn thất nặng nề. Quận lỵ Thường Đức vẫn nằm trong tay quân đội Bắc Việt.

Trong khi đó, việc rút ra hai lữ đoàn Nhẩy Dù làm tuyến phòng thủ thành phố trống trải, Tướng Trưởng, đưa sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến nơi phiá nam tỉnh Quảng Trị về phòng thủ Huế. Liên đoàn 15 BĐQ và lữ đoàn 1 Kỵ Binh trám vào tuyến TQLC. Khoảng giữa tháng Tư và tháng Sáu năm 1974, quân đội Bắc Việt thuộc Mặt Trận B-4 (khu vực nơi phiá bắc đèo Hải Vân) đã thám sát điạ thế những ngọn đồi quan trọng nằm giữa Huế và ngọn đèo, khu vực núi Bông, mũi Mỏ Tầu và họ chiếm giữ nhiều ngọn đồi dọc theo quốc lộ 1, rồi sau đó sư đoàn 1 Bộ Binh lấy lại. Cường độ chiến tranh trong khu vực lắng xuống trong suốt mùa hè, nhưng đến tháng Chín, có nhiều biến đổi.

Bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn I (bắc đèo Hải Vân) đã trải mỏng quân ra để giữ đất, buổi sáng ngày 28 thng Tám, pháo binh Bắc Việt pháo kích vào các vị trí trung đoàn 3, sư đoàn 1 BB đang bảo vệ mũi Mỏ Tầu và đồi 350. Tiến công nhanh chóng, quân đội Bắc Việt chiếm được mấy ngọn đồi. Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Điềm tư lệnh sư đoàn 1 Bộ Binh vội đưa trung đoàn trừ bị vào phản công. Quân đội Bắc Việt bắn pháo binh vào phi trường Phú Bài và dọc theo quốc lộ 1, làm cho phi trường ngừng hoạt động, và xe cộ kẹt trên quốc lộ 1. Trận đánh kéo dài mấy tuần lễ vẫn không chiếm lại được mấy ngọn đồi mất về tay địch quân (Bắc Việt). Tướng Trưởng phäi rút bớt quân sư đoàn 3 BB đưa ra Huế, phòng tuyến Quảng Ngãi lại bị hở, quân đội Bắc Việt chiếm được đồi 1062.

Nhận thấy tình hình căng thẳng, Trung Tướng Lâm Quang Thi, tư lệnh tiền phương quân đoàn I đích thân chỉ huy trận phản công lấy lại mũi Mỏ Tầu và đồi 350. Ông ta tăng cường liên đoàn Biệt Động Quân, trung đoàn bộ binh từ trong Quảng Ngãi, Quảng Nam ra, một tiểu đoàn Nhẩy Dù, một tiểu đoàn Điạ Phương Quân. Quân VNCH bắt đầu phản công từ cuối tháng Mười, tiến quân đều đặn nhưng thời tiết xấu, thiếu sự yểm trợ của Không Quân nên khựng lại. Tướng Thi rút thêm liên đoàn 15 BĐQ, chỉ để lại lữ đoàn 1 Kỵ Binh và Điạ Phương Quân bảo vệ tỉnh Quảng Trị. Đến giữa tháng Mười Hai quân đội VNCH làm chủ khu vực mũi Mỏ Tầu và đồi 350.

Trong tháng mười, Phạm Hùng và Tướng Trần Văn Trà hoàn thành kế hoạch cho mùa khô năm 1974-75. Giai đoạn 1, từ tháng Mười Hai 1974 đến tháng Hai 1975, các đơn vị dưới quyền ông ta sẽ tấn công để hoàn thành ba mục tiêu. Đầu tiên, cắt những trục lộ giao thông quan trọng phiá bắc đồng bằng sông Cửu Long. Thứ hai chiếm một phần quốc lộ 14, phiá bắc tỉnh Phước Long đến tỉnh Quảng Đức, việc này sẽ nối liền khu vực hậu cần Mặt Trận B-2 với miền cao nguyên. Thứ ba, đánh chiếm hai quận sản xuất lúa gạo trong tỉnh Bình Tuy, hướng đông bắc Saigon. Giai đoạn 2, từ tháng Ba cho đến cuối tháng Năm 1975, mục tiêu là những khu vực rộng lớn trong tỉnh Tây Ninh, Bình Long hướng tây bắc Saigon. Giai đoạn 3, sẽ tiếp tục những trận tấn công trong mùa mưa.

Tướng Trà chọn những khu vực kể trên như “bàn đạp” cho mục tiêu tối hậu của ông ta: tấn công thành phố Saigon. Trong năm 1964, Ông ta đã phác họa ra kế hoạch cho 5 mũi tấn công đánh chiếm thủ đô miền Nam Việt Nam. Trà soạn những trận tấn công mới, để làm suy yếu vòng đai bảo vệ Saigontrong khi sửa soạn cho trận tấn công tương lai vào thủ đô VNCH.

Phước Long là mục tiêu quan trọng trong giai đoạn 1, và quận Đồng Xoài là chìa khóa để đánh chiếm tỉnh. Quân lỵ Đồng Xoài từ lâu đã được cộng sản chiếu cố, thị trấn kiểm soát giao điểm quan trọng, và nơi quốc lộ 14 chấm dứt. Về hướng bắc, quốc lộ nối Phước Long với tỉnh Quảng Đức, và tiếp tục đi lên thị xã Ban Mê Thuột, thủ phủ tỉnh Darlac nơi phiá nam cao nguyên trung phần. Chiếm được Đồng Xoài, thị trấn Phước Bình thủ phủ tỉnh Phưc Long sẽ bị cô lập, mở rộng quốc lộ 14, thuận lợi cho việc đưa quân, đồ tiếp liệu vào Mặt Trận B-2. Tướng Trà đưa vào trận điạ hai sư đoàn, đơn vị chiến xa và pháo binh hạng nặng để dứt điểm Đồng Xoài.

Phước Long là điểm dễ (tấn công), dân cư thưa, đa số người Thượng (Dân Tộc), và chỉ có bốn tiểu đoàn Điạ Phương Quân, vài chục trung đội Nghiã Quân bảo vệ một tỉnh rộng lớn, núi đồi. Về phiá VNCH, việc tiếp tế còn khó khăn hơn bảo vệ tỉnh. Con đường đi ến Phước Long đã bị cộng sản cắt đứt, ít lâu sau hiệp định Paris có hiệu lực, và việc tiếp tế phải thực hiện bằng phi cơ vận tải C-130. Trong tháng Mười Một, bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, liên tục nhận được tin tức tình báo gửi về cho biết Mặt Trận B-2 của Tướng Trà đã có kế hoạch tấn công Phước Long. Quân đoàn III đưa các đại đội trinh sát của các sư đoàn 5, 18, 25 vào tăng cường.

Trong khi chờ đợi mùa khô đến, Phạm Hùng và Tướng Trà nhận được công điện vào cuối tháng Mười, triệu tập họ ra Hà Nội, dự phiên họp của Bộ Chính Trị ngày 18 tháng Mười Hai. Hai người ra từ trong bộ chỉ huy của họ trong rừng Tây Ninh ra đến Hà Nội cuối tháng Mười Một. Trong phần thuyết trình của họ trong bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Bắc Việt, hai người sững sờ khi được biết trong lúc họ trên đường ra Hà Nội, Tướng Giáp đã hủy bỏ kế hoạch tấn công mùa khô của họ. Bộ TTM Quân Đội Bắc Việt ra lệnh cho Mặt Trận B-2 ngừng việc tấn công Đồng Xoài, không được xử dụng chiến xa và pháo binh hạng nặng. Thay vào đó, B-2 được lệnh đánh chiếm hai làng nhỏ trên quốc lộ 14 phiá bắc Đồng Xoài, Bù Đăng và Bù Ba, chuẩn bị giai đoạn 2 đánh quân lỵ Đức Lập trong tỉnh Quảng Đức. Mũi tấn công này yểm trợ cho trận tấn công chính vào phiá nam cao nguyên trung phần.

Cả Tướng Giáp lẫn Tướng Văn Tiến Dũng muốn giữ bí mật kế hoạch tổng quát, sợ quân đội VNCH biết được ý đồ của họ. Theo kế hoạch của Tướng Giáp, giai đoạn 1, mở các trận tấn công giới hạn, bất ngờ, nghi binh để đánh lạc hướng quân đội VNCH. Giai đoạn 1 phải tiết kiệm đạn dược cho trận tấn công chính trong giai đoạn 2. Tướng Giáp giải thích cho Tướng Trà “Chúng ta phải giữ bí mật ý định chiến lược đã được bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương chấp thuận. Thời gian này không để cho địch biết, chúng ta có thể xử dụng chến xa, pháo binh hạng nặng để tấn công. Mặt khác, sau khi hiệp định Paris có hiệu lực, cả Nga Sô lẫn Trung Quốc ngừng viện trợ các loại vũ khí đó. (chiến xa, đại pháo).”

Đằng sau lời giải thích “xã giao”, Tướng Giáp không tin tưởng kế hoạch của Tướng Trà. Trận tấn công mùa mưa vào khu Tam Giác Sắt, được chiến xa, pháo binh yểm trợ đã thất bại. Sư đoàn 9 (VC) đã bị tổn thất nặng nề, và Tướng Trà đã “làm cạn” kho đạn đại bác. Hơn nữa, trong bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Bắc Việt, Tướng Hoàng Văn Thái biết nhiều về Tướng Trà, thất bại trong vụ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân năm 1968, và không chiếm nổi thị trấn An Lộc trong trận Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972.

Mặc dầu không được sự ủng hộ của bộ Tổng Tham Mưu, tuy nhiên, Lê Duẫn và Lê Đức Thọ đã  làm việc với Tướng Trà trong miền nam chống Pháp trong thời gian 1940, 1950. Nhưng lần này, Lê Đức Thọ cũng không đồng ý với ông ta, nói với Tướng Trà “Sự xụp đổ của miền Nam Việt Nam rất rõ, không thể thay đổi được, nhưng kho tiếp liệu của chúng ta vẫn còn rất thấp, đặc biệt về vũ khí đạn dược. Do đó chúng ta phải giới hạn tấn công trong năm 1975 để bảo toàn sức mạnh cho năm 1976, khi chúng ta mở những trận tấn công lớn, và dành chiến thắng… Chúng ta không thể theo đuổi một cuộc chiến kéo dài mãi mãi.”

Ngày 6 tháng Mười Hai, quân cộng sản tấn công trong tỉnh Tây Ninh với sư đoàn mới thành lập 303. Quân đội VNCH ngăn cản được các trận tấn công của địch trong tỉnh, nhưng không phá đưọc vòng vây núi Bà Đen, trên đỉnh núi có trạm tiếp vận truyền tin. Điều này làm cả hai VNCH lẫn người Hoa Kỳ tin rằng, Tây Ninh sẽ là một mục tiêu lớn cho quân cộng sản.

Về hướng đông Saigon, Quân Khu 6 (VC), trung đoàn 812 tấn công quận lỵ Tánh Linh và Hoài Đức trong tỉnh Bình Tuy. Lực lượng Điạ Phương Quân VNCH chống trả nhưng yếu dần đi. Trung Tướng Dư Quốc Đống, vị tư lệnh Quân Đoàn III mới, đưa sư đòan 18 Bộ Binh và liên đoàn 7 Biệt Động Quân vào bảo vệ và giữ vững Hoài Đức.

Trong  vùng đồng bằng sông Cửu Long, sư đoàn 5 (VC) trực thuộc Quân Khu 8 và 9 (VC) ở nhiều trận tấn công dưới vùng IV chiến thuật (VNCH). Quân ội VNCH phản công quyết liệt gây tổn thất cho sư đoàn 5 (VC).

Ngày 13 tháng Mười Hai, lực lượng dưới quyền Tướng Trà trong tỉnh Phước Long gồm có: hai trung đoàn bộ binh, lấy ra từ sư đoàn 303 và sư đoàn 7, được tăng cuờng đơn vị Đặc Công và Công Binh, tấn công bất ngờ vào Bù Đăng. Đồng thời một tiểu đoàn tấn công một thị trấn khác trong quận Bù Đốp, một vị trí phòng thủ quan trọng, trấn giữ cửa ngõ vào thành phố chính trong tỉnh. Một tiểu đoàn khác tiến về hướng Đồng Xoài.

Tướng VC Lê Đức Anh nhanh chóng sửa soạn tấn công cả hai nơi Bù Đốp và Đồng Xoài. Ông ta ra lệnh cho một trung đoàn cùng với đặc công tấn công tiểu đoàn Điạ Phương Quân và ba đại đội trinh sát của 3 sư đoàn VNCH (5, 18, 25) đang bảo vệ Bù Đốp. Quân cộng sn xử dụng 5 tiểu đoàn tấn công quận lỵ Đồng Xoài.

Bù Đốp bắt đầu bị tấn công từ ngày 23 tháng Mười Hai. Quân chính quy Bắc Việt / VC áp sát vào thị trấn, đe dọa tràn ngập Bù Đốp. Quân đoàn III đưa tiểu đoàn 2 trung đoàn 7 (sư đoàn 5 BB VNCH) vào thay thế ba đại đội trinh sát. Xuống phi trường Phước Bình, tiểu đoàn 2/7 nhận tuyến phòng thủ giữa Phước Bình và Bù Đốp, nhưng không tiến về giải vây thị trấn. Không quân bay nhiều phi tuần thả bom, nhưng không hiệu qủa vì súng phòng không cùng với hỏa tiễn SA-7 (mang trên vai lính bộ binh Bắc Việt). Đến đêm 23 tháng Mười Hai, Bù Đốp lọt vào tay địch quân. Ngày hôm sau, quân cộng sản tiến lên Phước Bình nhưng phải ngừng lại trước phòng tuyến tiểu đoàn 2/7.

Trong khi quân đội VNCH lo phòng vệ xung quanh thị trấn Phước Bình, quân cộng sản tấn công quận Đồng Xoài buổi sáng ngày 26 tháng Mười Hai. Đơn vị Điạ Phương Quân bảo vệ Đồng Xoài chịu không nổi một trận tấn công lớn, thất thủ. Địch quân lấy được 3,000 viên đạn đại bác. Phần lớn tỉnh Phớc Long đã rơi vào tay quân cộng sản, Tướng Trà tìm hậu thuẫn nơi Lê Duẫn, ông ta giải thích, phần còn lại đơn vị phòng thủ VNCH bị cô lập, và quân đội VNCH không có khả năng đưa một đơn vị mạnh (hết quân trừ bị) vào phá vòng vây tỉnh lỵ Phước Bình. Tướng Trà xin sự chấp thuận tấn công thị trấn, Lê Duẫn đồng ý. Để bảo đảm chiến thắng, Tướng Trà xin được xử dụng một tiểu đoàn chiến xa và pháo binh hạng nặng 130 ly và được chấp thuận.

Quân đội VNCH tổ chức phòng thủ trong một khu vực nhỏ nhưng có điạ thế tốt. Về phiá đông và phiá bắc có sông Bé, nơi hướng nam thị trấn Phước Bình là núi Bà Rá. Phần còn lại của ba tiểu đoàn Điạ Phương Quân phòng thủ xung quanh thị trấn. Năm trung đội pháo binh cung cấp hỏa lực yểm trợ trực tiếp. Đơn vị cảnh sát, nghiã quân vẫn đi tuần trong khu vực. Tiểu đoàn 2, trung đoàn 7, sư đoàn 5 được xử dụng làm đơn vị trừ bị.

Đơn vị phòng vệ VNCH phải đối đầu với 5 trung đoàn chính quy (Bắc Việt / VC), 5 tiểu đoàn phòng không, các đơn vị Đặc Công, Công Binh, 3 tiểu đoàn Pháo Binh và 20 chiến xa. Nghiên cứu trận điạ, Tướng Lê Đức Anh nhận thấy chìa khóa để đánh chiếm tỉnh lỵ Phước Bình là núi Bà Rá, chế ngự, nhìn xuống thành phố.. Tướng Anh thảo kế hoạch cho đơn vị Đặc Công đánh chiếm núi Bà Rá cùng lúc với hai trung đoàn tiến theo hai trục lộ vào thành phố. Ông ta dự trù, mở một lỗ hổng nơi tuyến phòng thủ VNCH rồi cho đơn vị chiến xa tiến vào đánh chiếm bộ chỉ huy tiểu khu (Phước Long). Hai trung đoàn khác đóng quân nơi hướng bắc thị trấn Phước Bình không cho quân VNCH thoát chạy qua sông Bé. Trung đoàn thứ năm, được giữ lại làm đơn vị trừ bị.

Bắt đầu tấn công sáng hôm 30 tháng Mười Hai, hai trung đoàn tiến công trên hai trục lộ, khựng lại không tiến lên được trước hỏa lực của Điạ Phương Quân, đơn vị Đặc Công cũng không chiếm được núi Bà Rá. Tướng Anh tăng cường hỏa lực Pháo Binh, ra lệnh cho hai trung đoàn bộ binh tiếp tục tiến lên. Đến giữa buổi chiều ngày 31 tháng Mười Hai, đơn vị bộ binh của Tướng Anh mới đánh xuyên qua phòng tuyến Điạ Phương Quân bảo vệ thị trấn Phước Bình. Ngày 1 tháng Giêng, Đặc Công chiếm núi Bà Rá. Đến cuối ngày, quân đội VNCH lui về tuyến phòng thủ dài khoảng hai dặm xung quanh tỉnh lỵ Phước Bình.

Ngày 2 tháng Giêng, Tổng Thống Thiệu triệu tập nội các khẩn cấp bàn về chuyện Phước Long. Tổng Thống Thiệu và bộ Tổng Tham Mưu VNCH vẫn chưa nắm chắc tình hình Phước Long, Đại Tướng Cao Văn Viên sau này cho rằng, các báo cáo của viên Tỉnh Trưởng qúa chủ quan. Để lấy lại tỉnh Phước Long, Trung Tướng Dư Quốc Đống tư lệnh quân đoàn III yêu cầu được tang viện ngay tức khắc, đặc biệt đơn vị cũ cûa ông ta, sư đoàn Nhẩy Dù. Dựa vào lộ trình di chuyển (bằng phương tiện không quân) từ vùng I chiến thuật vào, và hệ thống phòng không của địch, Tổng Thống Thiệu từ chối sự yêu cầu của Tướng Đống. Sau đó liên đoàn 81 Biệt Cách Dù được gửi đến chiến trường Phước Long như trận An Lộc năm 1972.

Trong lúc nội các Tổng Thống Thiệu họp khẩn cấp, liên đoàn 81 BCD đang hành quân trong tỉnh Tây Ninh, chuẩn bị nhẩy vào, phá vòng vây của địch đang bao vây núi Bà Đen. Chỉ có hai đại đội BCD nằm đợi nhiệm vụ (sẵn sàng). Hai đại đội này sẽ được đưa vào trước, trấn giữ tỉnh lỵ Phước Bình, đợi cho phần còn lại của liên đoàn. Không lực VNCH được lệnh xử dụng các phương tiện phi cơ của cả hai quân đoàn III và IV VNCH cho trận Phước Long.

Sáng ngày 3 tháng Giêng, Đại Tá Phan Văn Huấn, liên đoàn trưởng 81 BCD, bay thám sát Phước Bình và chọn một bãi đáp nơi phiá bắc thị trấn. Liên đoàn 81 tập trung trong phi trường Biên Hòa đợi trực thăng đổ quân. Liên đoàn sẽ đổ quân làm hai đợt (có thể vì số lượng trực thăng không đủ), tuy nhiên đợt đầu vẫn chưa cất cánh đuợc, phải đợi đến chiều, vì lý do “quản trị” của Không Quân. Tiếp theo là vấn đề khác, các phi cơ có nhiệm vụ thả bom bãi đáp (bảo đảm an toàn cho đơn vị) vẫn chưa thấy. Với hỏa lực phòng không mnh mẽ của địch, Đại Tá Huấn ra lệnh ngừng chuyện nhẩy vào Phước Bình.

Sáng hôm sau, mưa và sương mù ở Phước Bình làm hoãn lại chuyến thứ hai của liên đoàn 81 BCD, nhưng cuối cùng các phi công VNCH cất cánh. Bay theo giòng sông Bé uốn quanh co, họ đến Phước Bình vào giữa buổi sang. Lần này, các phi công VNCH bay 60 phi vụ thả bom để cho bãi đáp được an toàn, không có hỏa lực phòng không của địch bắn lên. Trung Tá Vũ Xuân Thông, nhẩy chuyến đầu cùng với toán quân đi đầu. Họ nhanh chóng bắt tay với quân trú phòng. Đợt đổ quân thứ hai không được may, địch đã báo động, sửa soạn, phao kích hàng trăm qủa hỏa tiễn, súng cối vào bãi đáp, gây tổn thất.

Được báo cáo quân đội VNCH tăng viện, Tướng Lê Đức Anh ra lệnh cho đơn vị chiến xa tiến lên. Liên đoàn 81 xử dụng M-72 chống xe tăng, nhưng lần này địch quân đã học được bài học năm 1972, hàn thêm lớp sắt chống M-72 (hỏa tiễn 66 ly) bảo vệ thân chiến xa cùng pháo tháp có khẩu đại bác 100 ly, và có thêm đơn vị đặc công tháp tùng, yểm trợ. Chiên xa T-54 khi bị trúng M-72, chỉ khựng lại rồi tiếp tục tiến lên. Chỉ có đại bác không dật hoặc bắn tử bên hông hoặc phiá sau mới làm chiếc T-54 bị hư hại không chạy được nữa.

Quân trú phòng đẩy lui trận tấn công đầu tiên, tuy nhìên với quân số khoảng 1000 phải đương đầu với quân số 10,000 người của địch cùng với chiến xa, pháo binh yểm trợ, niềm hy vọng của VNCH rất mong manh. Ngày 5 tháng Giêng, quân cộng sản pháo kích liên tục cả ngày làm tinh thần chiến đấu quân trú phòng xuống thấp. Sáng ngày hôm sau, địch pháo kích thêm mấy tiếng đồng hồ rồi quân trú phòng có thể nghe tiếng động cơ chiến xa của địch tiến lại gần… Liên đoàn 81 BCD được lệnh phá vòng vây thoát ra ngoài. Đích thân Trung Tá Vũ Xuân Thông chỉ huy chiến đấu băng qua sông Bé, biến mất vào trong rừng. Khi chiến xa Bắc Việt tiến đến bộ chỉ huy tiểu khu Phước Long, viên tỉnh trưởng cùng binh sĩ sống sót cố vượt qua song Bé. Vị tỉnh trưởng biến mất (bị mất tích), không nghe nói đến nữa. Phước Long thất thủ rơi vào tay cộng sản. Tổng Tống Thiệu tuyên bố để tang cho Phước Long ba ngày. Trung Tướng Dư Quốc Đống từ chức. Đại Tá Le Gro, một quân sử gia biết rất nhiều về QLVNCH sau này viết lại. Người tài xế người Việt của ông ta nhìn trời mưa tầm tã, nói một cách buồn bã “Ngay cả Thượng Đế cũng khóc cho Phước Long”

Theo tác phẩm “Black April”, tác giả Jay Veith

Dallas, Texas 23 tháng Giêng, 2020

vđh

American Hero: Medal of Honor

When Gary Rose was 19, he joined the Army, but it was the Army who chose Gary Rose for Special Forces training. He spent the better part of two years training to be a medic, and he needed every minute of that instruction.

Two years after walking into a recruiter’s office, he found himself in the middle of a days-long battle during a secret war in Laos where many of his fellow soldiers and allies were wounded. It was his job to save them. Rose aided an estimated 60 or more men during those hard-fought four days. He eventually was recognized with the Medal of Honor for his dedication to saving lives.

“A medic is part of the morale support system,” he told the Knights of Columbus in a 2019 interview. “The bond you have with these men, it’s almost unbreakable. You have a sense that you’re part of something greater than yourself.’’

After completing basic training and jump school, he began Special Forces training at Fort Bragg, North Carolina. That’s where he learned the ins and outs of combat medicine while supporting some of America’s best soldiers.

Rose was sent to the Military Assistance Command Vietnam - Studies and Observations Group (MACV-SOG) in 1970. With the 5th Special Forces Group, his team’s job was to reconnoiter the Ho Chi Minh Trail and attack the flow of troops and supplies coming into South Vietnam. It was dangerous work.

“We had the highest number of missing in action of any unit,” he said. “We lost a tremendous amount of people.”

On Sept. 11, 1970, Rose’s unit joined native fighters called Montagnards for Operation Tailwind, 70 kilometers behind enemy lines in Laos. Their goal was to force the North Vietnamese Army to respond to them instead of moving south to attack American airfields. The shooting started before they hit the ground.

“From the get-go, after we crossed a certain line, we started taking ground fire,” Rose later told the Army.

The mission ended up being a 96-hour moving gunfight while outnumbered 10 to 1. Rose’s unit was wracked by heavy small arms fire and rocket-propelled grenades. He was injured early on, but no one was spared.

“I was hit on two different days,” he said. “A hole in your foot and a hole in your arm was not considered a serious injury.”

Rose and his elite squad were attacked constantly over the span of four days and had to operate on little sleep, with more and more wounded, day in and day out. But the plan was working so they pressed on. The wounds were piling up, and Rose was running out of ways to treat them.

Throughout the fighting, it was up to Rose to go out into the open field, under enemy fire and tend to them. He brought them back to friendly areas, firing at an often-unseen enemy as he moved his buddies to safety.

“It never occurred to me to worry about the enemy,” Rose said. “It’s not my function; my function is the wounded. No matter what happens, you’re going to do whatever you can to bring them home.”

On the fourth day, the Green Berets were running low on ammunition and running out of food. They needed to get out as soon as possible, but the heavy fire on the ground was keeping their extraction away from the area.

“They tried for three days to get us out,” Rose said. “We were up against a large number of people, and we were down to not much ammunition left.”

When they cleared a landing zone on day four, the first helicopter left with the worst wounded. A second helicopter took more. Rose estimated 35 were left on the ground.

Eventually, the helicopters got most of the Americans out. The third helicopter that came in had a much harder time getting there than the others, taking what Rose described as “a pounding.”

By the time the third gunship came in, it had lost an engine, there were fuel lines broken and the hydraulic systems were failing. But the enemy rounds kept coming.

“I heard somebody say, ‘Oh, we’re gonna crash,’ and the next thing I knew was, I’m on the ground,” he said.

He and a Marine were thrown out of the helicopter on a controlled roll. They hit the ground before the helicopter did. The two watched as the helicopter they had been on just moments before crashed.

“The helicopter was smoking and on fire by then, so I got back inside the helicopter and started moving people out,” Rose recalled.

Equipment and other supplies had spilled on top of the wounded in the helicopter, so Rose started tossing those items out, too. He removed the crew and the wounded passengers and did what he could for them until another helicopter arrived.

The next thing he can remember is being back on the launchpad in Dak To, South Vietnam. All 16 Americans that left for the mission were wounded, but all survived the operation. Only three Montagnards were killed. Rose refused to be treated for his wounds until the rest of the men were first.

“Statistically speaking, the people who have analyzed this said that none of us should have made it out of there,” he said.

Operation Tailwind tied up an estimated 40,000-50,000 Communist troops. They also overran a North Vietnamese Logistical Headquarters hub and gathered trunks filled with intelligence about its operations. The operation itself was classified until 1998.

“There are 58,000 names on the [Vietnam Veterans Memorial] wall, and I don’t know if without our unit doing what we did, would that wall have 100,000 names on it?” said Rose, 73.

In the immediate aftermath of the operation, Rose was recommended for the Medal of Honor but received the Distinguished Service Cross instead. In 2017, the award was upgraded to the Medal of Honor, and Capt. Gary Rose accepted it in person from President Trump.

“In that operation, it wasn’t just the Army. It’s a collective medal from my perspective,” he said. “All the courage, honor and dedication to duty those men served went for 30 years without even being acknowledged, let alone recognized. … This medal points to the fact that you can say, ‘Faithful servant, well done.’”

-- Blake Stilwell Military. com

Friday, August 6, 2021

CHIẾN TRANH TIẾP TỤC: MÙA MƯA 1974 (Trích trong tác phẩm “BLACK APRIL” tác giả Jay Veith)

Từ nhiều năm, “con lắc” của cuộc chiến đong đưa theo mùa nắng (khô), mưa. Những trận đánh lớn trên quân đoàn III thường xẩy ra trong mùa nắng, khoảng từ tháng Mười đến tháng Năm, và cuờng độ giảm đi trong mùa mưa. Nhưng năm 1974 khác với những năm trước, khi mùa mưa đến, Trung Tướng Trần Văn Trà (VC), tư lệnh Mặt Trận B-2 ra lệnh, tiếp tục tấn công trong quân đoàn III và IV VNCH, vùng phiá nam, miền nam Việt Nam. Mục đích của Tướng Trà làm suy yếu khả năng chiến đấu của quân đội VNCH, đồng thời cải thiện chiến lược của ông ta, chuẩn bị cho một cú đấm mạnh hơn trong năm 1975.

Tướng Trà có bề ngoài không phô trương, gầy gò, trong bộ quân phục bình thường không ủi hồ, và không có cấp bậc hay đơn vị. Không được cung cấp đồ trang bị, chiến cụ (dồi dào) như các cấp chỉ huy quân đội cộng sản khác chịu trách nhiệm những khu vực nơi phiá bắc của miền nam Việt Nam, Tướng Trà tự cho mình là người đánh cờ, xử dụng đường đi, nước bước để đạt chiến thắng. Tên thật của ông ta là Nguyễn Chấn, sinh năm 1919 trong tỉnh Quảng Ngãi, tham gia cách mạng năm 1936, được kết nạp đảng viên năm 1938. Ông ta chiến đấu chống quân đội Pháp trong khu vực gần Saigon, rồi tập kết ra Hà Nội sau hiệp định Geneve. Tướng Trần Văn Trà trở lại miền nam (hồi kết) cuối năm 1962.

Trong tháng Mười Hai năm 1973, Trung Ương Cục Miền Nam đưa ra bản hướng dẫn chiến thuật cho năm 1974. Dựa vào nghị quyết 21 của Bộ Chính trị, Tướng Trà quyết định mở các trận “tấn công chiến thuật” bắt đầu từ tháng Ba. Mỗi trận tấn công vào một một mục tiêu đặc chọn lọc để đạt mục đích giới hạn đặc biệt. Ông ta muốn hoàn thành bốn mục tiêu trong quân đoàn III VNCH. Mục tiêu đầu tiên, ngăn cản quân đội VNCH gia tăng sự phòng thủ thành phố Saigon. Điều này có thể đạt được bằng cách đánh chiếm đất đai tại những điạ điẻm quan trọng. Bắc Việt gọi chiến thuật này là “chiến đấu trong phạm vi hiệp định Paris”. Mục tiêu thứ hai, nới rộng các vùng “giải phóng” bằng cách đánh dứt điểm các đồn bót VNCH trong khu vực cộng sản kiểm soát. Mục tiêu thứ ba, đẩy quân đội VNCH vào thế phòng thủ, không thể phản công lấy lại quân Lộc Ninh (thủ đô của MTGPMN), mà quân cộng sản lấy được năm 1972. Mục tiêu cuối cùng, Tướng Trà muốn xây dựng lại phong trào chính trị trong thành phố, tạo sự hỗn loạn, hoang mang trong hàng ngũ, quân, dân, cán, chính VNCH.

Để phòng thủ, quân đội VNCH có một đạo quân hùng mạnh trong vùng III chiến chuật, với ba sư đoàn bộ binh: 5, 18, và 25, lữ đoàn 3 Kỵ Binh, hai sư đoàn Không Quân, và liên đoàn 81 Biệt Cách Dù. Tuy nhiên cả ba sư đoàn bộ binh đều đã từ lâu mang tiếng “bết” trong quân đội VNCH, mặc dầu sư đoàn 5 BB nổi tiếng trong trận tử thủ An Lộc năm 1972. Sư đoàn 5 bảo vệ hướng bắc, sư đoàn 25 hướng tây, và sư đoàn 18 hướng đông thành phố Saigon.

Trận tấn công chiến thuật của Tướng Trà bắt đầu từ cuối tháng Ba năm 1974, sư đoàn 5 (công trường 5) cộng sản tấn công quân Đức Huệ trong tỉnh Hậu Nghiã, hướng tây Saigon. Ông ta muốn đẩy các đơn vị VNCH lùi xa khỏi biên giới với Cambodia, và bờ bên kia sông Vàm Cỏ Đông. Sau đó quân đội cộng sản sẽ thiết lập các căn cứ (kho) tiếp liệu trong khu vực vừa lấy được.

Ngày 27 tháng Ba, một đơn vị đặc công xâm nhập căn cứ Đức Huệ, tiểu đoàn 83 Biệt Động Quân (trại biên phòng) đẩy lui trận tấn công của đặc công. Tiếp theo quân cộng sản xử dụng một đơn vị lớn tấn công, cũng thất bại, không vào được căn cứ. Quân cộng sản đổi sang chiến thuật bao vây, pháo kích, đóng chốt cắt đường không cho tiếp viện tiểu đoàn 83 BĐQ. Một đơn vị đặc nhiệm sư đoàn 25 BB được không quân yểm trợ cũng không phá được vòng vây của địch. Cả hai bên kẹt cứng, đào hầm hố, củng cố vị trí chiến đấu. Đến cuối tháng Tư, quân đội VNCH quyết định phá vỡ vòng vây xung quanh căn cứ Đức Huệ. Bộ tư lệnh quân đoàn III phối hợp một trận tấn công lớn, gồm vài tiểu đoàn sư đoàn 25 BB, liên đoàn 7 Biệt Động Quân và Điạ Phương Quân. Tất cả đặt dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, tư lệnh lữ đoàn 3 Kỵ Binh. Lữ đoàn 3 Kỵ Binh là một đơn vị đặc biệt, duy nhất trong quân đội VNCH, Tướng Khôi được các cố vấn Hoa Kỳ cho là vị tướng Thiết Giáp giỏi nhất của miền nam Việt Nam. Lữ đoàn Thiết Giáp của ông ta chia làm ba đơn vị trực thuộc: Chiến đoàn (Task Force-Đặc Nhiệm) 315, 318 và 322. Mỗi chiến đoàn có một thiết đoàn kỵ binh, một tiểu đoàn BĐQ thuộc liên đoàn 33/BĐQ, và một pháo đội đại bác 105ly.

Kế hoạch hành quân đòi hỏi một đơn vị Điạ Phương Quân, hay Bộ Binh tấn công, ngăn cản không cho địch quân đang vây quanh căn cứ Đức Huệ rút chạy. Khi giai đoạn kể trên hoàn tất, đoàn chiến xa của Tướng Khôi sẽ di chuyển lên phiá bắc Đức Huệ, băng qua biên giới Việt Miên vào khu vực Mỏ Vẹt (Lưỡi Câu, Mỏ Vẹt trước là căn cứ, an toàn khu của địch). Từ đó tấn công vào phiá sau phòng tuyến địch. Ngày 27 tháng Tư, không quân Việt Nam oanh kích các vị trí của địch xung quanh Đức Huệ. Tiếp theo, các đơn vị VNCH nhanh chóng tìến vào vị trí ngăn chận không cho địch rút chạy về hướng bắc, hướng nam quân Đức Huệ. Suốt đêm, binh sĩ Thiết Giáp, Biệt Động Quân được tầu đưa qua sông Vàm Cỏ Đông, tấn công về hướng tây qua đất Miên, sau đó xuống phiá nam, thanh toán dễ dàng, nhanh chóng đơn vị hậu cần, tiếp liệu của địch. Mất đồ tiếp liệu, địch quân tan hàng, bỏ chạy. Biệt Động Quân, Thiết Giáp lấy được nhiều quân dụng, đồ tiếp liệu của địch.

Trận đánh đẹp mắt, phối hợp liên quân binh chủng, nhưng đó cũng là trận tấn công cuối cùng của quân đội VNCH trong cuộc chiến. Kế hoạch của Tướng Trà thất bại, sư đoàn 5 (Việt Cộng) bị tổn thất nặng. Sau mùa khô 1973-1974, các cấp chỉ huy Mặt Trận B-2 họp để rút ưu khuyết điểm. Măc dầu bị tổn thất nặng, Tướng Trà và cấp trên của ông ta, Phạm Hùng, một thành viên trong Bộ Chính Trị, Bí Thư đảng ủy trong Trung Ương Cục Miền Nam, vẫn cho là họ thành công trong mùa khô vừa qua. Dưới vùng IV chiến thuật, quân đội VNCH đã bị ngăn cản không cho “ăn trộm” gạo trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, và mất nhiều đồn bót (nói theo kiểu cộng sản). Trong vùng III chiến thuật, họ (địch quân) tin rằng, đã đánh bại kế hoạch của Tổng Thống Thiệu, phản công lấy lại những vùng đất bị mất năm 1972. Quân đội VNCH chưa hề đe dọa tấn công lấy lại Lộc Ninh, và không tăng cường thêm lực lượng phòng thủ Saigon. Về chiến lược, Tướng Trà tin rằng, kế hoạch “điên khùng” (không thực tế) của Tổng Thống Thiệu, “phòng thủ khắp nơi” đã đẩy quân đội VNCH vào thế phòng thủ thụ động, không thể chống trả những cuộc tấn công cùng lúc (nhiều mũi tấn công vì trải quân ra để giữ đất). Theo ông ta, khả năng chiến đấu của quân đội VNCH sút giảm, tình trạng đào ngũ gia tăng, số lượng tân binh giảm đi. Vì sự viện trợ bị cắt giảm, nhiều phi cơ, xe cộ phải nằm kho, thiếu cơ phận thay thế sửa chữa. Trong khi đó, miền Bắc tiếp tục đưa thêm quân vào miền Nam Việt Nam.

Cũng vì thế, Phạm Hùng kết luận, đã đến lúc thay đổi cường độ tấn công. Lần đầu tiên, ông ta cho lệnh tấn công trong lúc thời tiết xấu (mưa) “Một mùa mưa không như những mùa mưa trước” Nói chuyện với tư lệnh Mặt Trận B-2 (Tướng Trà), Phạm Hùng nhấn mạnh “Trong mùa khô năm nay, một sự kiện mới hiện ra. Chúng ta đang chiến thắng và thẳng tiến, trong khi địch (VNCH) đang suy yếu, trên đường đi xuống. Trong mùa mưa năm nay, chúng ta có nhiều lợi thế… [và] không lo vấn đề thời tiết, những khó khăn, chúng ta phải xúc tiến những hoạt động của chúng ta… [do đó] trong mùa khô năm 1975, chúng ta có khả năng tạo nên một khúc quanh mới (lịch sử), một thành qủa quan trọng… Một chiến thắng vẻ vang trong năm 1975-76… nằm trong khuôn khổ nghị quyết 21. Nền tảng căn bản cho những quyết định của chúng ta là tình thế vừa xẩy ra trong thời gian qua, đặc biệt trong vòng bốn tháng qua.” Phạm Hùng đã nhận thấy sự suy yếu của VNCH bắt đầu. Đó cũng là thời điểm Tướng Murray đã cảnh báo, việc cắt giảm viện trợ bắt đầu gây hiệu qủa.

Kế hoạch cho mùa mưa năm 1974 thay đổi chút đỉnh: các trận tấn công chiến thuật, vào các mục tiêu, vị trí lựa chọn. Tăng cường, yểm trợ các phong trào, hoạt động trong thành phố, các đơn vị điạ phương. Vấn đề quan trọng nhất đối với Tướng Trà, gia tăng sức mạnh cho các đơn vị chính quy trực thuộc, sẵn sàng cho mùa khô năm 1974-75. Để thực hiện điều trên, ông ta yêu cầu bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Bắc Việt, tăng viện. Đã từ lâu, Tướng Trà tin tưởng Mặt Trận B-2 là chiến trường quan trọng nhất trong suốt cuộc chiến (Tướng Trà viết hồi ký “Thành Đồng B-2” bị tịch thâu và ngôi sao của ông ta xuống luôn), và luôn luôn yêu cầu được tăng quân, vũ khí, chiến cụ. Đã có lúc ông ta nổi tiếng trong bộ TTM Quân Đội Bắc Việt, lúc nào cũng than. Và như thường lệ, bộ TTM Quân Đội Bắc Việt từ chối gửi các sư đoàn tổng trừ bị vào cho ông ta.

Để bù vào thiếu sót, Tướng Trà “quyết định thành lập một sư đoàn nhẹ cho mỗi vùng chiến thuật, bằng cách kết hợp các trung đoàn độc lập (biệt lập), các bộ phận yểm trợ, và bổ sung nhân viên thành lập bộ tư lệnh sư đoàn … Quân Khu 7 (MR-7, bao gồm gần hết lãnh thổ vùng 3 chiến thuật VNCH) chỉ có hai trung đoàn độc lập… kết hợp, thành lập sư đoàn 6(-)” Tương tự, nhưng đầy đủ hai sư đoàn 8 và 4 cho Quân Khu 8 và 9. Đồng thời Tướng Trà quyết định kết hợp sư đoàn 7 và 9 (hai sư đoàn thiện chiến VC) thành lập Quân Đoàn 4, mới đầu đặt tên là Đoàn 301 do Thiếu Tướng Hoàng Cầm chỉ huy.

Tướng Trà bắt đầu các trận tấn công mùa mưa hôm 16 tháng Năm do sư đoàn 9 (VC) đảm trách. Sau đợt pháo kích phủ đầu, sư đoàn 9 (VC) tấn công các ngôi làng trong khu vực “Tam Giác Sắt”. Các trận đánh xẩy ra trên tỉnh lộ 7, con đường chính nơi hướng bắc khu tam giác, sông Saigon và sông Thị Tính làm thành hai cạnh còn lại. Tỉnh lộ 7 chạy dài từ làng Rạch Bắp nơi hướng tây đến Bến Cát. Ở Bén Cát có chiếc cầu quan trọng trên tỉnh lộ 7 bắc qua sông Thị Tính.

Sư đoàn 9 (VC) xử dụng hai trung đoàn, được chiến xa, pháo binh yểm trợ bắt đầu tấn công vào buổi sáng ngày 16 tháng Năm. Một trung đoàn nhanh chóng đánh chiếm đồn Rạch Bắp, rồi tiếp tục tiến về hướng đông trên tỉnh lộ 7, tấn công làng kế tiếp, An Điền. Đơn vị Điạ Phương Quân phòng thủ An Điền chống trả quyết liệt 36 tiếng đồng hồ mới rút lui về Bén Cát. Quân cộng sản truy kích, nhưng Đia Phương Quân giữ vững Bến Cát và chiếc cầu quan trọng, không cho địch băng qua. Nhận thức được tầm mức quan trọng của chiếc cầu (sẽ phải xử dụng đẻ phản công lấy lại đồn Rạch Bắp), bộ tư lệnh Quân Đoàn III đưa Biệt Động Quân và Công Binh vào giữ chiếc cầu quan trọng. Sư đoàn 9 (VC) ngừng tấn công, đào hầm hố phòng thủ An Điền, đồng thời đưa thêm vào các ổ súng phòng không, đại bác, thiết lập các bãi mìn phòng thủ đợi quân đội VNCH đến tái chiếm.

Tư lệnh quân đoàn III ra lệnh cho Tướng Lê Minh Đảo đưa sư đoàn 18 Bộ Binh vào “quét sạch” địch quân ra khỏi khu vực “Tam Giác Sắt”. Tướng Đảo nắm quyền chỉ huy sư đoàn 18 từ tháng Ba năm 1972, thăng cấp Chuẩn Tướng tháng Mười Một 1972, tư lệnh sư đoàn 18 cho đến khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc. Tướng Đảo là vị tướng nhiều năng động, không ở trong bộ tư lệnh, ra lệnh qua máy truyền tin. Ông ta đi đến “thăm hỏi” các đơn vị trực thuộc thường xuyên, đến cấp tiểu đoàn. Theo Đại Tá Le Gro, sư đoàn 18 BB “đơn vị VNCH hiệu qủa nhất” trong quân đoàn III.

Tướng Đảo xử dụng hai trung đoàn tấn công lấy lại An Điền hôm 1 tháng Sáu. Cả hai trung đoàn đụng phải sức kháng cự mạnh mẽ của địch với hầm hố, giao thông hào chiến đầu vững chắc. Sư đoàn 9 (VC) xử dụng 10 chiến xa cùng với bộ binh phản công, binh sĩ VNCH bắn hạ bốn chiếc. Đêm xuống, Công Binh sư đoàn 18 xử dụng đèn pin gỡ đợc 40 qủa mìn trên tỉnh lộ 7.

Trận đánh kéo dài thêm hai ngày nữa, cuối cùng Tướng Đảo phải xử dụng trung đoàn còn lại, và sư đoàn 9 (VC) từ từ rút lui. Đến ngày 5 tháng Sáu, sư đoàn 18 kiểm soát được An Điền, tổn thất của đôi bên lên cao. Tù binh cộng sản bắt được ở An Điền khai cả đại đội của anh ta bi thiệt hại, loại khỏi vòng chiến.

Sau khi lấy lại An Điền, Tường Đảo tập trung vào mục tiêu kế tiếp trên tỉnh lộ 7, một đồn Điạ Phương Quân tên gọi là Căn Cứ 82. Tướng Đảo xử dụng lữ đoàn 3 Kỵ Binh, dự trù sẽ tấn công bằng nhiều hướng. Địch quân tử thủ, lợi dụng điạ thế có nhiều bụi cây, điạ hình không bằng phẳng xung quanh căn cứ. Sư đoàn 9 (VC) gom quân lại sau trận An Điền, được bổ xung quân số vừa xâm nhập từ miền bắc vào, xử dụng trung đoàn còn lại vào tử thủ căn cứ 82. Địch quân thiết lập thêm bãi mìn phòng thủ, đem thêm đạn dược vào lưu trữ, chấm các hỏa tập tiên liệu cho Pháo Binh. Sau khi chuẩn bị chiến trường xong, sư đoàn 9 (VC) nằm trong hầm trú ẩn đợi quân đội VNCH đến (lấy lại đồn Điạ Phương Quân, Căn Cứ 82)

Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, tư lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh, chỉ huy trận tấn công từ ngày 7 tháng Sáu, bị khựng lại vì hỏa lực, bãi mìn phòng thủ của địch và điạ thế khó di chuyển. Tướng Đảo bắt buộc phải xử dụng quân của ông ta (sư đoàn 18 BB), đã bị tổn thất, hao mòn sau trận đánh An Điên.

Trong khi đó, hoả lực phòng không mạnh mẽ của địch, thời tiết xấu làm sự yểm trợ của không quân không được hiệu qủa. Quân đoàm III thay vào đó bằng hỏa lực của Pháo Binh, lúc đó rất hạn chế vì sự cắt giảm viện trợ. Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng được báo cáo số đạn pháo binh tồn kho giảm đi, ra lệnh ngưng việc xử dụng pháo binh. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, tư lệnh quân đoàn III đích thân yêu cầu Đại Tướng Viên lẫn Trung Trướng Đồng Văn Khuyên, Tổng Tham Mưu Phó Tiếp Vận, xin thêm 150,000 vien đạn pháo binh và được chấp thuận 45,000 (gần 1/3 - một phần ba). Theo Tướng Hoa Kỳ Murray “Đổi máu lấy đạn”. Trong khi đó hỏa lực của địch rất mạnh, quân VNCH được chứng kiến quân đội cộng sản xử dụng Molotova chở đạn, binh lính bổ sung vào thẳng phòng tuyến (điều này chưa từng nghe nói đến trước năm 1973), tinh thần binh sĩ sư đoàn 18 xuống thấp. Trận tấn công của sư đoàn 18, lữ đoàn 3 Kỵ Binh khựng lại, binh sĩ sau một tháng trời chiến đấu trong điều kiện thời tiết xấu, thiếu không trợ và hỏa lực pháo binh yểm trợ không đủ theo yêu cầu nên bị tổn thất nặng. Vị tư lệnh quân đoàn III ra lệnh cho sư đoàn 18 rút ra khỏi trận điạ, thay thế bằng sư đoàn 5 Bộ Binh.

Tình thế tạm yên cho đến cuối mùa hè. Đến đầu tháng Chín, sư đoàn 5 Bộ Binh bắt đầu tấn công, chiếm lại căn cứ 82. Đến tháng Mười Một, cả khu vực tam giác sắt thuộc về quân đội VNCH. Sư đoàn 9 (VC) bị tổn thất nặng nề, cần bổ sung, tái trang bị và huấn luyện lại. Đơn vị này không thể hoạt động cho đến tháng Ba năm 1975.

Sau khi Tổng Tống Richard Nixon từ chức vì vụ Watergate, Trường Chinh phân tích tình hình như sau “Sự từ chức của Nixon… là một biến cố chính trị quan trọng, cho thấy yếu điểm, sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc…” Tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Saigon gửi một công điện “hỏa tốc” cho Kissinger, cay đắng chống lại việc quốc hội Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ cho tài khóa 1975, tiên đoán việc cắt giảm sẽ không đem lại hòa binh, chỉ “khuyến khích” cộng sản.

Ngày 9 tháng Tám năm 1974, Gerald R. Ford tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống Hoa Kỳ thay thế Richrad Nixon. Trước đó, ông Ford đã thay thế Phó Tổng Thống Spiro Agnew hôm 6 tháng Mười Hai năm 1973 vì tội trốn thuế. Mặc dầu Tổng Thống Ford đã là Dân Biểu quốc hội từ năm 1949, nhưng ít người biết ông ta. Ông ta nhậm chức Tông Thống trong lúc chính quyền bị tai tiếng vụ Watergate. Trong tháng Chín, Tổng Thống Ford ân xá cho công dân Nixon, hy vọng sẽ đưa quốc gia đến một vị thế ổn định.

Hôm 10 tháng Tám, Tổng Thống Ford gửi cho ông Thiệu một bức thư “Những điều đất nước chúng tôi đã cam kết trước đây vẫn còn hiệu lực, và tôn trọng trong chính quyền của tôi” Ông ta khen ngợi Tổng Thống Thiệu trong việc xử dụng viện trợ đúng chỗ (nhu cầu), ông ta viết thêm “Vấn đề thủ tục luật pháp vẫn chưa hoàn tất… Tôi vẫn bào đảm với ông… rằng, cuối cùng việc yểm trợ của chúng tôi vẫn đầy đủ.” Ngày 12 tháng Tám, trong bài diễn văn, nói chuyện với lưỡng viện, Tông Thống Ford yêu cầu yểm trợ cho những người bạn đồng minh ở Đông Dương trong khi theo dõi việc đình chiến trong miền nam Việt Nam.

Bị cắt giảm viện trợ, Tổng Thống Thiệu nẩy sinh ra ý tưởng bỏ bớt đất đai, chỉ giữ lại vùng III và IV chiến thuật. Bảng phân tích cûa Thiếu Tướng Murray (quân viện) cùng với sự thăm viếng của Tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Tham Mưu Phó Tiếp Vận) làm ông Thiệu không được an tâm. Đến đầu mùa hè Tổng Thống Thiệu ra lệnh cho các chuyên viên kinh tế nghiên cứu ảnh hưởng của việc cắt giảm chi tiêu (chi phí quốc gia, quốc phòng,…). Và ông ta được cố vấn, tuy nhiên vấn đề rất to lớn, nặng nề: việc tái định cư vài triệu người dân tỵ nạn chiến tranh, mất thế lực chính trị, đưa đến việc di tản Huế và Đà Nẵng… Tổng Thống Thiệu phải tạm gác lại ý tưởng (bỏ bớt phần lãnh thổ thuộc hai quân đoàn I và II).

Ngày 5 tháng Chín, , Thiếu Tướng Lục Quân Homer D. Smith đến Saigon. Là một sĩ quan Tiếp Vận, Tướng Smith được cấp chỉ huy quân đội Hoa Kỳ đánh giá là một sĩ quan giỏi về vấn đề tiếp vận, tiếp liệu. Ông ta phải cắt ngắn tuần trăng mật để đến nam Việt Nam sớm. Trước khi Tướng Murray rời Việt Nam, ban tham mưu Phòng Tùy Viên Quân Sự (DAO) đã làm việc chặt chẽ với bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, phân chia số ngân khoản viện trợ quốc phòng 1 tỷ đồng (Dollars) mà họ tin rằng quân đội VNCH sắp nhận được. Theo các thủ tục hành chánh bình thường, cơ quan DAO chia số tiền viện trợ làm bốn cho mỗi tam ca nguyệt. Số tiền 250 triệu dollars qúy 1 (Q1-quarter 1) dùng để trả các nhà thầu, mua vật liệu xử dụng lâu dài như: nhiên liệu, đạn dược, còn dư chút đỉnh để mua những đồ tiếp liệu y khoa. Nhưng khi số tiền viện trợ được thông báo cắt xuống còn 700 triệu, qúy 2 giảm xuống chỉ còn 119 triệu. Đạn dược vẫn là ưu tiên hàng đầu, số tiền 119 triệu chẳng còn bao nhiêu để mua những cơ phận thay thế (phi cơ, tầu bè,…), hay những quân dụng cần thiết khác.

Chuyện cắt giảm viện trợ, ảnh hưởng rất nặng lên quân đội VNCH. Đến giữa tháng Mười năm 1974, Đại Tướng Cao Văn Viên ra lệnh giới hạn các cuộc hành quân cấp lớn của quân đội VNCH, chỉ có hai cuộc hành quân trong mỗi thời điểm và không không kéo dài hơn mười ngày trong nột tháng. Như vậy mỗi quân đoàn VNCH chỉ có thể mở một cuộc hành quân kéo dài mười ngày mỗi tháng. Theo Tướng Viên, những yếu tố giới hạn là “không trợ và đạn pháo binh” Hải quân bị giới hạn phải chấm dứt khả năng di động một số đơn vị hoạt động trong sông ngòi. Không quân VNCH cố gắng giữ tình trạng “sẵn sàng tác chiến” rất tốt cho đến giữa tháng Mời 1974, sau đó phải cho hàng trăm phi cơ cũ vào nhà kho. Cơ quan DAO hy vọng trả lại được một số phi cơ cũ, để đổi lấy tiền mua quân dụng khác như đồ phụ tùng hay nhiên liệu cho phi cơ. Tóm lại, sau này Tướng Smith viết “Những giới hạn được đặt lên… hỏa lực và di động… Tất cả gây ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu (QLVNCH) và ‘khuyến khích’ địch quân”

Ngày 12 tháng Chín, Tổng Thống Ford họp riêng với các vị lãnh tụ trong quốc hội và Kissinger, Ông Ford cho biết Hoa Kỳ đang gâp phải “một vài vấn đề khó khăn” trên thế giới. Ông ta muốn quốc hội ngừng việc ban hành các giới hạn, đặc biệt cho vùng Đông Dương. Tổng Thống Ford nói “Chúng ta phải qủa quyết rằng, Việt Nam (miền nam) se không bị tiêu diệt vì thiếu ngân khoản viện trợ”. Kissinger vạch ra một số việc quan trọng trên thế giới, rồi nói về Việt Nam “Nếu chúng ta buông ra, nó sẽ ảnh hưởng đến tất cả chính sách đối ngoại của chúng ta và những quốc gia đặt niềm tin nơi chúng ta”

Ngày hôm sau, 13 thnág Chín, Tổng Thống Ford, Kissinger họp với Đại Sứ Martin về buổi họp với các dân biểu, thượng nghị sĩ ngày hôm trước. Kissinger nói “Không thể hiểu được, chúng ta có thể dùng số tiền 1 tỷ dollar ở Do Thái mà không được ở Việt Nam, nơi đã có nhiều người (lính) Hoa Kỳ hy sinh… Việt Nam rất quan trọng trong quan niệm của thế giới về Hoa Kỳ.” Đại sứ Martin đang sửa soạn quay trở lại Việt Nam, nói với tổng thống rằng, với số tiền 700 triệu viên trợ quân sự, đủ để Saigon (chính quyền miền Nam) cầm cự qua mùa đông. Họ (Việt Nam) sẽ cần số tiền 300 triệu trước cuối năm, ngày 30 tháng Sáu năm 1975.

Ngồi trong một căn biệt thự nơi bãi biển Đồ Sơn hôm 21 tháng Bẩy, ánh sáng buổi chiều tà tràn ngập căn phòng. Tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn thuyết trình cho Lê Duẫn, Tổng Bí Thư chính quyền miền Bắc Việt Nam. Tướng Tấn vạch ra những bước tiến của Quân Đội Nhân Dân kể từ đầu năm, Tướng Thái báo cáo, Quân Đội (miền Bắc) đã lấy lại được sức mạnh nơi chiến trường miền nam. Ông ta nói “Gặt hái nhiều chiến thắng và đang phát triển hướng tiến công, trong khi địch quân (VNCH)… đang trên đường đi xuống”

Lê Duẫn cũng đồng ý, miền nam đang suy yếu, và Hoa Kỳ cũng đang trong giai đoạn khó khăn vè chính trị, kinh tế. Ông ta tin rằng, Hoa Kỳ đang bí mật hợp tác với Trung Cộng, để cho Tầu gây ảnh hưởng trong khu vực Đông Nam Á, đổi lại, Trung Cộng sẽ ép Hà Nội ngừng các trận tấn công. Ông ta lấy chuyện Trung Cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của VNCH làm thí dụ. Tuy nhiên, cả Hoa Kỳ lẫn nam Việt Nam đang yếu đi, Trung Cộng và cả Nhật Bản vẫn chưa sẵn sàng nhẩy vào, Hà Nội có một cửa sổ nhỏ cơ hội chiến thắng cuộc chiến tranh, và họ phải lấy cơ hội này, làm nhanh, nếu không mục đích của Bộ Chính Trị là thống nhất đất nước sẽ khó khăn mới đạt được.

Tài liệu nghiên cứu của Bộ Chính Trị về cuộc chiến Việt Nam (hoàn tất năm 1995), đồng ý với lý thuyết của Lê Duẫn “Nếu chúng ta chờ đợi rồi mới hành động, tình thế có thể sẽ trở nên phức tạp và nguy hiểm, không ai đoán trước được. Chúng ta nhanh chóng nắm lấy thời cơ và chuẩn bị chiến lược trên cả hai phương diện vị thế và lực lượng trên cả hai miền bắc và nam Việt Nam, từ đầu năm 1973, và chúng ta khôn khéo kết hợp sự chuẩn bị với trận tấn công ngoại giao, để lấy được cảm tình của thế giới….”

Tiếp theo, Lê Duẫn ra lệnh cho Tuớng Thái (Hoàng Văn Thái) phác họa một “kế hoạch chiến lược như một cơ hội chiến lược và sẵn sàng xử dụng cơ hội chiến lược đó ngay tức khắc” Theo ông ta, cơ hội chiến lược là những biến cố, khúc quanh của lịch sử mà Hà Nội có thể “chiến thắng sớm hơn, trước khi các quốc gia khác (Hoa Kỳ, Trung Cộng,…) chuẩn bị can thiệp… Trung Cộng lo ngại, nếu chúng ta chiến thắng và trở nên hùng mạnh hơn sẽ làm cản trở sự tiến vào khu vực Đông Nam Á của họ… Do đó, khi các quốc gia (ngoại nhân) chưa có thể thực hiện những ‘điều xấu xí’, vấn đề xây dựng, nắm lấy thời cơ để chiến thắng rất khẩn cấp đối với chúng ta. Khi miền nam đã được giải phóng, đất nước thống nhất, chúng ta có 50 triệu người, các quốc gia đó sẽ không còn khả năng chi phối khu vực Đông Dương”

Lê Duẫn ch thị cho Tướng Thái trực tiếp. Năm 1975, phải thanh toán (tiêu diệt) một phần lớn quân đội VNCH, để chuẩn bị cho trận tấn công (quyết định) năm 1976 mà sẽ đem lại chiến thắng. Trận tấn công đầu tiên sẽ làm ngạc nhiên miền Nam Việt Nam, đưa đến sự xụp đổ, để miền Bắc có thể chiến thắng trong vòng hai năm.

Theo lệnh của Lê Duẫn, ngày 26 tháng Tám, tổ Trung Ương (Quân Ủy Trung Ương) hoàn tất bản thảo thứ bẩy kế hoạch thôn tính miền Nam. Kế hoạch chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn 1 cho năm 1975, một trận tấn công bất ngờ làm suy yếu quân đội VNCH, giai đoạn 2 tiếp theo năm 1976, một chiến thắng toàn diện sẽ đạt được. Thành viên tổ Trung Ương nhận định rằng, họ không đủ tài nguyên để mở các trận tấn công lớn, quy mô như năm 1972, quân đội Bắc Việt đang thiếu đạn pháo binh và chiến xa.

Giai đoạn 1, tấn công giới hạn trong khu vực trách nhiệm của Mặt Trận B-2, kéo dài từ tháng Mười Hai 1974 đến tháng Hai năm 1975. Giai đoạn 2, trọng tâm của chiến dịch năm 1975 sẽ bắt đầu từ tháng Ba. Nhiều sư đoàn sẽ tấn công quận Đức Lập, tỉnh Quảng Đức, phiá nam vùng cao nguyên trung phần (quân đoàn II VNCH)

Tại sao (chọn) vùng cao nguyên? Đơn giản, nơi đó quân đội VNCH phòng thủ yếu nhất. Quân đoàn I nơi phiá bắc, quân đoàn III bao quanh Saigon là hai nơi phòng thủ kỹ nhất, chiến lược VNCH gọi là “Nặng (mạnh) ở hai đầu” Trong vùng rừng núi cao nguyên trung phần, quân đội VNCH tập trung nơi hướng bắc, phòng thủ hai thành phố chính Kontum và Pleiku. Hơn nữa, chiếm được khu vực phiá nam cao nguyên, quân đội Bắc Việt trên vùng cao nguyên, Mặt Trận B-3 “bắt tay” được với Mặt Trận B-2, bảo đảm con đường tiếp vận vào miền nam, và nối liền các khu vực “giải phóng” Giai đoạn 2 sẽ được yểm trợ bằng các hoạt động nghi binh (đánh lạc hướng QLVNCH) trong quân đoàn III, vùng bình nguyên miền trung (duyên hải quân đoàn II), và khu vực phiá bắc quân đoàn I. Giai đoạn 3, từ tháng Tám đến tháng Mười 1975 sẽ tiếp tục tấn công ngoài vùng I và II VNCH.

Đó là trận tấn công rộng lớn hơn các trận tấn công trong hai năm 1973-74, một trận tấn công toàn diện nhiều nơi trong miền Nam. Mục tiêu cho năm 1975 “Tiêu diệt phần lớn (quân số) quân đội VNCH, phá hủy chương trình Bình Định của chính quyền miền Nam, nối dài đường tiếp vận từ quốc lộ 14 xuống tận vùng đồng bằng sông Cửu Long, làm tê liệt kinh tế miền Nam, khuyến khích các thành phần chống đối chính trị. Những mục tiêu kể trên làm yếu đi sức chiến đấu của quân đội VNCH, tạo điều kiện cho “Cơ hội chiến lược”

Bộ Chính Trị miền Bắc họp hôm 30 tháng Chín để duyệt xét kế hoạch chiến lược cuối cùng. Các tấm bản đồ, biêu đồ được treo trên tường, hai Tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn thuyết trình cho các “nhân vật quan trọng” trong Bộ Chính Trị.. Tướng Thái trình bầy kế hoạch tổng quát. Ông ta báo cáo, các thành phần chống đối Tổng Thống Thiệu đang gia tăng, nền khi tế miền Nam đang gặp khó khăn, rõ ràng ảnh hưởng tinh thần chiến đấu của binh sĩ, việc cắt giảm viện trợ làm suy yếu quân đội VNCH.

Hôm 8 tháng Mười, Hà Nội phát thanh lời tuyên bố rằng Chính Quyền Cách Mạng Lâm Thời sẽ không thương thuyết với chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Kêu gọi các thành phần phối hợp lật đổ Nguễn Văn Thiệu và “thi hành hiệp định Paris”, thành lập chính phủ liên hiệp. Đó là một sự nhượng bộ chính trị: giải quyết vấn đề cho miền nam Việt Nam qua đường lối thương thuyết, nhưng với điều kiện, Nguyễn Văn Thiệu phải ra đi.

 

Dallas, Texas 21 tháng Giêng 2020

Tài lệu trong cuốn “Black April” tác giả Jay Veith

vđh

ĐẠI TÁ JOHN K. SINGLAUB CHT MACSOG 5/1966 – 8/1968

   ĐẠI TÁ JOHN K. SINGLAUB

CHT MACSOG 5/1966 – 8/1968

        Tôi được biết sau khi đến Việt Nam, vấn đề huấn luyện quân nhân Hoa Kỳ và biệt kích quân sắc dân thiểu số vẫn chưa được điều chỉnh cho nhiệm vụ mới. Tôi muốn nói, quân Mũ Xanh LLĐB Hoa Kỳ qua Việt Nam được huấn luyện chủ yếu để chống xâm nhập chứ không phải chiến tranh ngoại lệ, mặc dầu những nhiệm vụ đặc biệt chúng tôi muốn quân nhân LLĐB phải hoàn thành trong hành quân Shining Brass (sau đó là Prairie Fire) vẫn chưa trực tiếp liên quan đến chiến tranh ngoại lệ. Tuy nhiên, những hoạt động của chúng tôi liên hệ nhiều hơn với chiến tranh ngoại lệ thay vì chống xâm nhập đã được huấn luyện trong căn cứ Fort Bragg (LLĐB/HK). Do đó, tôi ra lệnh lập một chương trình huấn luyện cho những quân nhân tham dự hành quân Shining Brass, để họ có thể hoàn thành nhiệm vụ dò thám và sau đó hành quân tiếp ứng (xung kích).

        Tôi được biết vấn đề yểm trợ tiếp vận cho đơn vị MACSOG đã được thay đổi theo tình thế (quân đội Hoa Kỳ sang tham chiến). Trước đó, SOG được yểm trợ tiếp vận riêng, trước khi hệ thống tiếp vận khổng lồ, phức tạp được thiết lập ở Việt Nam. Tôi đã thực hiện vài thay đổi lớn trong thủ tục yểm trợ, có thể nhận được từ những cơ quan ở gần thay vì qua hệ thống trung tâm phân phối.

        Tôi bỏ bớt phần kế toán vật dụng, lý do thời gian gửi hàng đã nhanh chóng hơn nhiều do sự thay đổi “hoàn cảnh”. Những vấn đề thay đổi khác trong yểm trợ tiếp vận đã được nhân viên SOG đáp ứng. Tôi biết, việc thiết lập kế hoạch theo chu kỳ cho đơn vị MACSOG là điều cần thiết vì đơn vị chúng tôi trở nên phức tạp. Thủ tục của chúng tôi về tài chánh cần được yểm trợ (cho các hoạt động), nên tôi thiết lập một kế hoạch rõ ràng, chu kỳ cho chương trình hoạt động, ngân khoản cho năm sắp đến, được nhân viên trong bộ chỉ huy MACSOG soạn thảo. Sau đó, những chương trình đặc biệt được đưa ra, áp dụng, dưới sự điều hành, chỉ huy của đơn vị trực thuộc, một văn kiện được soạn thảo chi tiết để yêu cầu ngân sách chấp thuận trình lên cơ quan MACV, tư lệnh Thái Bình Dương và chính quyền Hoa Kỳ (Washington / bộ Quốc Phòng/bộ TTM). Chu kỳ làm việc (thủ tục xin ngân khoản) lúc đó chưa có vì được xem như không cần thiết.

        … (Bị xóa) Tôi xúc tiến (bị xóa) đánh giá chương trình Footboy để biết chương trình nào có cơ hội thành công cao nhất. Điều này được hoàn tất qua việc xem xét về sự phát triển hay gia tăng các hoạt động, và loại bỏ những chương trình không được thành công, hoặc bị đối phương làm cho mất mặt. Điểm này, tôi muốn nói đặc biệt về những toán Timberwork (các toán biệt kích ra miền bắc VN), chúng tôi nghĩ rằng từ lúc mới hoạt động đã bị địch quân gài người vào. Trong khi chúng tôi nghi ngờ hầu hết các toán biệt kích đã bị địch gài người, chúng tôi quyết định xử dụng họ trong những chương trình đánh lừa địch, thay vì hoàn toàn bỏ rơi họ. Chương trình Plowman được mở rộng. Trong lãnh vực này, chúng tôi đưa ra một quan niệm mới hoàn toàn, một cách có hệ thống hỏi cung tù binh chúng tôi bắt được để lấy tin tức tình báo cho hoạt động và tin tình báo có giá trị. Trước đó, loại tin tức này chúng tôi chỉ dùng trong nội bộ, nhưng với việc thay đổi, chúng tôi có thể sản xuất các bản báo cáo tình báo về miền Bắc Viêt Nam, đó cũng là những tin tức tình báo duy nhất thâu thập được do người miền bắc cung cấp.

        Khi đơn vị SOG mới được thành lập, không có phi cơ Hoa Kỳ nào bay ra miền bắc Việt Nam, do đó không có tờ truyền đơn nào được thả xuống, ngoại trừ những truyền đơn do đơn vị SOG thả. Mặc dầu những tờ truyền đơn được phân loại “đen hay xám”, tình thế thay đổi vào cuốn năm 1965, lúc đó một khối lượng rất lớn truyền đơn “trắng” được thả xuống khắp nơi trên miền bắc. Điều này làm tôi nghĩ, nên giảm bớt chương trình rải truyền đơn, xử dụng tài nguyên cho loại hoạt động “đen - bí mật” chiến tranh tâm lý. Vấn đề này coi vậy chứ khó khăn, nhân viên được gửi đến đơn vị SOG cho hoạt động này chưa được huấn luyện. Nhân viên đến từ Không quân, Lục quân, đã được huấn luyện các hoạt động chiến tranh tâm lý “trắng”, không hiểu rõ thế nào là các hoạt động bí mật. Một nỗ lực lớn cho việc huấn luyện nhân viên Hoa Kỳ đang phục vụ ở Việt Nam và  xây dựng một khóa huấn luyện ở Hoa Kỳ [bị xóa] để huấn luyện nhân viên về chiến tranh tâm lý, sau khi đã hoàn tất khóa huấn luyện trong căn cứ Fort Bragg trước khi sang Việt Nam. Chuyện này được chứng minh rất thành công, làm cho tôi xúc tiến được những chương trình chiến tranh tâm lý bí mật có hiệu qủa trong nửa phần sau thời gian phục vụ của tôi ở Việt Nam.

        Tôi được nghe thuyết trình ở Washington trước khi đi nhận đơn vị SOG, cộng đồng tình báo (các cơ quan tình báo) không được hài lòng, được hưởng lợi từ những hoạt động của đơn vị SOG. Tôi cố gắng khi đến Việt Nam, điều chỉnh lại đơn vị, mở rộng các nỗ lực trong việc thâu thập tin tức tình báo, không chỉ riêng chương trình Plowman, thủ tục lấy tin tức do các toán biệt kích Shining Brass đem về, và tất cả nhân viên (điệp viên) trở về từ khu vực địch kiểm soát, kể cả nội biên lẫn ngoại biên. Một vấn đề giới hạn về khả năng của nhân viên tình báo, cần phải có sự trợ giúp trong lãnh vực này.

        Tôi cố gắng gia tăng sự tham dự của người Việt (Nha Kỹ Thuật) trong vài khiá cạnh kỹ thuật hoạt động. Điểm này, tôi đặc biệt nói đến phi hành đoàn Việt Nam và nhân viên cơ khí bảo trì máy móc (phi đoàn 219 trực thăng H-34 Kingbee). Cũng như nhân viên bảo trì tầu bè (khinh tốc đỉnh PTF, Nasty), trong nhiều năm, việc bảo trì do toán Yểm Trợ Lưu Động (MST) đến từ Coronado, làm việc tạm thời cho đơn vị MACSOG. Tất cả mọi việc bảo trì tầu bè đều do nhân viên Hoa Kỳ trong xưởng ở Đà Nẵng. Theo tôi, tốt hơn nên để cho người Việt tham dự vào chuyện này, giảm bớt số nhân viên Hoa Kỳ. Hơn nữa, việc che dấu các hoạt động này sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta để cho hoàn toàn người Việt Nam đảm trách, chỉ cần một cố vấn Hoa Kỳ. Để áp dụng chính sách này, tôi cần có sự bảo đảm của vị tư lệnh Hải quân Việt Nam, ông ta sẽ cung cấp nhân viên có khả năng, phục vụ lâu dài để hoàn tất khóa huấn luyện. Chúng tôi lập một chương trình huấn luyện trong Subic Bay, Philippines, nơi các tầu chiến PTF được bảo trì, sửa chữa theo chu kỳ. Chúng tôi huấn luyện nhiều nhân viên bảo trì máy móc tầu bè, máy điện tử và vũ khí. Mục đích chính để cho người Việt (Hải quân VN) hoàn toàn đảm nhận việc xử dụng tầu bè (điều khiển, bảo trì máy móc, vũ khí trang bị…).

        Về chương trình “Việt Nam hóa” các phi hành đoàn Việt Nam gặp phải khó khăn, không thành công. Chương trình đã được soạn, huấn luyện sáu phi hành đoàn C-123 để thay thế phi hành đoàn người Hoa (bay những chuyến thả dù tiếp tế cho những toán biệt kích hoạt động nơi miền bắc). Hai toán phi hành đoàn đã được gửi sang Hoa Kỳ, khi họ trở về, tôi cố gắng đưa họ ra phi trường Đà Nẵng, nơi chứa phi cơ C-123, và làm việc trong chương trình ngay tức khắc.

        Một khó khăn đầu tiên là mấy phi công Việt Nam đã quen nếp sống tiện nghi trong căn cứ không quân Hoa Kỳ, cho rằng căn cứ không quân Đà Nẵng thiếu tiện nghi. Họ muốn sống ở Saigon, bay những phi vụ từ Nha Trang. Khi tôi nói chuyện vấn đề này với vị tư lệnh Không quân Việt Nam, ông ta muốn lấy mấy phi hành đoàn đó về để làm nồng cốt cho chương trình C-119 (mới) không quân Việt Nam. Tôi đồng ý với ông ta rồi ra lệnh hủy bỏ chương trình huấn luyện C-123 cho mấy phi hành đoàn còn lại. Chúng tôi phải giữ mấy phi hành đoàn người Hoa lại, lúc đó họ đã có nhiều kinh nghiệm làm việc cho đơn vị SOG.

        (Bị xóa)

        Nhiệm vụ dành cho đơn vị SOG không được hoàn toàn rõ ràng, bị hiểu sai bởi những người đứng vị trí yểm trợ hoặc chuyển tiếp các chương trình hoạt động của chúng tôi lên “cỡ tầm vóc” như tư lệnh Thái Bình Dương (CINCPAC). Qua sự sắp đặt này, các hoạt động của chúng tôi có thể thay đổi, sửa đổi và thêm nhiệm vụ mới, cùng với nhiệm vụ nguyên thủy.

        Có vài cơ quan và hoạt động (CAS – CIA, các đơn vị tình báo Lục quân, Không quân) cho rằng, họ được chấp thuận và có quyền tổ chức các hoạt động nơi miền bắc Việt Nam, không cần phối hợp với đơn vị MACSOG. Theo sự hiểu biết của tôi dựa trên những điều được nghe thuyết trình ở Washington và tham khảo với Clyde Russell (CHT đầu tiên MACSOG) cùng những nhân vật ủng hộ việc thành lập đơn vị SOG. Đơn vị SOG hoàn toàn trách nhiệm thực hiện các hoạt động bí mật nơi miền bắc Việt Nam và có nhiệm vụ phối hợp các hoạt động trong khu vực.

        (Bị xóa)

        Trên khía cạnh này, tôi tuyển mộ [tên bị xóa], một chuyên gia về chiến tranh trong vùng Đông Nam Á, làm phụ tá chính để liên lạc với những cơ quan khác đang cố gắng hoạt động tình báo cũng như các hoạt động bí mật khác trên miền bắc Việt Nam, sau đó Lào và Cambodia.

        (Bị xóa)

        … nhiệm vụ có cơ hội thành công… Tôi cảm nhận… nhưng việc thay đổi nhiệm vụ đôi khi làm cho khó khăn việc xử dụng cùng nguồn tài lực trong nhiệm vụ mới. Tôi muốn nói chuyện xẩy ra khi Hoa Kỳ bắt đầu thả bom miền bắc Việt Nam. Trước đó, các toán biệt kích là các toán hành động. Họ được tuyển mộ, huấn luyện để thực hiện các nhiệm vụ phá hoại nhắm vào các mục tiêu ở miền bắc. Họ xâm nhập vào Bắc Việt với nhiệm vụ duy nhất đó. Khi các trận thả bom miền bắc bắt đầu, không cần phải đặt mìn phá hoại một chiếc cầu hay đường rầy xe lửa. Do đó phải sửa đổi lại nhiệm vụ cho các toán biệt kích. Không may, một quyết định đưa ra, cứ để các toán biệt kích nơi miền bắc và trao nhiệm vụ mới, dò thám đường, thâu thập tin tức tình báo. Theo tôi, quyết định đó là một lỗi lầm căn bản, toán hoạt động khác toán thâu thập tin tức tình báo. Việc huấn luyện khác nhau hoàn toàn, phương pháp điều hành mỗi nhân viên khác nhau. Nhiệm vụ mới, thâu thập tin tức tình báo, tổ chức mạng lưới lấy tin tức không phù hợp với những nhân viên (quân biệt kích) đã xâm nhập vào miền bắc Việt Nam trước đó.

        Một khó khăn khác gặp phải trong lúc thi hành nhiệm vụ, những luật lệ đặt lên đơn vị SOG làm cho nhiệm vụ khó thành công. Phải cho rằng, việc thành lập đơn vị SOG bao hàm ý nghiã, Hoa Kỳ muốn thiết lập khả năng hoạt động bí mật, làm áp lực đối với chính quyền miền bắc. Yếu tố để thành lập đơn vị (bí mật) này là những hoạt động có thể chối bỏ được, chối cãi một cách thứ tự, hệ thống. Khi luật lệ đặt lên hoạt động của các toán biệt kích và sau khi đã tuyển mộ, thả thêm những toán biệt kích, điều này trái với mục đích khởi thủy việc thành lập đơn vị SOG, làm cho nhiệm vụ thêm phần khó khăn để hoàn tất.

        Có tối thiểu hai lý do (1) Chính sách mở rộng (rõ ràng) của Hoa Kỳ không chủ xướng việc lật đổ chế độ Hồ Chí Minh (lần nữa, sai lầm trong chính sách rõ ràng, bí mật của chính quyền chúng ta, theo tôi điều này sai) (2) Có điều lo ngại, một phong trào kháng chiến nổi lên trong miền bắc, có thể ra khỏi tầm tay, lúc đó (Hoa Kỳ) phải tiếp tục yểm trợ để cho lãnh tụ này sống còn (điều này nực cười, chúng ta đã có khả năng bí mật tái tiếp tế cho các toán biệt kích để họ sống còn, và chúng ta vẫn tiếp tục chối cãi việc bay ra miền bắc Việt Nam).

        Việc giới hạn (cấm) các hoạt động kháng chiến gây khó khăn cho việc tuyển mộ người có khả năng vào chương trình. Những người có khả năng đã từng làm cấp chỉ huy quân du kích chống lại người Pháp, là những người sẵn sàng trở về xây dựng lại tổ chức (kháng chiến) trong vùng rừng núi Việt Nam. Họ không muốn gia nhập để làm nhiệm vụ dễ dàng, đếm số xe Molotova di chuyển trên đường hoặc làm nhiệm vụ thâu thập tin tức tình báo nơi miền bắc Việt Nam, trừ khi, có hy vọng, lời hứa hẹn, được trở về chức vụ, quyền lực cũ, trong dân tộc của họ.

        Trở ngại thứ ba là những luật lệ giới hạn trong những hoạt động vượt biên sang Lào và Cambodia. Những giới hạn này làm cho chúng tôi áp dụng từ từ gia tăng các hoạt động. Giới hạn khởi thủy, không được cho phi cơ bay qua biên giời, tiếp theo là chiều sâu các hoạt động qua biên giới cũng bị giới hạn. Chúng tôi còn bị giới hạn số chuyến hành quân cho mỗi tuần, mỗi tháng. Mới đầu cũng không được xử dụng đơn vị Khai Thác, để khai thác tin tức tình báo do các toán biệt kích thâu thập. Những luật lệ, giới hạn làm cho địch quân biến đổi, đối phó với loại hành quân và làm suy giảm hiệu năng của chúng tôi. Theo nhận xét của tôi, lúc ban đầu địch quân chưa tổ chức chiến thuật phòng thủ (chống biệt kích) nên các chuyến hành quân của đơn vị SOG rất thành công. Kết qủa việc giới hạn làm cho địch có thời gian tổ chức chống lại chúng ta, cũng như các trận thả bom nơi miền bắc, để cho địch có thời gian phân tán các cơ quan, cơ sở quan trọng, nhận thêm vũ khí phòng không từ Nga Sô, tuyên truyền cho người dân chống đỡ, chịu đựng các trận thả bom. Địch quân hoạt động trên đất Lào cũng có cơ hội tổ chức chống lại các chuyến hành quân biệt kích mà lúc mới đầu rất thành công, hoạt động trong vùng địch.

        Trở ngại thứ tư trong việc xử dụng kỹ thuật. Chúng tôi không được xử dụng chất hóa học để làm hư hại những kho chứa gạo của địch khi khám phá. Các cấp chỉ huy trên cao theo hệ thống quân giai, kết luận, việc đó khơi mào cho chiến tranh hóa học.

        Một … vấn đề khác làm giảm hiệu năng các hoạt động của đơn vị SOG, liên quan đến việc thiếu nhân viên có khả năng cho loại hoạt động. Chúng ta không có hệ thống nhân viên mà có thể xác nhận ai là người có khả năng cho các nhiệm vụ đặc biệt, như đã được huấn luyện hay đã có kinh nghiệm trước đó, trong bảng cấp số. Những nhân viên thiếu kinh nghiệm cùng với thời gian phục vụ ngắn (tour of duty) làm giảm đi hiệu qủa rất nhiều.

        Điều cần thiết phải tổ chức các lớp định hướng (làm quen), huấn luyện cho nhân viên (đa số quân nhân LLĐB/HK) mới đến đơn vị. Những người sáng suốt sẽ học hỏi kinh nghiệm mới nhưng cũng chỉ làm việc theo lệnh, nhưng không làm được, lý do chưa có kinh nghiệm trước đó để đưa ra những ý kiến mới, quan niệm mới cho các hoạt động của đơn vị (SOG).

        Điều nêu trên cùng với thời gian phục vụ ngắn, làm cho tôi tập trung quyền quyết định về bộ chỉ huy trong nhiều trường hợp, vì lý do tôi không thể tin những ai không có kinh nghiệm, làm những quyết định quan trọng, có thể được giải quyết bởi cấp chỉ huy ở tầng thấp. Điều này đúng trong những lãnh vực có nhân viên kinh nghiệm. Một vấn đề khác, những nhân viên (không có kinh nghiệm) không đủ khả năng “cố vấn” cho quân nhân Việt Nam (NKT). Không thể nào một nhân viên thiếu khả năng cố vấn cho người Việt để cho họ gia tăng hiệu qủa. Trên thực thế, nhiều trường hợp, quân nhân Việt Nam “cố vấn” cho người Hoa Kỳ. Lúc mới đầu, người Việt Nam cũng gặp trường hợp thiếu kinh nghiệm, nhưng phục vụ lâu dài họ có nhiều kinh nghiệm hơn người Hoa Kỳ.

        Vấn đề liên quan đến việc cung cấp cho MACSOG nhân viên có kinh nghiệm là bảng cấp số (JTD). Bảng cấp số liệt kê vài chữ về nhiệm vụ, chỉ số chuyên môn, cấp bậc, quân binh chủng. Điều này chưa đủ, thiếu phần khả năng cho nhiệm vụ. Bảng cấp số phải có thêm mục điều kiện để đảm nhận công việc hoặc phần ghi chú về kinh nghiệm, được huấn luyện, để cho phòng nhân viên lựa chọn trong việc tuyển mộ.

        Một … vấn đề ảnh hưởng trực tiếp sự chỉ huy, hoạt động của đơn vị SOG là vấn đề an ninh, giới hạn một số rất ít người biết về các hoạt động, hành quân của đơn vị. Theo sự sắp đặt, một vài thủ tục tham mưu phải được thực hiện ở cơ quan MACV và CINCPAC. Những nhân vật lo chuyện này, là điểm liên lạc với cấp chỉ huy trên cao, nên được thuyết trình rõ ràng về các hoạt động của SOG. Trong hầu hết trường hợp, bạn không thể loại bỏ ông ta được, trừ khi xếp lớn của ông ta đã được báo cáo đầy đủ.

        Điểm liên lạc chính yếu cho các chuyến hành quân vượt biên qua Lào là (bị xóa). Thủ tục tương đối dễ dàng, mỗi tháng chương trình 35 (OP-35 – hành quân Prairie Fire) sẽ soạn kế hoạch hành quân vào các mục tiêu trên đất Lào cho tháng sắp tới. Thường vào ngày 15 mỗi tháng, đôi lần sau ngày 20. Tôi đích thân đến (bị xóa)

        (Bị xóa)

        … đến Udorn (căn cứ không quân Hoa Kỳ ở Thái Lan). Ở đó tôi sẽ gặp ông Shackley, trưởng cơ quan CAS (CIA điều hành) ở Vientiane.

        (Bị xóa)

        Cùng đi với tôi có ít nhất một đại diện cho chương trình 35. Để làm kế hoạch phối hợp hành quân Prairie Fire vào đất Lào, chúng tôi liên lạc với phòng 2 (J-2, thường mang cấp bậc chuẩn tướng) (cơ quan MACV) trước khi rời Saigon, để hỏi ông ta có yêu cầu đặc biệt về tin tức tình báo trao cho cơ quan CAS ở Vientiane. Buổi họp sẽ vào buổi sáng, buổi chiều trong căn cứ Udorn. Trong buổi họp, chúng tôi sẽ đưa ra một danh sách các mục tiêu dự trù. Tôi sẽ trình bầy phần phân tích những hoạt động dự định (trong các mục tiêu), và lý do chọn lựa các khu vực mục tiêu. Danh sách mục tiêu đã được gửi cho liên lạc viên cơ quan CAS ở Vientiane từ vài hôm trước, họ sẽ ghi chú, đặt câu hỏi cho những mục tiêu đặc biệt.

        (Bị xóa)

        Trong buổi họp, chúng tôi sẽ phối hợp những kế hoạch xử dụng đất Lào, bay ngang qua không phận, hay ghé lấy thêm nhiên liệu trong việc thả / bốc các toán biệt kích Timberwork (nằm vùng nơi miền bắc Việt Nam). Những buổi họp này được tổ chức hàng tháng và được thời khóa biểu trước một tháng, được biết rất hiệu qủa, giải quyết mâu thuẫn, thiết lập mối quan hệ, làm việc chuyên mộn giữa [bị xóa] và [bị xóa].

        (Bị xóa)

        Sau buổi họp, ông ta (đại diện CAS) sẽ báo cáo cho đại sứ Hoa Kỳ ở Lào về đề tài trong buổi họp, thảo luận và báo cáo cho vị đại sứ biết những quyết định liên quan đến chính sách của ông đại sứ. Chuyện này tốt đẹp, chúng tôi cảm thấy [bị xóa] tiêu biểu cho “tầm nhận thức” (view) cho cả hai CAS và SOG được tốt đẹp đối với vị đại sứ.

        Như tôi đã nói ở phần trên, không thực hiện được phong trào kháng chiến trong miền bắc, cũng có thể tạo áp lực cho địch bằng cách khác. Chương trình chiến tranh tâm lý “đen” thực hiện nơi miền bắc, cố tình cho địch biết phong trào kháng chiến (nơi miền bắc) thực sự hiện hữu. Chính quyền miền bắc cũng như chúng ta đều biết những dân tộc thiểu số sống trong vùng rừng núi Bắc Việt, chống người Việt (nói chung) đã chiếm đất vùng đồng bằng của họ, làm cuộc sống của họ khó khăn. Quân Việt Minh trong trận thế chiến thứ Hai, đã thành công tổ chức dân tộc thiểu số chống lại người Nhật. Nhiều nhóm thiểu số sau đó tham gia Việt Minh chống lại người Pháp. Dân tộc thiểu số có nhu cầu rất đơn giản để họ sống tự do không bị ràng buộc, cai trị bởi người sống dưới đồng bằng.

        Nhiều lãnh tụ dân tộc thiểu số di cư vào nam năm 1954, họ liên lạc với đối tác người Việt trong đơn vị MACSOG, muốn trở lại miền bắc, liên lạc với dân tộc của họ, mà họ biết vẫn còn trung thành. Họ chỉ làm với điều kiện, tổ chức kháng chiến đòi khu vực tự trị ở miền bắc.

        Không phải nhóm dân thiểu số nào cũng di cư vào miền nam, vài nhóm ở lại. Có nhóm sau khi căn cứ Điện Biên Phủ thất thủ di chuyển về hướng tây, sống trong khu vực núi non của nước Lào. Những nhóm này thuộc sắc dân người Mèo (Hmong), được lãnh tụ Vang Pao tuyển mộ, ông ta được chính quyền Lào công nhận, cho mang cấp bậc tướng lãnh như trong quân đội Hoàng Gia Lào. [bị xóa] Họ không chỉ huy, kiểm soát được các dân tộc thiểu số khác như người Thái Đen, Thái Đỏ và một số dân tộc khác. Các dân tộc thiểu số sống trong những khu vực dọc theo biên giới chỉ muốn người Hoa Kỳ coi như những khu vực tự trị.

        Những người lãnh tụ dân tộc thiểu số là những người của dân tộc họ. Những người này không trở về để làm công việc tầm thường như dò thám đường. Họ cũng không đề nghị những người có khả năng trong nhóm họ làm việc cho MACSOG, để dùng trong tương lai. Họ cũng không giới thiệu những người trong gia đình của họ, sợ bị bắt… Đó cũng là lý do tại sao chương trình Timberwork (các toán biệt kích nằm vùng nơi miền bắc) không thành công.

        … Ba nhóm người thiểu số làm việc cho MACSOG được phân loại ba quốc tịch: [Philippine], Trung Hoa, và được chính quyền Việt Nam xem như người Việt. Nhóm Việt Nam sẽ bao gồm nhiều sắc dân thiểu số sẽ nói ở phần sau. Trước hết, người Philippine không được trao cho các nhiệm vụ liên quan đến hoạt động. Đa số họ được xử dụng trong vai trò chuyên viên kỹ thuật (technicians) và yểm trợ. Điều này rất quan trọng cho các hoạt động được dễ dàng, chúng ta đem sang Việt Nam rất ít nhân viên yểm trợ. Họ có những khả năng về kỹ thuật mà người Việt Nam không có, như xây cất, bảo trì (nhiều loại). Họ làm việc sốt sắng. Nhóm thứ hai, người Hoa, đa số phi hành đoàn C-123. Nhóm này rất chuyên nghiệp như tôi được biết, tôi rất thích khả năng của họ.

        Nhóm cuối cùng, chính quyền công nhận họ là người Việt Nam. Nhiều trường hợp, họ không biết mình mang quốc tịch Việt Nam, tự cho họ thuộc vào một sắc dân (bộ lạc). Người Tầu ở Việt Nam được gọi là Nùng, họ là sắc dân thiểu số Tầu, vẫn giữ quốc tịch Tầu nếu chính quyền Diệm không bắt họ phải nhập quốc tịch Việt Nam.

        Khởi thủy, các toán biệt kích chúng tôi xử dụng trong hành quân Prairie Fire là người Nùng, được tuyển mộ từ sư đoàn 5 Bộ Binh VNCH, có nhiều người Nùng, gốc rễ từ miền bắc Việt Nam. Chúng tôi thường gọi họ là “Cholon Cowboys” (Cao bồi Chợ Lớn). Họ không được huấn luyện quân sự trước đó, không cảm thấy bị ràng buộc, trung thành trong nhóm. Những quân nhân Nùng đầu tiên không có khả năng chịu đựng. Trên thực tế họ là dân thành thị, đó cũng là yếu điểm của người sống trong thành phố. Số quân nhân Nùng giảm đi, được thay bằng những sắc dân thiểu số khác.

        Một cố gắng trong việc tuyển mộ, các bộ lạc người Thượng nói được tiếng điạ phương, sống trong một khu vực trên đất Lào mà chúng tôi dự định sẽ hoạt động. Thí dụ, chúng tôi tuyển mộ người Bru sống trong khu vực hướng tây bắc, tỉnh cực bắc miền nam Việt Nam, huấn luyện họ trở thành những chiến sĩ giỏi, trong các toán biệt kích (Spike team). Sau đó chúng tôi tuyển mộ thêm lập những trung đội, đại đội (Khai Thác) gồm toàn người Bru. Họ chiến đấu giỏi, trung thành, không như mấy tay Cao Bồi Chợ Lớn.

        Chúng tôi tuyển mộ người Sedang xuôi về hướng nam, xử dụng cho các hoạt động nơi phiá nam nước Lào. Những quân biệt kích Sedang được khuyến khích cũng chiến đấu giỏi như người Bru. Người Sedang là nguồn nhân lực được tuyển mộ nhiều.

        Chúng tôi cố gắng tuyển mộ những toán biệt kích hoàn toàn người Việt Nam, không có cố vấn Hoa Kỳ trong toán. Họ chiến đấu tốt cũng như các sắc dân thiểu số, nhưng có vấn đề trong việc liên lạc, chỉ huy. Người trưởng toán biệt kích không thể liên lạc, điều khiển phi cơ yểm trợ do vấn đề khả năng ngôn ngữ (tiếng Anh), và khó chỉ huy vì thiếu tự tin.

        … Chúng tôi cố gắng xử dụng phi công Việt Nam nhưng gặp phải vấn đề sau khi huấn luyện xong hai toán phi hành đoàn C-123 đã nói ở phần trên, nên tôi loại bỏ chương trình này, tiếp tục xử dụng phi công Đài Loan. Tuy nhiên chúng tôi rất thành công đối với phi hành đoàn trực thăng H-34. Những phi công này chứng minh thiện nghệ hơn phi công trực thăng Hoa Kỳ vì họ quen điạ thế, đã bay trên khu vực nhiều năm. Hơn nữa họ rất sốt sắng sẵn sàng ra đi “bốc” một toán biệt kích hơn phi công Hoa Kỳ, mặc dầu biết có quân nhân Hoa Kỳ trong toán biệt kích. Nhiều trường hợp, phi công Hoa Kỳ cho rằng quá nguy hiểm. Chưa có trường hợp nào phi công Việt Nam từ chối bay phi vụ khẩn cấp, nguy hiểm. Nhiều phi hành đoàn anh dũng hy sinh vì họ coi đó là bổn phận, nhiệm vụ cứu toán biệt kích “của họ”. Họ cũng là một phần trong đơn vị MACSOG. Họ rất can đảm và rất chuyên nghiệp.

        Việc xử dụng thủy thủ đoàn Việt Nam cho các tầu chiến PTF rất khả quan. Họ rất sốt sắng, được nhận lãnh tiền thưởng cho mỗi chuyến công tác ra hải phận miền bắc. Họ chiến đấu giỏi, có vài trường hợp chứng tỏ lãnh đạo chỉ huy tốt, quyết định những điều đúng. Có vài trường hợp, họ mất bình tĩnh lúc tình hình căng thẳng làm chìm tầu do tai nạn. Có khi đi lạc hướng bắn lầm quân bạn. Cấp chỉ huy Việt Nam, Hải quân Trung Tá Tươi nhận định vấn đề này ra lệnh trau dồi huấn luyện, khuyến kích các thủy thủ đoàn Việt Nam. Theo tôi ông ta làm việc rất tốt.

        Về các toán hành quân biển, chúng tôi chưa bao giờ thực sự có nhân viên đầy đủ khả năng, thể lực tốt, thông minh để lập toán “hành động” tốt. Những toán này chúng tôi huấn luyện phá hoại dưới nước, xâm nhập vào từ biển, bắt tù binh hay phá hoại một mục tiêu đặc biệt. Mặc dầu cố gắng cải tiến việc huấn luyện, tôi vẫn không hoàn toàn tin tưởng. Một phần vấn đề này do huấn luyện viên (cố vấn đến để huấn luyện Người Nhái Hải Quân Việt Nam) được gửi đến làm việc tạm thời (TDY). Họ chỉ ở sáu tháng rồi trở về. Có toán đang được huấn luyện, cố vấn Hoa Kỳ hết thời gian phục vụ, về nước hay thuyên chuyển đi nơi khác, toán cố vấn mới đến thay, có phương thức huấn luyện khác… Chuyện này làm xuống tinh thần, việc huấn luyện không đạt hiệu qủa. Những quân nhân SEAL nên được biệt phái cho đơn vị SOG, không chỉ tạm thời TDY.

       Hubei University of Economics

School of Information Management

vđh